Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2024

BÌNH SƠN VỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ ĐẾN 2025, ĐỊNH HƯỚNG 2030 (Nguyễn Văn Thái)

Với vị trí là vùng trọng điểm kinh tế ở phía Bắc của tỉnh Quảng Ngãi và trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, bằng những bước đi đúng đắn, Bình Sơn đã và đang phát huy lợi thế để bứt phá đi lên. Một trong những nội dung trọng tâm huyện Bình Sơn quan tâm tập trung chỉ đạo thực hiện là đẩy mạnh huy động mọi nguồn lực đầu tư nhằm sớm hoàn thiện các kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đây là nhiệm vụ đột phá mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXVII đã đề ra, cùng với đó, xác định nhiệm vụ phát triển thương mại, dịch vụ là một trong 3 nhiệm trọng tâm trong nhiệm kỳ 2020-2025.

Những năm qua, cùng với sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, ngân sách tỉnh và sự nỗ lực huy động, lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình mục tiêu, từ ngân sách huyện và thu hút, khuyến khích đầu tư xã hội phát triển hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đúng hướng, tích cực.

Thương mại, dịch vụ đã đóng vai trò quan trọng trong các ngành kinh tế của huyện, đóng góp trên 51% tổng giá trị sản xuất của huyện; cơ cấu lao động chuyển dịch từ lao động trong nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ, góp phần giải quyết việc làm, tạo sinh kế cho hàng ngàn lao động hàng năm, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đó là thành quả phấn đấu qua nhiều năm, tuy nhiên kinh tế - xã hội của huyện phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương, chưa đáp ứng sự kỳ vọng và khát vọng vương lên của cán bộ, nhân dân huyện Bình Sơn.

Trong phạm vi chủ đề “Bình Sơn với chính sách phát triển thương mại, dịch vụ đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, bài viết tập trung nghiên cứu tổng quan về phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch hiện nay của huyện Bình Sơn, đánh giá về tiềm năng, lợi thế về phát triển thương mại dịch vụ thông qua điều kiện tự nhiên, xã hội và sự tác động từ các cơ chế, chính sách của Trung ương, của tỉnh đến sự phát triển các ngành kinh tế của huyện nói chung, thương mại, dịch vụ nói riêng và những khó khăn, thách thức hiện nay; từ đó đề xuất một số định hướng, giải pháp phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch của huyện đến năm 2030.

A. Tổng quan về phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch huyện Bình Sơn

1. Khái lược về thương mại, dịch vụ, du lịch và mối quan hệ, vai trò đối với các ngành kinh tế.

- Theo Luật Thương mại năm 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

- Dịch vụ là những hoạt động lao động của con người, không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu, nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.

- Thương mại dịch vụ có vai trò thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Thúc đẩy sản xuất, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước; ngoài ra còn thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác có liên quan đến kinh tế, thúc đẩy việc phân phối các nguồn lực và mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước khác trên thế giới (thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa)

- Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, là một hiện tượng đa diện liên quan đến sự di chuyển và lưu lại ở các nơi đến bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của du khách. Là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt.

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành điểm du lịch.

- Du lịch chính là cầu nối góp phần thúc đẩy nền kinh tế, là bộ mặt của một địa phương, đất nước. Để có một sản phẩm du lịch hoàn hảo, hấp dẫn và thu hút được khách du lịch là điều không hề đơn giản, bởi du lịch có mối quan hệ sâu sắc với các ngành kinh tế phụ trợ khác, như: Thương mại, Tài chính -ngân hàng, An ninh, Hải quan, Giao thông, Vận tải, Lưu trú, Ăn uống, Lữ hành, dịch vụ giải trí, chăm sóc sức khỏe, Bưu chính, Viễn thông, các dịch vụ khác... Do vậy, có thể nói, Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp; phát triển du lịch là sự kéo theo một số ngành dịch vụ khác phát triển. Mối quan hệ này tác động qua lại với nhau, cùng đem lại lợi ích cho các ngành. Mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương có định hướng phát triển du lịch cần có sự đầu tư, nghiên cứu một cách tổng thể các ngành nhằm đón đầu cũng như nâng cao hiệu quả của các ngành dịch vụ, bởi các ngành này nằm trong chuỗi các dịch vụ tổng hợp đáp ứng nhu cầu của hoạt động du lịch.

2. Kết quả phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, thương mại, dịch vụ của huyện Bình Sơn.

Bình Sơn đã từng bước phát triển đa dạng về loại hình thương mai dịch vụ trên địa bàn các xã, thị trấn; chất lượng các loại hình thương mại - dịch vụ được nâng lên; tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng bình quân 11- 12%/năm; năm 2022 đạt 12.718 tỷ đồng, tăng 12,79% so với năm 2021; tỷ trọng ngành thương mại - dich vụ năm 2022 chiếm 51,14% trong tổng giá trị sản xuất (năm 2021 là 50,28%).

- Hạ tầng thương mại: Gắn với xây dựng nông thôn mới, hạ tầng thương mại nông thôn được quan tâm đầu tư, chỉnh trang, các chợ truyền thống được nâng cấp, cải tạo, các cửa hàng xăng dầu, cửa hàng tiện lợi, điện máy, đồ gia dụng, mini mart…được doanh nghiệp, hộ gia đình đầu tư phát triển phát triển theo hướng văn minh, tiện ích với nhiều mặt hàng đa dạng về chủng loại, chất lượng; hình thành và tạo nên kênh phân phối hàng hóa mới. Cùng với cảng biển Sa Kỳ, cảng biển nước sâu Dung Quất với 06/07 bến cảng toàn tỉnh(1) đã đưa vào hoạt động đáp ứng nhu cầu xuất, nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp và đang đầu tư, phát triển các trung tâm dịch vụ Logistics và kho hàng tại khu vực Cảng Dung Quất và dọc Quốc lộ 24C.

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------(1) Cảng: Doosan- Quang Quất, cảng PTSC, cảng Germagept, cảng tổng hợp Hào Hưng...

- Về hạ tầng giao thông, vận tải: Hệ thống đường Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, gần sân bay Chu Lai, các cảng biển ở Sa Kỳ, Dung Quất, cùng với hệ thống đường tỉnh, đường trong khu kinh tế Dung Quất, đường huyện tương đối đồng bộ, được nhựa hóa, bê tông hóa, kết nối thuận lợi cho giao lưu giữa các vùng, tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, phát triển kinh tế - xã hội, làm cho diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc và thuận lợi cho các loại hình dịch vụ vận tải khác lưu thông, phát triển.

Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và Bình Sơn có đầy đủ các đơn vị dịch vụ vận tải hàng hóa, vận tải hành khách tuyến cố định; dịch vụ vận tải hành khách theo hợp đồng và các tuyến xe buýt cố định, dịch vụ taxi hoạt động trên địa bàn, cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân và du khách.

- Dịch vụ thông tin, truyền thông,quảng bá du lịch: Các doanh nghiệp viễn thông (Mobifone, Viettel...) đầu tư 175 trạm thu phát sóng thông tin di động; dịch vụ internet băng rộng di động 3G, 4G và hạ tầng băng thông rộng ở 22 xã, thị trấn. 100% cơ quan hành chính cấp huyện có cổng thông tin thành phần và trang thông tin điện tử; 100% xã, thị trấn kết nối liên thông văn bản điện tử qua mạng Internet; đã cung cấp 100% dịch vụ hành chính công mức độ 2; dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đã thực hiện được gần 200 thủ tục hành chính. Tuyên truyền, quảng bá các cảnh quan, điểm du lịch trên App Du lịch Quảng Ngãi, báo Quảng Ngãi, Tạp chí Kinh tế Nông thôn, chương trình S Việt Nam và Đài phát thanh - Truyền hình Quảng Ngãi. Đăng tin bài quảng bá, giới thiệu sản phẩm OCOP, tham gia hội thi, hội chợ, hội thảo của các cấp, các ngành; tuyên truyền cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, chuyển đổi số đã được quan tâm triển khai thực hiện; bước đầu đã phát triển mô hình du lịch cộng đồng, trải nghiệm tại các địa danh trên địa bàn(2). Trong dịp lễ 30/4 -01/5 và Quốc khánh 2/9 năm 2022 đã thu hút khoản 22.000 lượt du khách tham quan, trải nghiệm...

- Dịch vụ khoa học công nghệ: Hỗ trợ chuyển giao, ứng dụng máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; hỗ trợ thiết kế mẫu mã, bao bì đóng gói sản phẩm, bảo hộ nhãn hiệu, xây dựng thương hiệu; "Thử nghiệm mô hình nuôi và chế biến sản phẩm vi tảo xoắn Spirulina” và khảo sát nghiên cứu, nuôi trồng thử nghiệm sản phẩm Rong Nho, Rong Mơ


- Dịch vụ Y tế và trợ giúp xã hội: Y tế xã, thị trấn đều đạt tiêu chuẩn quốc gia về Y tế. Đội ngũ y bác sĩ đạt tỷ lệ 2,38 bác sỹ/vạn dân. Trung tâm Y tế huyện được xây dựng đầy đủ các khoa, phòng chức năng theo mô hình bệnh viện và được đầu tư mua sắm và hỗ trợ nhiều trang thiết bị hiện đại. Chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên. Ngoài ra, có 28 cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân, cơ sở vật chất, thiết bị, nhân lực đáp ứng các điều kiện hoạt động theo quy định. Đối với cấp tỉnh: Đầu tư và đưa vào sử dụng Bệnh viện Sản Nhi, với quy mô 300 giường bệnh; Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh. Kêu gọi đầu tư phát triển 4 bệnh viện ngoài công lập với quy mô gần 700 giường bệnh, tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng.

- Phát triển hạ tầng đô thị: Theo kết quả đánh giá các tiêu chí đô thị trong phân khu quy hoach phát triển đô thị - công nghiệp thuộc Quy hoạch chung điều chỉnh Khu kinh tế Dung Quất và định hướng phát triển của huyện Bình Sơn đến năm 2030. Bình Sơn đã đạt 55/63 tiêu chuẩn, tiêu chí đô thị loại IV.

2) Cổng đình, Nhà sàn Thọ An; Mũi Ba Làng An- Địa đạo Đám Toái; điểm du lịch sinh thái Bầu Cá Cái; Làng Bích Họa và Gành Yến, rừng Dừa Nước; Di tich chiến thắng Vạn Tường và chứng tích thảm sát Bình Hòa...

- Về hạ tầng dịch vụ cung cấp điện, ngân hàng, bảo hiểm: Dịch vụ cung cấp điện năng phục sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt trên địa bàn huyện cơ bản đáp ứng yêu cầu của tổ chức, doanh nghiệp và người dân, 100% hộ gia đình đều sử dụng điện; ngành điện đã thực hiện quản lý, điều hành, cung cấp dịch vụ thông qua công nghệ số. Hiện có 18 chi nhánh ngân hàng thương mại, tín dụng nhân dân và 03 chi nhánh bảo hiểm đang hoạt động hiệu quả trên địa bàn huyện.

- Về hạ tầng giáo dục và đào tạo: Trên địa bàn huyện có trường Cao đẵng kỹ nghệ Dung Quất và 04/4 trường THPT đều đạt chuẩn quốc gia; số trường đạt chuẩn quốc gia ở 03 cấp bậc học của huyện là 50/67 trường, chiếm tỷ lệ 74,6%. Ngoài ra có 08 trường Mầm Non tư thục, 12 Trung tâm ngoại ngữ..., cơ sở vật chất, trang thiết bị cơ bản đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề, dạy và học theo chương trình đào tạo, giáo dục phổ thông của ngành.

- Về hạ tầng văn hóa, thể dục thể thao: Hiện nay, cấp huyện có Trung tâm văn hóa, thể thao và nhà truyền thống - thư viện; cấp xã: có 20/22 xã, thị trấn có Nhà văn hoá, sân thể thao; 16 xã, thị trấn có sân bóng đá; 05 xã, thị trấn có bể bơi, 04 xã có nhà thi đấu đa năng; 103/120 thôn, tổ dân phố có nhà văn hoá, sân thể thao..., cơ bản đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, rèn luyện thể chất của nhân dân.

- Hạ tầng kỹ thuật du lịch và phát triển các dịch vụ bổ trợ: Bước đầu đầu tư đường bê tông xi măng đến các điểm du lịch, đầu tư vẽ tranh 3D làng bích họa thôn Thanh Thủy - Gành Yến, Cổng Đình và Nhà Sàn thôn Thọ An, Kè biển xã Bình Hải; thực hiện dự án "Sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển Bình Sơn thông qua trao quyền cho cộng đồng bảo tồn các hệ sinh thái và văn hóa tri thức bản địa trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa". Các dịch vụ nghỉ dưỡng và chữa bệnh, như: Massge, spa... đã, đang hình thành phát triển, nhiều nhà hàng, cửa hàng dịch vụ ăn, uống... cũng đang phát triển đa dạng trên địa bàn huyện. Hiện có 51 cơ sở lưu trú, trong đó 10 khách sạn, 41 nhà nghỉ, với 1.013 phòng, cơ bản đáp ứng nhu cầu của khách lưu trú trong thời điểm hiện nay.

3. Giá trị sản xuất và chuyển dịch cấu kinh tế, cơ cấu lao động trên địa bàn huyện từ 2015 -2022

Đơn vị tính:Tỷ đồng


Giá trị sản xuất các ngành kinh tế

Giá trị sản xuất, tỷ trọng kinh tế các năm 1015; 2020; 2022


2015

2020

2022

Cơ cấu LĐ

2022/2015

Tăng, giảm

2022/2015


1/ Tổng GTSX (theo giá

ss 2010, tỷ đồng)

5.575,10

17.773,49

20.722,52



3,7 lần


- Ngành Nông lâm, thủy sản

1.249,43

2.804,66

2.851,47



2,28 lần


- Ngành Công nghiêp- - Xây dựng

1.797,12

6.227,83

7.273,06



4,04 lần


- Ngành Thương mại, Dịch vụ

2.528,55

8.741,00

10.598,00



4,19 lần


2/ Tỷ trọng (%)

(%)

(%)

(%)

(%)

CCLĐ


- Nông, Lâm, Th. sản

22,37

15,78

13,76

36%-42%

- 6%


- Công nghiệp - XD

32,23

35,04

35,10

29%-25%

+4%


- Thương mại, DV

45,40

49,18

51,14

35%-33%

+ 2%


+ Nguồn Văn Kiện Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2020-2025

+ Báo cáo số 285/BC-UBND, sơ kết nữa nhiệm kỳ 2020-2025

- Cùng với sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, ngân sách tỉnh và sự nỗ lực huy động, lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình mục tiêu, từ ngân sách huyện và thu hút, khuyến khích đầu tư xã hội phát triển hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đúng hướng, tích cực.


Trong giai đoạn 2015-2022, giá trị sản xuất các ngành kinh tế đã tăng 3,7 lần, trong đó: Nông lâm, thủy sản tăng 2,28 lần, Công nghiệp -XD tăng 4,04 lần và Thương mại – Dịch vụ tăng 4,19 lần; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại, dịch vụ(3). Thương mại, dịch vụ đã đóng vai trò quan trọng trong các ngành kinh tế của huyện, đóng góp trên 51% tổng giá trị sản xuất của huyện; cơ cấu lao động chuyển dịch từ lao động trong nông nghiệp sang lĩnh vực Công nghiệp, xây dựng và thương mại, dịch vụ(4); đã góp phần giải quyết việc làm, tạo sinh kế cho hàng ngàn lao động hàng năm, xóa đói, giảm nghèo; thu nhập bình quân đầu người từ 30,5 triệu đồng/ người/ năm 2015 lên 55,7 triệu đồng/người/ năm 2022; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7,8% năm 2015 xuống còn 4,06% năm 2022, tuổi thọ bình quân của người dân năm 2022 là 74 tuổi; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, diện mạo đô thị, nông thôn có nhiều đổi thay, khởi sắc.

B/ Tiềm năng và cơ hội phát triển thương mại, dịch vụ

1. Điều kiện tự nhiên, xã hội yếu tố thuận lợi phát triển thương mại, dịch vụ

Bình Sơn là huyện thuộc vùng đồng bằng ven biển, nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi. Phía Bắc giáp huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp huyện Sơn Tịnh và thành phố Quảng Ngãi, phía Tây giáp huyện Trà Bồng, phía Đông giáp biển Đông. Diện tích mặt đất tự nhiên 466,85 km2, chiếm 9,09% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ngãi; 22 đơn vị hành chính cấp xã, với dân số 182.856 người; có 02 sông chính là sông Trà Bồng và sông Sa Kỳ tạo ra hai cửa biển: Sa Cần và Sa Kỳ và hình thành các cảng biển Dung Quất và Sa Kỳ; có đường Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, gần sân bay Chu Lai, hệ thống đường tỉnh, đường huyện kết nối thông suốt, thuận lợi cho giao lưu giữa các vùng. Khu kinh tế Dung Quất với diện tích mặt đất tự nhiên 273,69 km2, chiếm khoảng 58,62% diện tích toàn huyện, bằng 5,33% so với tổng diện tích của tỉnh, với các công trình trọng điểm như: Nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất, Khu công nghiệp nặng Doosan vina, Khu liên hợp sản xuất Gang thép Hòa Phát ..., góp phần quan trọng trong việc phát triển ngành thương mại dịch vụ, thúc đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa và hình thành vùng trọng điểm phát triển kinh tế ở phía Bắc của tỉnh Quảng Ngãi và trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.

(3) Tỷ trọng ngành Nông nghiệp giảm 8,61%, từ 22,27% năm 2015 giảm còn 13,76% năm 2022; Tỷ trọng ngành CN-XD tăng 2,87%, từ 32,23% lên 35,1% và tỷ trọng ngành Thương mại, dịch vụ tăng 5,74%, từ 45,4% tăng lên 51,14%, (so sánh năm 2015 và năm 2022)

(4) Lao động trong nông nghiệp chuyển dịch sang Công ngiệp - XD 4% và Thương mại, dịch vụ 2%,



Bình Sơn là vùng đất gắn liền với nhiều địa danh văn hóa, lịch sử, khẳng định bề dày truyền thống văn hiến của đất và người Bình Sơn(5); với bờ biển dài 54km, thiên nhiên ban tặng nhiều bãi biển, vịnh đẹp(6); cùng với những địa danh lịch sử ghi đậm dấu ấn cuộc hành binh của Lê Thánh Tông và công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước(7). Hiện nay, huyện có 04 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, 16 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh và 10 di tích lịch sử văn hóa được UBND tỉnh quyết định bảo vệ. Người Bình Sơn với truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, sản xuất; kiên trường, bất khuất, anh dũng trong đấu tranh giành độc lập dân tộc; sống nghĩa tình, nặng tình làng, nghĩa xóm, đoàn kết, tương thân tương ái. Văn hóa, nghệ thuật mang bản sắc văn hóa Khu V(8), cùng các lễ hội truyền thống, dân gian mang đậm dấu ấn văn hóa địa phương(9).


Đây là nguồn tài nguyên du lịch có thể khai thác, phát triển trong thời gian đến của huyện Bình Sơn, cùng với vị trí và cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, Bình Sơn đã hội tụ điều kiện và cơ hội để giao lưu, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ, kỹ thuật; thu hút vốn đầu tư cho phát triển các ngành kinh tế, phát triển khu kinh tế và thương mại, dịch vụ, du lịch.

2. Chủ trương, cơ chế, chính sách của Trung ương, của tỉnh đối với phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch

2.1. Đối với công nghiệp, thương mại dịch vụ

Để tạo ra bước chuyển biến mới, mạnh mẽ hơn nữa, có tính đột phá trong việc phát huy vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt và khai thác có hiệu quả hơn tiềm năng, lợi thế phát triển của Vùng; đồng thời tiếp tục phát huy những kết quả, thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém, vượt qua những khó khăn, thách thức mới đang đặt ra trong phát triển vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ. Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương đã phê duyệt chiến lược, quy hoạch phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ Vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045(10).

UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi(11). Theo đó, xác định cụ thể về mục tiêu, định hướng, giải pháp phát triển thương mại, dịch vụ của tỉnh đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

2.2. Đối với chính sách phát triển du lịch



(5) Thắng cảnh An Hải Sa bàn, Ba Tân Gân (Bình Châu), Núi và chùa Thình Thình (Bình Tân Phú), Nước Nhĩ (Bình Trị); Vực bà (Bình An- Bình Minh)...;

(6) Bãi biển Khe Hai, Vịnh Nho Na, Bãi biển Lệ Thủy, Bãi biển An Sen – Châu Tân, Gành Yến, rừng ngập mặn bầu Cá Cái, rừng Dừa Nước Bình Phước...

(7) Gò Hồng, Tổng Binh, Giếng Vương, Thiên giáng Vạn Tường, Đình Thọ An, chiến khu Tuyền Tung gắn liến với phong trào Cần Vương và nghĩa quân Tây Sơn; Chiến thắng Vạn tường, Địa đạo Đám Toái, chứng tích thảm sát Bình Hòa....

(8) Dân ca khu V, hát ống, hát giao duyên, hát bả trạo, múa gươm...

(9) Lễ hội Cầu ngư, giỗ thần Nam Hải, Lễ cúng Âm linh tự, Lễ hội đua thuyền truyền thống các xã ven biển, Lễ rước hồn mẹ lúa (Tết ngã rạ) của đồng bào Cor, Thọ An...

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” và phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030(12).


Hướng đến mục tiêu phát triển du lịch đúng hướng, hiệu quả, có sức cạnh tranh nhằm tạo động lực để phát triển; Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU về đẩy mạnh phát triển du lịch, để đưa du lịch từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; UBND tỉnh ban hành Quyết định số 304/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 phê duyệt Đề án phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Mục tiêu là phấn đấu đến năm 2025, du lịch Quảng Ngãi phục hồi và phát triển, có sự đóng góp tích cực vào nền kinh tế và đưa Quảng Ngãi trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn trong khu vực duyên hải Nam Trung bộ, tạo tiền đề phát triển đột phá du lịch trong giai đoạn tiếp theo.

- Khu kinh tế Dung Quất, được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh tổng thể quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Dung Quất đến năm 2045. Theo đó, định hướng phát triển không gian, được chia thành 05 phân khu đô thị, công nghiệp, dịch vụ(13); định hướng giai đoạn 2026-2035 đô thị Bình Sơn cơ bản đạt đô thị loại III, hình thành vùng đô thị động lực phía Bắc của tỉnh và trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Cùng với đó, UBND tỉnh đã ban hành nhiều Đề án phát triển trên địa bàn (14).

Các Quyết định của Trung ương, của Tỉnh đã tạo hành lang pháp lý quan trọng về định hướng, cơ chế chính sách phát triển, quản lý toàn diện các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, phát triển không gian vùng, lãnh thổ trong ngắn hạn và dài hạn trên địa bàn Tỉnh nói chung và huyện Bình Sơn nói riêng. Cùng với kết quả, thành tựu đạt được của huyện Bình Sơn, tạo nền tảng quan trọng để huyện Bình Sơn phát triển nhanh, bền vững trong thời gian tới.

3. Khó khăn, thách thức

Bên cạnh tiềm năng, cơ hội, những yếu tố thuận lợi để Bình Sơn phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch trong thời gian tới; Bình Sơn còn những hạn chế, khó khăn, thách thức, đó là:

- Kinh tế biển, dịch vụ, du lịch chưa được khai thác hợp lý và phát huy hiệu quả. Tăng trưởng kinh tế chưa thực sự bền vững, chất lượng và năng lực cạnh tranh chưa cao. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, chưa có tính đột phá.

+ Hiệu quả hoạt động các khu kinh tế, cụm công nghiệp chưa cao, tỉ lệ lấp đầy còn thấp; các cảng biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Thiếu dự án đầu tư quy mô lớn, có tính động lực. Quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún.

(10) Quyết định số 1163/QĐ-TTg ngày 13/7/2021, Quyết định số 111/QĐ-BCT ngày 27/01/2022 của Bộ trưởng Bộ Công Thương; Nghị quyết số 168/NQ-CP về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

(11) Kế hoạch số 72/KH-UBND ngày 28/4/2022 của UBND tỉnh Quảng Ngãi.

(12) Quyết định số 2350/QĐ-TTg ngày 24/12/2014; Quyết định số 2714/QĐ-TTg ngày 03/8/2016 và Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ Tướng Chính phủ.

(13) Quyết định số 168/QĐ-TTg ngày 28/02/2023 của Thủ Tướng Chính phủ; 5 khu đô thị, công nghiệp, dịch vụ: Bắc Dung Quất, Châu Ổ- Bình Long, Nam Dung Quất, Đông Nam Dung Quất và đô thị Lý Sơn.

(14) Quyết định 72/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 thực hiện Đề án phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn KKT Dung Quất; Quyết định số 1125/QĐ-UBND ngày 30/7/2021 Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030



+ Ngành dịch vụ phát triển chưa đa dạng, chất lượng chưa cao. Cơ cấu thu ngân sách chưa bền vững. Doanh nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, tỉ suất lợi nhuận thấp. Hệ thống kết cấu hạ tầng chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, hiện đại, tính kết nối chưa cao. Liên kết phát triển các vùng trong nội tỉnh và liên tỉnh, liên vùng còn lỏng lẻo, bị động. Tốc độ đô thị hóa và chất lượng đô thị còn thấp. Dịch vụ logistics, vận tải biển tại Dung Quất chưa phát triển mạnh; chưa hình thành được doanh nghiệp chuyên vận tải hàng hóa bằng đường thủy, chưa trang bị được các tàu vận tải quy mô lớn.


- Chưa thu hút đầu tư, hình thành mạng lưới thu mua nông sản và cơ sở cung ứng, phân phối; hệ thống kho tổng hợp, chuyên dụng, kho lạnh, các loại hình trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, máy bán hàng tự động, điểm bán sản phẩm OCOP… còn hạn chế về số lượng, quy mô và chất lượng dịch vụ… Việc triển khai ứng dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm hàng hóa, nhất là sản phẩm nông nghiệp, vừa thúc đẩy việc chuẩn hóa quy trình sản xuất an toàn, đảm bảo chất lượng sản phẩm chưa được quan tâm thực hiện…

- Nhiều tài nguyên du lịch nhưng chưa được phát huy; chưa hình thành các khu, điểm du lịch được công nhận, nên chưa kết nối các tour, tuyến du lịch, còn yếu tố tự phát và rời rạc; chưa có nhà đầu tư đủ tầm đầu tư vào phát triển dịch vụ, du lịch để làm đầu tàu “kéo” ngành Dịch vụ, Du lịch phát triển. Hạ tầng lưu trú, nghỉ dưỡng, dịch vụ ẩm thực rất hạn chế, chất lượng dịch vụ chưa cao…

- Nguồn nhân lực trong lĩnh vực thương mại, dich vụ và du lịch hầu hết chưa qua đào tạo. Về đầu tư, vốn đối ứng cho phát triển thương mại dịch vụ, du lịch trong những năm qua còn hạn hẹp, chủ yếu dựa vào vốn của chương trình mục tiêu quốc gia nên không đảm bảo nguồn lực phát triển. Mặt khác, bộ phận tham mưu quản lý Nhà nước về thương mại, dịch vụ, du lịch chưa được chú trọng. Công tác xúc tiến, quảng bá thương mại dịch vụ, du lịch còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp…

C. Đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch huyện Bình Sơn trong thời gian tới.

1. Một số định hướng phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch

1.1. Về quy hoạch: Xác định công tác quy hoạch là nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, quy hoạch phải đi trước một bước, có tầm nhìn dài hạn, vừa phát huy tiềm năng, thế mạnh, vừa khắc phục hạn chế. Từ cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng Duyên hải miền Trung, quy hoạch phát triển không gian vùng, lãnh thổ trong ngắn hạn và dài hạn trên địa bàn huyện. UBND huyện cần phối hợp chặt chẽ với Ban quản lý Khu kinh tế Dung Quất & các khu công nghiệp tỉnh, các sở ngành chức năng của tỉnh sớm triển khai lập và phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/2000 đối với các phân khu đô thị, công nghiệp, dịch vụ; trong đó, tích hợp quy hoạch các khu Du lịch, điểm Du lịch … làm cơ sở thực hiện các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư tại các phân khu quy hoạch.

1.2. Định hướng phát triển thương mại, dịch vụ.

- Cảng Dung Quất là cảng tổng hợp quốc gia loại I, là nơi xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và hàng hóa cho các nhà đầu tư trong KKT Dung Quất và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, kể cả tỉnh Quảng Nam, có thế mạnh trong phát triển vận tải biển và dịch vụ logistics, do đó đề xuất Tỉnh sớm có cơ chế, chính sách xúc tiến kêu gọi đầu tư phát triển các trung tâm logistics gắn với cảng biển Dung Quất, Sa Kỳ và cảng hàng không Chu Lai; quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá tại Sa Cần, Sa Kỳ và khuyến khích đầu tư phát triển vận tải biển nhằm thúc đẩy phát triển thương mại, dịch vụ trong những năm tới.

- Tổ chức quảng bá, thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp. Xúc tiến thu hút một số nhà đầu tư, thương hiệu sản xuất nguyên phụ liệu, chế biến sản phẩm nông sản, thủy sản có uy tín, tạo hiệu ứng để các nhà đầu tư khác cùng tham gia đầu tư vào các cụm công nghiệp của huyện.

- Tiếp tục thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, hình thành và phát triển các mô hình nông nghiệp đô thị, các sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu, sản phẩm OCOP; hoàn thiện hệ thống chợ truyền thống trên cơ sở nâng cấp các chợ ở các xã, thu hút đầu tư xây dựng chợ đầu mối ở thị trấn Châu Ổ.

- Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư từ các chương trình mục tiêu quốc gia, từ ngân sách, nhà đầu tư tập trung nâng cấp, mở rộng hệ thống giao thông; nhất là kết nối thông suốt đến các khu, điểm du lịch nhằm thúc đẩy phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch của huyện.

Thu hút đầu tư các tổ hợp đô thị - dịch vụ - du lịch, nghỉ dưỡng - giải trí có quy mô lớn và chất lượng cao dọc tuyến ven biển: Khe Hai; Thanh Thủy- An Sen- Châu Tân, gắng với phát triển đô thị Vạn Tường, đô thị Dốc Sỏi; khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân đầu tư phát triển hệ thống cơ sở lưu trú, khu nghỉ dưỡng đạt chuẩn 4-5 sao, nhà hàng cao cấp.

1.3. Định hướng phát triển du lịch

Tỉnh Quảng Ngãi đã xác định phát triển mạnh 03 dòng sản phẩm du lịch chủ đạo là: Du lịch biển, đảo; du lịch văn hóa; du lịch sinh thái. Trong đó, lấy du lịch biển, đảo làm mũi nhọn, du lịch văn hóa làm trọng tâm, du lịch sinh thái làm nền tảng cho phát triển du lịch bền vững. Bình Sơn cần lựa chọn phát triển du lịch phù hợp với tiềm năng, lợi thế riêng của huyện, đó là:

- Trước tiên, cần xây dựng, triển khai quy hoạch du lịch trong Quy hoạch tỉnh Quảng Ngãi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhằm hình thành các khu du lịch biển, nghỉ dưỡng: Khu du lịch Thiên Đàng; Du du lịch biển, nghỉ dưỡng Châu Tân, Ba Tân Gân, Khu du lịch rừng ngập mặn bầu Cá Cái; kết nối, hình thành các điểm du lịch: Làng Bích Họa, Gành Yến, Giếng Vương, Nước Nhỉ, Di tích chiến thắng Vạn Tường, Địa đạo Đám Toái; Rừng Dừa Nước, Thác Vực Bà - Đình Thọ an, chiến khu Tuyền Tung.

- Phát triển sản phẩm du lịch phù hợp với tiềm năng, lợi thế của huyện:

+ Sản phẩm du lịch biển, nghỉ dưỡng: Thu hút và ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp tại Khu du lịch Thiên Đàng; khu du lịch biển Châu Tân – Ba Tân Gân. Quản lý, khai thác có hiệu quả các bãi biển Khe Hai, Gành Yến, Lệ Thủy, An Sen – Châu Tân... để phát triển du lịch đại chúng, phục vụ nhu cầu đa dạng của khách du lịch, người dân địa phương; tạo điều kiện cho người dân sinh sống trên địa bàn tham gia kinh doanh các dịch vụ tại các bãi biển này.

+ Sản phẩm du lịch văn hóa: Phát triển các sản phẩm du lịch gắn với tham quan, tìm hiểu, giáo dục, nghiên cứu về văn hóa, lịch sử, truyền thống cách mạng tại các điểm di tích, như: Di tích chiến thắng Vạn Tường, Địa đạo Đám Toái, chứng tích thảm sát Bình Hòa; Đình Thọ an - chiến khu Tuyền Tung.... kết hợp với các làng điệu dân ca khu V, hát ống, hát giao duyên, hát bả trạo, múa gươm, Lễ hội đua thuyền truyền thống các xã ven biển...,

+ Phát triển sản phẩm du lịch tâm linh gắn với chùa chùa Diệu Giác, Chùa – Núi Thình Thình. Phát triển sản phẩm du lịch gắn với các lễ hội truyền thống, dân gian mang đậm dấu ấn văn hóa địa phương, như: Lễ hội Cầu ngư, giỗ thần Nam Hải, Lễ cúng Âm linh tự, Lễ rước hồn mẹ lúa (Tết ngã rạ) của đồng bào Cor, Thọ An....

+ Sản phẩm du lịch sinh thái, trải nghiệm, du lịch cộng đồng: Phát triển sản phẩm du lịch sinh thái gắn với rừng ngập mặn Bàu Cá Cái, rừng Dừa Nước Cà Ninh và tham quan thắng cảnh thiên nhiên; trải nghiệm leo núi, cắm trại, khám phá Núi rừng cùng thác Vực Bà – Bình An.

+ Du lịch nông nghiệp, nông thôn: Khuyến khích, tạo điều kiện cho người dân nông thôn tham gia làm du lịch, kết hợp sản xuất nông nghiệp với du lịch theo mô hình OCOP, du lịch nông nghiệp, nông thôn theo mô hình homestay; phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn gắn với nghề trồng Hành, sản xuất sản phẩm vi tảo xoắn Spirulina, sản phẩm Rong Nho, Rong Mơ…du lịch làng nghề, bảo tồn, khôi phục và phát huy giá trị làng nghề truyền thống lâu đời: Làng gốm Mỹ Thiện...

+ Du lịch về đêm: Phát triển dịch vụ đêm, chú trọng hình thành, đưa vào hoạt động một số tuyến đi bộ tại Đô thị Vạn Tường và thị trấn Châu Ổ. Đặc biệt là khai thác dòng sông Trà Bồng hình thành khu vực phố đêm gắn với hoạt động các khu vui chơi, giải trí, chợ đêm ven sông và trên sông tạo điểm nhấn cho khách du lịch, mang nét đặc trưng riêng của Bình Sơn nhằm thu hút, lưu giữ du khách qua đêm.

+ Du lịch thể thao: tổ chức các giải thi đấu và hoạt động thể thao như: đua thuyền, thể thao bãi biển Khe Hai, Lệ Thủy, Châu Tân…; lặng ngắm san hô Gành Yến, Ba Tân Gân…

+ Kết hợp khuyến khích mở các tour tham quan các nhà máy công nghiệp tại Khu kinh tế Dung Quất: Cảng biển, Nhà máy Lọc hóa dầu…; đồng thời, phát triển hệ thống sản phẩm quà lưu niệm đa dạng, chất lượng, mang đặc trưng, thương hiệu của Tỉnh, của Huyện, nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm của khách du lịch và gia tăng doanh thu du lịch.

2. Đề xuất một số giải pháp phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch

2.1. Về Thương mại dịch vụ

- Trước tiên, đẩy mạnh phát triển hệ thống phân phối bán lẻ, bao gồm: chợ, trung tâm thương mại, siêu thị và cửa hàng tiện lợi trên địa bàn….Tập trung hình thành và phát triển các chuỗi cung ứng hàng hóa, trước hết vào các chuỗi cung ứng hàng nông sản thực phẩm thiết yếu của thị trường nội địa; khuyến khích và thúc đẩy các doanh nghiệp, cá nhân thực hiện và tham gia sản phẩm được dán nhãn sinh thái, sản phẩm công nghiệp nông thôn, sản phẩm OCOP và những sản phẩm đặc trưng của huyện thân thiện môi trường trong các hệ thống phân phối.

- Đẩy mạnh thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại nội địa và khuyến khích tiêu dùng nội địa. Lồng ghép các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường vào các chương trình kích cầu tiêu dùng, kết nối cung cầu, tiêu thụ nông sản thông qua các chuỗi sự kiện thường niên như: Lễ hội, phiên chợ, Hội chợ, Tuần lễ nông sản, hội nghị về xúc tiến tiêu thụ nông sản, nhằm quảng bá kết nối giữa các doanh nghiệp phân phối, đưa nông sản, nhất là đặc sản, sản phẩm tiêu biểu, sản phẩm chủ lực của huyện thâm nhập vào các kênh phân phối chính thống, hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại trong nước.

- Tăng cường đầu tư phát triển hạ tầng thương mại; quản lý, sử dụng và khai thác hạ tầng thương mại hiệu quả; thu hút đầu tư xây dựng hệ thống kho tổng hợp, chuyên dụng, kho lạnh phục vụ bình ổn thị trường; hình thành hệ thống phân phối bán lẻ, thương mại điện tử theo hướng văn minh, hiện đại...tại trung tâm thị trấn Châu Ổ và các phân khu đô thị, công nghiệp, dịch vụ theo quy hoạch.

- Triển khai Chương trình phát triển mạng lưới chợ, chuyển đổi mô hình quản lý chợ và xã hội hóa đầu tư xây dựng, khai thác chợ, có lồng ghép vào Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; phát triển mạng lưới cơ sở thu mua nông sản và cơ sở cung ứng, phân phối; phát triển và quản lý các loại hình trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, máy bán hàng tự động, điểm bán sản phẩm OCOP,...

- Tổ chức các hoạt động xúc tiến, cung cấp thông tin dự án xây dựng kết cấu hạ tầng công nghiệp, thương mại, dịch vụ và cung cấp thông tin tư vấn pháp luật liên quan đến dự án đầu tư, giúp doanh nghiệp hiểu rõ và tạo niềm tin cho doanh nghiệp khi tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn.

- Khuyến khích các ngân hàng, doanh nghiệp viễn thông cùng các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, dịch vụ triển khai giải pháp giao dịch điện tử tích hợp thanh toán trong thương mại và dịch vụ công; chú trọng phát triển các tiện ích thanh toán trên nền tảng di động, ví điện tử, mã QR code...; góp phần thúc đẩy thanh toán điện tử trong giao dịch thương mại điện tử.

- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa.

2.2. Về dịch vụ Du lịch

- Xác định du lịch là ngành kinh tế quan trọng, đóng góp tích cực đối với kinh tế - xã hội của huyện, của tỉnh; du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và tính xã hội hoá cao. Do đó, cần nâng cao nhận thức, có sự thống nhất, chung tay, vào cuộc của cả hệ thống chính trị các cấp; sự tham gia, ủng hộ và đồng thuận của các doanh nghiệp và nhân dân trong huyện.

- Ưu tiên thu hút các nhà đầu tư lớn trong nước có tiềm lực tài chính, có kinh nghiệm trong lĩnh vực du lịch đầu tư vào các khu du lịch trọng điểm đã được định hướng để trở thành khu du lịch quốc gia, khu du lịch cấp tỉnh. Khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đầu tư phát triển khu, điểm du lịch tại những nơi có tiềm năng du lịch của huyện để hình thành, phát triển và công nhận khu, điểm du lịch của tỉnh.

- Huy động có hiệu quả mọi nguồn lực để đầu tư phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch, trong đó, vốn ngân sách tập trung để đầu tư kết cấu hạ tầng, tạo động lực cho phát triển; đề xuất tỉnh có cơ chế, chính sách khai thác quỹ đất dọc 2 bên đường Hoàng Sa - Dốc Sỏi; đường Dung Quất - Sa Huỳnh và các phân khu quy hoạch đô thị, dịch vụ nhằm tạo nguồn lực đầu tư phát triển; đẩy mạnh thu hút nguồn lực từ xã hội để đầu tư các khu du lịch, tổ hợp du lịch và hạ tầng dịch vụ phục vụ du lịch như: cơ sở lưu trú - giải trí cao cấp, cơ sở kinh doanh dịch vụ nhà hàng - ăn uống, cơ sở kinh doanh thương mại - mua sắm.

Xây dựng thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quảng bá, xúc tiến du lịch; xây dựng, sản xuất ấn phẩm, vật phẩm phục vụ xúc tiến du lịch; phối hợp với các cơ quan chức năng tỉnh, các tổ chức lữ hành triển khai thực hiện xúc tiến quảng bá du lịch bằng nhiều phương thức, hình thức khác nhau nhằm hình thành, kết nối các tour du lịch nội tỉnh, liên tỉnh…

- Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp về vị trí, vai trò của du lịch. Nâng cao ý thức, trách nhiệm của toàn xã hội trong công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường; giữ gìn an ninh trật tự; xây dựng nếp sống văn minh, văn hóa ứng xử thân thiện với khách du lịch.- Kiện toàn, củng cố, nâng cao chất lượng bộ máy quản lý nhà nước cấp huyện, cấp xã về thương mại dịch vụ, du lịch, đổi mới và nâng cao vai trò trong công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành, địa phương trong việc triển khai nhiệm vụ, giải pháp về phát triển thương mại dịch vụ, du lịch.

- Nâng cao chất lượng thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ, du lịch; đảm bảo an ninh, trật tự; phòng chống gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng; an toàn thực phẩm; bảo vệ môi trường và kiểm soát giá cả thị trường trong hoạt động dịch vụ, du lịch.

- Về nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất, hộ kinh doanh ... về thương mại điện tử theo lĩnh vực kinh doanh; các kỹ năng khai thác thông tin thương mại trực tuyến; các kỹ năng tìm kiếm khách hàng trên internet, ứng dụng marketing trực tuyến; sàn giao dịch thương mại điện tử. Tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng quản lý du lịch, phổ biến chính sách phát triển du lịch bền vững; về kỹ năng phục vụ khách du lịch đối với các địa bàn phát triển du lịch cộng đồng; phát triển lực lượng thuyết minh viên là người địa phương đối với các điểm du lịch văn hoá, lịch sử, làng nghề và nâng cao nhận thức, đạo đức kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch trên địa bàn; phổ biến áp dụng bộ Quy tắc ứng xử với khách du lịch.

“Bình Sơn với chính sách phát triển thương mại, dịch vụ đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” là chủ đề rất rộng, có mối quan hệ sâu sắc với các ngành kinh tế, với truyền thống lịch sử, văn hóa vùng miền…Do vậy, bài viết mang tính chất cung cấp một phần thông tin tham khảo trong quá trình định hướng các chủ trương, chương trình, kế hoạch phát triển thương mại dịch vụ, du lịch trong thời gian đến./.

Bình Sơn, tháng 9 năm 2023



TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Nội dung bài viết có nghiên cứu, tham khảo và trích dẫn các nguồn tài liệu sau:

1. Quyết định số 3447/QĐ-BCT ngày 22/8/2016 của Bộ Công Thương phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp, thương mại Vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Quyết định số 1163/QĐ-TTg ngày 13/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược “Phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Quyết định số 111/QĐ-BCT ngày 27/01/2022 của Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành kế hoạch hành động của ngành Công Thương thực hiện Chiến lược phát triển thương mại trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 29/12/2022 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 03/11/2022 của Bộ Chính trị, về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

2. Quyết định: số 2350/QĐ-TTg ngày 24/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ, về phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; Quyết định số 2714/QĐ-TTg ngày 03/8/2016 về phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 về phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030; Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 20/01/2011 về việc phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế Dung Quất đến năm 2025 và Quyết định số 168/QĐ-TTg ngày 28/02/2023 về phê duyệt Điều chỉnh tổng thể quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2045

3. Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 22/10/2020 của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XX; Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 02/11/2021 của Hội nghị Tỉnh ủy Quảng Ngãi lần thứ V khóa XX về đẩy mạnh phát triển du lịch, để đưa du lịch từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn;

4. Kế hoạch số 72/KH-UBND ngày 28/4/2022 của UBND tỉnh triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; Quyết định số 304/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 phê duyệt Đề án phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định 72/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn KKT Dung Quất; Quyết định số 1125/QĐ-UBND ngày 30/7/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định Số: 1389/QĐ-UBND, ngày 18 /9/2020 của UBND tỉnh về phê duyệt Kế hoạch phát triển thương mại điện tử tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2021-2025...

5. TS. Nguyễn Bá Lâm (2007), Tổng quan về du lịch & phát triển du lịch bền vững, Trường Đại học Kinh doanh & Công nghệ Hà Nội.

6. GS.TS. Nguyễn Văn Đính & PGS.TS. Trần Thị Minh Hòa, Kinh tế Du lịch, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.

7. PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn & TS. Nguyễn Mạnh Hùng, “Xu hướng phát triển ngành dịch vụ trên thế giới hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển của ngành dịch vụ Việt Nam”, Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh.

8. Đinh Thị Bích Liên- Phòng Thông tin và xúc tiến thương mại – VIOIT

9. Bích Ngọc (Trích Thông tin Tài chính số 18 kỳ 2 tháng 9/2014)

10. Trần Thị Trương, Nguyễn Quốc Tuấn, "Một số vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch ở tỉnh Quảng Ngãi", (2019);

11. Văn kiện đại hội Đảng bộ huyện Bình Sơn, nhiệm kỳ 2015-2020 và nhiệm kỳ 2020-2025;

12. Địa chí huyện Bình Sơn

13. Các báo cáo: sơ kết nữa nhiệm kỳ 2020-2025, báo cáo sơ kết các Nghị quyết chuyên đề số 03-NQ/HU ngày 29/4/2021 của Huyện ủy Bình Sơn về phát triển dịch vụ trên địa bàn huyện Bình Sơn, giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 02-NQ/HU ngày 29/4/2021 của Huyện ủy Bình Sơn về phát triển kết cấu hạ tầng trên địa bàn huyện Bình Sơn giai đoạn 2021-2025;

14. Báo cáo của UBND huyện Bình Sơn về kết quả thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 02/11/2021 Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 5 khóa XX về đẩy mạnh phát triển du lịch, từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...