Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2024

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HUYỆN BÌNH SƠN THÀNH CỰC TĂNG TRƯỞNG CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI GĐ 2021-2025 (GS. TS. Võ Xuân Vinh)

I. Thực trạng tiềm năng huyện Bình Sơn
1. Giới thiệu chung

Bình Sơn là một huyện đồng bằng ven biển, nằm ở cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Địa hình của huyện khá phức tạp, có cả vùng đồng bằng, bán bình nguyên, núi cao và tiếp giáp biển Đông. Đường bờ biển cắt xẻ tạo thành nhiều vũng vịnh.

Theo Niên giám tỉnh Quảng Ngãi năm 2022, huyện Bình Sơn có diện tích tự nhiên là 466,85 km2 chiếm 9,06% diện tích toàn tỉnh, diện tích đứng thứ 2 sau TP. Quãng Ngãi tại khu vực đồng bằng của tỉnh. Huyện Bình Sơn có dân số trung bình là 182,856 người, chiếm 15% dân số và đứng thứ 2 toàn tỉnh, mật độ dân số 391,7 người/ km2. Huyện Bình Sơn có 22 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Châu Ổ (huyện lỵ) và 21 xã: Bình An, Bình Chánh, Bình Châu, Bình Chương, Bình Đông, Bình Dương, Bình Hải, Bình Hiệp, Bình Hòa, Bình Khương, Bình Long, Bình Minh, Bình Mỹ, Bình Nguyên, Bình Phước, Bình Tân Phú, Bình Thanh, Bình Thạnh, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Trung.

Quy hoạch Quảng Ngãi thời kỳ 2021-2030 định hướng 2050 mới dược thông qua gần đây, Bình Sơn dược quy hoạch thuộc hành lanng số (1) và (3) trong số 04 cấu trúc không gian phát triển tỉnh Quảng Ngãi, cụ thể:

+ (1) Hành lang kinh tế Bắc Nam: Dung Quất - TP. Quảng Ngãi - Sa Huỳnh (hành lang Bắc Nam quốc gia)

+ (3) Hành lang Lý Sơn- Dung Quất - Trà Bồng - Trà My dọc quốc lộ 24C mở rộng kết nối Trà My, và cửa khầu Nam Giang (Hành lang Đông Tây phía Bắc)

Bên cạnh đó, Bình Sơn là một trong sáu không gian kinh tế động lực tỉnh Quảng Ngãi, cụ thể: Vùng động lực công nghiệp của tỉnh (Khu vực B): Bao gồm huyện Bình Sơn (Khu kinh tế Dung Quất) và một phần huyện Trà Bồng, một phần huyện Sơn Tịnh là trọng điểm công nghiệp và dịch vụ hậu cần.

Theo báo cáo Tình hình thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 – 2022 trên địa bàn huyện Bình Sơn (2022), Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn ước thực hiện năm 2022 đạt 20,734.98 tỷ đồng, bằng 101,89% kế hoạch năm và bằng 110,94% so với năm 2021 (Chưa tính giá trị sản xuất của các Nhà máy trong Khu kinh tế Dung Quất). Về cơ cấu các ngành kinh tế: Thương mại - dịch vụ đạt 10,598 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 51,11%; công nghiệp và xây dựng đạt 7,285.51 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 35,14%; ngành nông, lâm, thủy sản đạt 2,851.47 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 13,75%.

· Về lĩnh vực Lao động- việc làm

Năm 2022, toàn huyện có số lao động trong các doanh nghiệp đang hoạt động là 25,799 người chiếm 25,05% tổng số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quãng Ngãi (103,067 người). Tổng thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp đang hoạt động là 3,059.74 tỷ đồng, chiếm 27,3% và đứng thứ 3 toàn tỉnh (11,168.00 tỷ) Thu nhập bình quân một tháng của người lao động năm 2021 là 10,75 triệu, đứng thứ 2 toàn tỉnh. Số lao động trong các cơ sở kinh tế cá thể phi nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2022 là 15,717 người.

Số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn huyện Bình Sơn tính đến năm 2022 có 563 doanh nghiệp, chiếm 11,81% số lượng doanh nghiệp toàn tỉnh Quãng Ngãi (4,767 DN) với doanh thu thuần sản xuất kinh doanh là 115.504,01 tỷ đồng, chiếm 38,77% toàn tỉnh.; lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp năm 2021 là 21.389,46 tỷ đồng, cao nhất tỉnh.

· Về lĩnh vực nông-lâm nghiệp –Thủy sản

Năm 2022, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn huyện Bình Sơn ước đạt 2,851.47 tỷ đồng, tăng 1,37% so với năm 2021, bằng 100.24% kế hoạch năm.

ü Trồng trọt

Tổng số hợp tác xã trên địa bàn huyện năm 2021 là 36, cao nhất tỉnh. Giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá so sánh 2010) năm 2022 là 1.343.710 triệu đồng.

+ Huyện có diện tích cây lương thực có hạt năm 2022 là 11,997.2 ha chiếm 14,4% toàn tỉnh (84,823.4 ha), cao nhất tỉnh Quãng Ngãi. Sản lượng cây lương thực có hạt là 70,610 tấn, cao nhất tỉnh.

+ Diện tích gieo trồng lúa cả năm trên địa bàn năm 2022 đạt 10,131. 5 ha chiếm 13,51% toàn tỉnh với sản lượng đạt 45,563 tấn, năng suất đạt 58,8 tạ/ha, đứng thứ 5 toàn tỉnh.

+ Diện tích gieo trồng khoai lang năm 2022 là 47, cao thứ 2, với sản lượng đạt 755 tấn và năng suất đạt 158,9 tạ/ha, cao nhất tỉnh.

+ Diện tích gieo trồng sắn phân theo huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh năm 2022 là 772,5 ha, sản lượng 199,55 tấn, năng suất 258,3 tạ/ha

+ Diện tích gieo trồng rau xanh năm 2022 trên địa bàn huyện là 1, 714,8 ha chiếm 5,12% tổng toàn tỉnh (13,952.2 ha), cao thứ 2 tỉnh, sản lượng đạt 31,454 tấn, năng suất đạt 53,63 tạ/ha cao hơn trung bình tỉnh, nhưng chỉ xếp thứ 4, khu vực đồng bằng tỉnh Quãng Ngãi về năng suất gieo trồng.

+ Diện tích gieo trồng mía năm 2022 đạt 73,0 ha, cao thứ 2 tỉnh, với sản lượng đạt 3,915 tấn, năng suất đạt 578 tạ/ha cao hơn trung bình tỉnh, nhưng chỉ xếp thứ 5 toàn tình về năng suất gieo trồng.

ü Chăn nuôi gia cầm-gia súc

Năm 2022, toàn huyện có số lượng trâu là 1,274 con, bò 59,208 (cao nhất tỉnh), lợn là 43,211 con chiếm 11,14% số lượng toàn tình (387,747 con), gia cầm là 1,014.9 con, chiếm 17,46% tổng số đàn gia cầm tỉnh (5,810.3 con), cao nhất tỉnh.

ü Lâm nghiệp

Tính đến năm 2022, diện tích có rừng tại huyện Bình Sơn là 9,668 ha. Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành, toàn huyện đạt 364,811triệu đồng chiếm tỷ lệ 9,56% (toàn tỉnh: 3,777,826 triệu), cao thứ 2 toàn tỉnh, chỉ xếp sau huyện Ba Tơ.

ü Thủy sản

Năm 2022, Huyện Bình Sơn có diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản là 136,52 ha. Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá hiện hành năm 2022 là 1,694,362 triệu đồng chiếm 12,7% tổng GTSX toàn tỉnh (13,331,173 triệu), đứng thứ 3 toàn tỉnh. Sản lượng đạt 36,069 tấn.

· Về lĩnh vực công nghiệp-thương mại-dịch vụ

Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ước thực hiện năm 2022 (theo giá so sánh 2010) đạt 7.285,51 tỷ đồng; so với năm 2021 tăng 12,42%. Giá trị sản xuất thương mại-dịch vụ ước thực hiện năm 2022 (tính theo giá so sánh năm 2010) đạt 10.598 tỷ đồng, so với năm 2021 tăng 12,78%. Trong những năm qua, công tác thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế được chú trọng; trong đó chú trọng phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo (điện năng lượng mặt trời), các loại hình tiểu thủ công nghiệp quy mô nhỏ ở nông thôn, chế biến nông sản, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển.



Từ thực trạng tiềm năng cơ bản nêu trên tuy chưa thể hiện một cách đầy đủ, cho thấy huyện Bình Sơn có những thời cơ thuận lợi hết sức cơ bản về vị trí địa chính trị, có Khu kinh tế Dung Quất với những kết cấu hạ tầng khá hiện đại như cảng nước sâu Dung Quất, hệ thống cảng biển có thể tiếp nhận tàu 50.000-100.000 tấn, có đường cao tốc, hệ thống đường sắt Bắc-Nam đi qua, có không gian mở tiếp giáp với Khu Kinh tế mở Chu Lai, gần sát sân bay Chu Lai. Địa hình vừa có biển, sông, núi, đồng bằng, trung du tạo sự phong phú đa dạng cho việc phát triển công nghiệp- đô thị-dịch vụ-du lịch và nông nghiệp công nghệ cao cùng với việc tập trung nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn. Có trục giao thông kết nối Tp Quảng Ngãi (tỉnh đang đầu tư thêm một trục Hoàng Sa-Dốc Sỏi), đường ven biển Dung Quất-Sa Huỳnh giúp cho việc rút ngắn không gian vận chuyển, đi lại với vùng Trung tâm tỉnh…Cùng với bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng, tinh thần hiếu học; văn hóa và con người Bình Sơn giàu lòng yêu nước, yêu quê hương, chứa đựng những tính cách nhân-nghĩa-lễ -trí-tín, những khát vọng vươn lên, đầy quyết tâm xây dựng Bình Sơn phát triển nhanh bền vững, để trở thành Thị xã. Dĩ nhiên bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cơ bản cũng không ít khó khăn, thách thức đang đặt ra cho Bình sơn trong quá trình phát triển đi lên của mình, để trở thành một cực tăng trưởng của tỉnh. Trong phạm vi nghiên cứu theo chủ đề xây dựng Bình Sơn thành cực tăng trưởng của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, tôi muốn đề xuất một số giải pháp vừa mang tính lý luận chính trị, vừa mang tính pháp lý, lại chứa đựng tính khoa học và tính thực tiễn như sau.

II. Các căn cứ đề xuất giải pháp

1. Một số văn bản gần đây của Trung ương có liên quan nhiều đến định hướng tăng trưởng phát triển của huyện

- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 03/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

- Quyết định số 168/QĐ-TTg ngày 28-02-2023 về Phê duyệt Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2045.

- Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11 tháng 5 năm 2022 về Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.

- Nghị định Số: 10/2023/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2023, Sửa đổi Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.

2. Một số văn bản địa phương

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020-2025

- Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 20/05/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XX về xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030.

- Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 20/05/2022, Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy XX về tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế biển tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2021 – 2025.

- Nghị quyết số 04 -NQ/TU ngày 18/10/2021 NQ Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 5 khóa XX về đẩy mạnh cải cách hành chính; nâng cao thứ hạng các chỉ số cải cách hành chính, hiệu quả quản trị và hành chính công, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

- Các Nghị quyết của Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi về nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, chuyển đổi số, kết cấu hạ tầng,…

- Quyết định Số: 1562/QĐ-UBND, ngày 31 tháng 12 năm 2022 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc Phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2023 của huyện Bình Sơn.

- Quyết định số 839/QĐ-UBND ngày 01/10/2018 của UBND tỉnh về Ban hành Danh mục các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh Quảng Ngãi.

- Quyết định số 918/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ngãi ngày 11/09/2023 về việc phê duyệt bổ sung các công trình, dự án vào Kế hoạch sử dụng đất năm 2023 của huyện Bình Sơn

- Các QĐ của UBND tỉnh Quảng Ngãi về quy hoạch vùng huyện, quy hoạch chung xây dựng,…

- Các Quyết định của UBND tỉnh Quảng Ngãi về phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới

- Các quyết định của UBND tỉnh Quảng Ngãi về chuyển đổi số, cải cách hành chính…

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Bình Sơn lần thứ XX nhiệm kỳ 2020-2025

- Các Nghị quyết của Huyện ủy và các Quyết định của huyện Bình Sơn về công tác xây dựng Đảng và phát triển kinh tế xã hội.

III. Nhận định tính khả thi để Bình Sơn trở thành cực tăng trưởng

Theo số liệu tính toán gần đúng của Phòng nghiệp vụ, Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi cho thấy giá trị sản xuất tính theo giá so sánh năm 2010 trên địa bàn huyện Bình Sơn trong 03 năm gần đây, (trong đó có tính gần đầy đủ giá trị sản xuất của các nhà máy trong Khu kinh tế Dung Quất) như sau (đơn vị tính tỉ đồng) :

Năm 2020 : 94.841 so với toàn tỉnh 159.811, chiếm tỉ trọng 59, 3%.

Năm 2021:105.900 so với toàn tỉnh 173.581 chiếm tỉ trọng 61%

Năm 2022: 113.419 so với toàn tỉnh 186.592 chiếm tỉ trọng 60.8%

Xét về mặt cơ cấu tính đến cuối năm 2022, các ngành kinh tế của Bình Sơn so với toàn tỉnh về ngành công nghiệp-xây dựng bằng 75,90 %, ngành dịch vụ bằng 15, 71 %, ngành nông nghiệp bằng 13,4%.

Xét về tốc độ tăng trưởng 2021/2020 bằng 11, 66% và 2022/2021 bằng 7,1%

Qua các số liệu trên cho thấy 02 vấn đề lớn như sau:

Một là, Xét về mặt tổng giá trị sản xuất trên địa bàn đến cuối năm 2022 Bình Sơn chiếm tỉ trọng xấp xỉ 61% của toàn tỉnh. Có tỉ trọng lớn này là nhờ ngành công nghiệp-xây dựng trên địa bàn huyện, (chủ yếu là công nghiệp) chiếm tỉ trọng 75,9% giá trị sản xuất công nghiệp-xây dựng toàn tỉnh. Điều này cũng dễ hiểu là phần lớn nhờ có những nhà máy sản xuất công nghiệp trong Khu kinh tế Dung Quất trên địa bàn huyện mang lại. Một số nhà máy lớn như Nhà máy lọc dầu Bình Sơn, Thép Hòa Phát-Dung Quất đang nâng cấp, mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng công nghệ tiên tiến, cho thấy khả năng tăng trưởng của Bình Sơn trong những năm đến rất mạnh để trở thành “Cực tăng trưởng”.

Hai là, Xét về mặt tốc độ tăng trưởng trong 03 năm gần nhất, cho thấy Bình Sơn có khả năng tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng bình quân chung của tỉnh. Điều này cũng góp phần cho việc thúc đẩy rõ nét hơn để trở thành ‘Cực tăng trưởng”

* Một khi công nghiệp phát triển và tăng trưởng nhanh sẽ thức đẩy dịch vụ-đô thị phát triển nhanh. Đây là một điều tất yếu. Theo lý thuyết cực tăng trưởng (Growth poles theory) thì Bình Sơn nhờ vào sự liên kết giữa các cơ sở sản xuất được bố trí tập trung trong Khu kinh tế Dung Quất, thu hút được nhiều đầu tư hơn, tập trung những nhà máy với công nghệ tiên tiến hiện đại, nhiều nhân lực có chất lượng cao, có khả năng trở thành cực tăng trưởng tạo ra động lực tăng trưởng cho nền kinh tế vùng lãnh thổ tỉnh nhờ chủ yếu vào tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ.

IV. Giải pháp cơ bản để sớm trở thành cực tăng trưởng

1. Phát triển công nghiệp, tham gia tích cực cùng các sở, ban ngành của tỉnh thực hiện chủ trương của bộ chính trị về việc “mở rộng và xây dựng trung tâm lọc, hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất”

Một là, huyện cùng với Ban QLKKTDQ và các Khu CN tỉnh, một cách chủ động, tích cực chuẩn bị hạ tầng các khu công nghiệp, khu công nghệ cao hiện đại, đồng bộ, theo quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc nâng cấp mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, thu hút các dự án về lọc, hóa dầu, năng lượng quốc gia ….

Hai là, huyện Bình Sơn cần trao đổi với Ban QLKKTDQ xác định có trọng tâm, trọng điểm các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, lắp ráp các sản phẩm công nghệ cao, điện tử, sản xuất phần mềm ứng dụng, xe hơi, xe máy, công nghệ thông tin, công nghiệp chế biến sâu các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ phục vụ các ngành công nghiệp, nông nghiệp, các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học và dược phẩm, cảm biến và các sản phẩm điện tử dành cho ngành công nghiệp ô-tô…theo Đề án phát triển công nghiệp của tỉnh để ưu tiên trong thực hiện thu hút đầu tư nhằm tạo động lực cho phát triển kinh tế và tăng trưởng mạnh.

Ba là, huyện Bình Sơn làm tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đối với tất cả những dự án quan trọng trên địa bàn, cùng với Ban QLKKTDQ, các sở ban ngành tỉnh và doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ đầu tư phát triển hạ tầng logistics, các công trình, dự án giao thông kết nối các khu công nghiệp, hạ tầng cảng thủy nội địa,... tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận các dịch vụ, cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Bốn là, Huyện tham gia tích cực cùng Ban QLKKTDQ trong việc xây dựng các khu công nghiệp đa ngành gắn với khu đô thị - dịch vụ hỗ trợ: Quy hoạch chi tiết nhằm cụ thể hóa đồ án Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Dung Quất đến năm 2045; xây dựng Khu công nghiệp, đô thị, dịch vụ Bình Thanh trở thành một trong những khu công nghiệp hiện đại, kiểu mẫu của Khu kinh tế Dung Quất, là khu vực phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ Khu kinh tế Dung Quất, phát triển công nghiệp đa ngành, công nghiệp công nghệ cao thân thiện môi trường, gắn với khu đô thị - dịch vụ hỗ trợ; mở rộng khu VSIP về phía Bình Sơn.

Năm là, huyện chủ động vừa phát triển mở rộng vừa xây dựng mới những cụm công nghiệp, vừa mang tính độc lập vừa mang tính phục vụ cho Khu KTDQ, tận dụng những lợi thế và cơ hội tạo ra từ các Nhà máy lớn của Khu kinh tế Dung Quất.

Sáu là, Huyện chủ động việc đẩy mạnh liên kết với các cơ sở giáo dục, đào tạo nghề trong và ngoài tỉnh để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và quảng bá tới các nhà đầu tư lớn về cơ hội và các ưu đãi để thu hút đầu tư và giữ chân được những tập đoàn công nghệ. Cùng Ban QLKKTDQ, quan tâm nâng cấp và thu hút đầu tư các dịch vụ chất lượng cao về y tế, giáo dục; đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà ở chuyên gia theo quy hoạch chung của huyện gắn với việc đầu tư xây dựng những khu đô thị-dịch vụ nhằm góp phần tạo nên sức hút trong môi trường đầu tư của huyện với tinh thần phát triển hài hòa, bền vững.

2. Phát triển dịch vụ gắn với xây dựng phát triển đô thị

a. Phát triển dịch ngành dịch vụ lưu trú, nhà hàng, mua sắm

Huyện Bình Sơn sở hữu bờ biển đẹp, nhiều di tích văn hóa, nhiều hệ sinh thái tự nhiên nằm gần và trong Khu Kinh tế Dung Quất, giáp với Khu kinh tế Chu Lai và sân bay Chu Lai (đang được nâng cấp thành sân bay quốc tế), tạo môi trường điều kiện thuận lợi, nếu cùng với chính sách tối ưu đặc biệt chắc chắn sẽ tạo cơ hội thu hút các nhà đầu tư chiến lược như SunGroup, Vingroup, Novaland… tham gia mạnh mẽ vào đầu tư, phát triển hạ tầng du lịch, lưu trú và mua sắm.

Nghị định số 10/2023/NĐ-CP của Chính phủ vừa ban hành, trong đó quy định cấp sổ hồng cho condotel, officetel, biệt thự du lịch nghỉ dưỡng, được đánh giá là sẽ tháo gỡ điểm nghẽn lớn trong phát triển các loại hình bất động sản nghỉ dưỡng trong thời gian tới. Đây là hành lang pháp lý vô cùng quan trọng để thu hút các các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức đầu tư vào bất động sản du lịch, dịch vụ thương mại du lịch.

Huyện Bình Sơn cần xác định ưu tiên các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng như: trung tâm mua sắm hiện đại, các khu thương mại phức hợp, trung tâm dịch vụ vui chơi giải trí, nhà hàng khách sạn đạt chuẩn 3 sao trở lên…từ đó cùng Ban QLKKTDQ kêu gọi thu hút đầu tư theo cơ chế đặc thù của Khu kinh tế Dung Quốc.

b. Phát triển dịch vụ tài chính-ngân hàng

Huyện cần phối hợp với Ban QLKKTDQ rà soát lại các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng trên địa bàn từ đó kêu gọi các tổ chức trung gian tài chính cung cấp thêm nhiều dịch vụ. Trong đó, cần ưu tiên quy hoạch phát triển các dịch vụ tải chính mang tầm quốc tế phù hợp, cam kết về mở cửa thị trường đi kèm với cơ chế minh bạch hóa dịch vụ quản lý danh mục đầu tư, cung cấp và lưu chuyển thông tin tài chính, các dịch vụ chứng khoản phụ trợ; tăng cường minh bạch hoá và bảo hộ đầu tư, giải quyết tranh chấp minh bạch, rõ rằng và có hiệu quả cho các doanh nghiệp hiện tại và làm cơ sở vững chắc để kêu gọi thu hút các FDI vào đầu tư trên địa bàn.

Về tầm chiến lược, khi phát triển lên thị xã và trở thành cực tăng trưởng, Huyện cần đề xuất tỉnh có chính sách hỗ trợ, hỗ trợ đầu tư cơ sơ hạ tầng công giúp các trung gian tài chính để phát triển các sản phẩm tài chính cá nhân, doanh nghiệp trên nền tảng công nghệ số nhằm thúc đẩy thị trường ngân hàng bán lẻ phát triển hiệu quả hơn, trên cơ sở đó góp phần đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, tạo sự thay đổi trong hành vi của người dân trên địa bàn.

Các tổ chức tín dụng khi đầu tư trên dịa bàn huyện cần cam kết tập trung phát triển sản phẩm, dịch vụ thanh toán cung cấp cho người dân, doanh nghiệp và đơn vị nhà nước theo hướng đa kênh, đa tiện ích sử dụng trên nền tảng công nghệ số, tích hợp ứng dụng công nghệ thanh toán hiện đại trong thanh toán liên ngân hàng, thanh toán song phương, bù trừ điện tử qua hệ thống thanh toán tập trung, hệ thống thẻ, hệ thống ngân hàng tự động.

c. Phát triển dịch vụ mua bán lẻ, thương mại điện tử gắn với chuyển đổi số

Phát triển đồng bộ hệ thống phân phối bán buôn, bán lẻ, trong đó cần chú trọng phát triển thương mại điện tử và xây dựng thương hiệu hàng hoá OCOP của huyện. Tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất, phân phối, các hiệp hội và cơ quan quản lý để liên kết thị trường và tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước.

Hiện nay, sự bùng nổ của các sàn thương mại điện tử, các ngành hàng online đã và đang đặt ra cơ hội và thách thức, do đó huyện Bình Sơn cần phải tập trung vào các dự án chuyển đổi số một cách toàn diện. Từ cơ sở là nền tảng số hóa sẽ giúp các ngành dịch vụ nói riêng và cả kinh tế huyện nói chung gia tăng năng suất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế theo hướng bền vững.

d. Phát triển dịch vụ logistics, cảng biển

Huyện cần phối hợp với Ban QLKKTDQ sớm xây dựng thể chế thúc đẩy hình thành cơ chế hợp tác liên vùng trong lĩnh vực cảng, logistic, dịch vụ khu công nghiệp, xử lý chất thải, và bảo vệ nguồn nước…

Với vị trí đặc thù giáp với Khu kinh tế Chu Lai, một trong những vùng kinh tế trọng điểm của Miền Trung, Bình Sơn có nhiều cơ hội để liên kết phát triển dịch vụ logistics, cung cấp các dịch vụ logistics cảng biển cho Khu kinh tế Chu Lai trên cơ sở tối ưu hóa công năng cảng các cảng biển Dung Quốc (Bến cảng Tổng hợp Hào Hưng, Bến cảng Doosan - Dung Quất, Bến cảng PTSC Quảng Ngãi, Bến cảng Germadept, Bến xuất sản phẩm Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Bến cảng Hòa Phát, Bến cảng Sa Kỳ)

e. Phát triển dịch vụ y tế

Một là, huyện cần cải tạo nâng cấp hoạt động phòng khám hiện tại,các cơ sở y tế cấp xã… đảm bảo công tác khám chữa bệnh cho người dân trên địa bàn.

Hai là, huyện cần chủ động mời gọi, tạo cơ chế chính sách để các doanh nghiệp đủ tiềm lực đầu tư xã hội hóa nhằm tận dụng hiệu quả cơ sở vật chất hiện có, hướng đến xây dựng bện viện đa khoa có quy mô hiện đại, cung cấp các dịch vụ y tế chuyên sâu, đáp ứng công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn nói chung các khu công nghiệp nói riêng, đặc biệt là khu kinh tế Dung Quất.

Ba là, trên cơ sở vị trí địa lý thuận lợi, huyện cần liên kết với các địa phương, các doanh nghiệp trong các Khu kinh tế Dung Quất đầu tư xây dựng bệnh viện đa khoa mang tầm Khu vực và chuẩn quốc tế, gắn với phát triển du lịch, bất động sản dịch… tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệp FDI đầu tư vào huyện và các vùng lân cận.

Cuối cùng, huyện cần xác định chủ trương phát triển dịch vụ y tế trên cơ sở sự kết hợp giữa nhà nước và thị trường để vừa đảm bảo được tính công bằng đối với tiếp cận dịch vụ y tế của mọi người dân, đồng thời tạo được động lực cho các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ y tế tự hoàn thiện mình, cạnh tranh với nhau để nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí khám chữa bệnh và người dân được tự do lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của mình một cách tiện lợi nhất.

f. Phát triển dịch vụ giáo dục và đào tào nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của huyện Bình Sơn nói riêng và của tỉnh nói chung. Để Bình Sơn có thể phát triển bền vững và sớm trở thành cực tăng trưởng phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi, một số giải pháp liên quan được đề xuất:

Một là, Huyện cần ra soát loại lực lượng lao động, đánh giá và xếp loại năng lực cho toàn bộ lao động trong khu vực nhà nước, khu vực ngoài nhà nước làm cơ sở đề ra những cơ chế, chính sách phù hợp.

Hai là, Huyện cần xác định việc đào tạo lại (đào tạo khi đã tuyển dụng) là yếu tố then chốt, quyết định việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả hoạt động của các đơn vị, doanh nghiệp. Việc liên kết với các doanh nghiệp đầu tư cho công tác đào tạo lại là cần kíp.

Bà là, huyện cần có cơ chế, chính sách nhằm thu hút nguồn nhân lực lượng chất lượng cao đến làm việc và sinh sống tại Bình Sơn. Trong đó, mời gọi các con em trên địa bàn huyện đi làm ở các địa phương khác trở về quê hương làm việc.

Cuối cùng, huyện cần phối hợp, hỗ trợ các các doanh nghiệp trên địa bàn tổng hợp các yêu cầu của doanh nghiệp về chất lượng nguồn nhân lực từ đó kiến nghị với các cơ sở đào tạo trên địa bàn huyện, trong tỉnh có những khóa đào tạo, chương trình đào tạo phù hợp, có sự tham gia đào tạo từ cac doanh nghiệp nhằm tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội.

g. Phát triển dịch vụ bưu chính, viễn thông

Phát triển mạnh dịch vụ thông tin truyền thông đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thực hiện cơ chế thuê dịch vụ công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý, kinh doanh, theo dõi hành trình của bưu gửi; giảm bớt chi phí, thời gian trong toàn bộ quy trình sản xuất kinh doanh. Mở rộng mạng lưới, phát triển bưu chính trên nền tảng thương mại điện tử và kinh tế số. Tăng cường công tác bảo đảm an toàn, an ninh trong cung ứng dịch vụ bưu chính. Mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa các tổ chức, doanh nghiệp, tích cực hội nhập quốc tế.

3. Phát triển du lịch, chú trọng du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp-nông thôn, du lịch cộng đồng

Huyện Bình Sơn với đường bờ biển dài khoảng 54km không chỉ có những bờ biển đẹp (bãi biển Châu Tân, xã Bình Châu ; bãi biển Khe Hai ở xã Bình Thạnh; vịnh Dung Quất (vũng Quýt) nằm ở 2 xã Bình Thạnh và Bình Thuận; thắng cảnh Ba Làng An), mà còn rất nhiều tài nguyên du lịch khác: rừng ngập mặn bàu Cá Cái, xã Bình Thuận, nhiều di sản thiên nhiên độc đáo (thắng cảnh Gành Yến, ở thôn Thanh Thủy, xã Bình Hải), thắng cảnh Gành Yến nằm bên làng chài thôn Thanh Thủy, xã Bình Hải và hàng chục di tích lịch sử và giá trị văn hóa truyền thống đồng bào Cor tại thôn Thọ An, xã Bình An; khai thác và bảo tồn văn hóa nghệ thuật dân ca như hát ống, hát giao duyên, hát bả trạo, nhất là phát huy dân ca bài chòi tại địa phương...Đây là tiềm năng để Bình Sơn phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn phát huy giá trị văn hóa bản địa.

Huyện Bình Sơn hiện có 29 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh được xếp hạng di tích. Trong đó, có 4 di tích cấp quốc gia, 15 di tích cấp tỉnh. Thực hiện Nghị quyết 05 của Tỉnh ủy khóa XX về phát triển du lịch, huyện Bình Sơn đã gắn phát triển du lịch, dịch vụ với phát triển kinh tế - xã hội, nhằm giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của người dân và xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ 2020 - 2025. Các giải pháp cụ thể:

Một là, huyện Bình Sơn cần xây dựng kế hoạch thực hiện, trong đó tập trung các nhóm nhiệm vụ, giải pháp về khai thác, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế cảnh quan thiên nhiên, các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, lợi thế ở từng địa phương để đẩy xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, tạo lợi thế cạnh tranh trong phát triển du lịch trong tỉnh nó riêng và các địa phương khác ngoài tỉnh.

Hai là, huyện Bình Sơn cần tăng cường cần sử dụng có hiệu quả các công cụ truyền thông để truyền tải thông tin đến du khách như báo, tạp chí, truyền hình; Đẩy mạnh thông tin trên các công cụ tìm kiếm Google, YouTube, bản đồ Google; Vận dụng chiến dịch quảng cáo qua mạng xã hội (Zalo, Facebook…) và các công nghệ số hiện đại nhằm xúc tiến, quảng bá hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng bền vững đến đông đảo du khách.

Ba là, huyện Bình Sơn tập trung liên kết vùng để phát triển du lịch cộng đồng gắn kết giữa làng tranh bích họa Gành Yến và các điểm trải nghiệm trưng bày đồ cổ và gốm Mỹ Thiện trên tuyến du lịch đến Lý Sơn nhằm kết nối những giá trị tương đồng và cảnh quan và địa chất giữa hai huyện Bình Sơn – Lý Sơn.

Bốn là, huyện Bình Sơn cần xác định mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng nhằm tranh thủ sự tham gia của cộng đồng vào việc quy hoạch không gian biển và ven bờ góp phần hài hòa và gắn kết bảo tồn đa dạng sinh học, văn hóa bản địa, sinh kế cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội. Phát triển du lịch sinh thái gắn với sản phẩm OCOP trên địa bàn. Cụ thể là Bình Sơn phải quan tâm vừa triển khai vừa phát huy nhân rộng cách làm từ 02 dự án được tài trợ từ UNDP/ GEF SGP thông qua trao quyền cho cộng đồng cùng quản lý, hướng đến mục tiêu nâng cao nhận thức để người dân trở thành người thầy, làm chủ thật sự chính trên tài nguyên, hệ sinh thái Bình Sơn.

Năm là, huyện Bình Sơn cần có chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch tại địa phương bao gồm đội ngũ cán bộ du lịch chuyên trách và lực lượng lao động trong lĩnh vực du lịch.

Sáu là, huyện cần chủ động tiếp xúc, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư chiến lược, tạo điều kiện hỗ trợ thu hút các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài tỉnh đầu tư; đẩy mạnh công tác kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp-nông thôn gắn với tiêu thụ sản phẩm OCOP, hỗ trợ nhà đầu tư triển khai có hiệu quả các dự án đăng ký nhằm khai thác tối đa các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất, thúc đẩy du lịch huyện phát triển lên một tầm cao mới và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân.

Bảy là, Huyện cần tăng cường rà soát công tác bảo tồn các di tích văn hóa lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống và môi trường cảnh quan thiên nhiên hiện có trên địa bàn. Đây là nguồn lực tài nguyên quan trọng nhất để phát triển du lịch; là cơ sở để phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, bền vững của huyện Bình Sơn.

4. Xây dựng, phát triển đô thị, từng bước phát triển đô thị thông minh trở thành thị xã.

Huyện Bình Sơn đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, do đó trong quá trình phát triển, Bình Sơn cần khắc phục những hạn chế của một số vùng/địa phương đã thành cực tăng trưởng kinh tế của tỉnh/Thành phố tại Việt Nam cụ thể:

Một là, Bình Sơn cần xác định phát triển địa phương theo hướng bền vững về kinh tế, văn hóa-xã hội và môi trường. Để thực hiện, huyện Bình Sơn cần có những nghiên cứu, lựa chọn và chuyển hướng phát triển nhằm đảm bảo đô thị có tính kết nối, bản sắc; giải quyết các vấn nạn đô thị như ô nhiễm môi trường, ngập úng, tắc nghẽn giao thông trong tương lai nếu có.

Hai là, trong công tác quy hoạch đô thị cần nhấn mạnh về tính đồng bộ, tính tích hợp; nâng cao chất lượng công tác dự báo quy hoạch, đặc biệt là tầm nhìn quy hoạch dài hạn gắn chặc với các với nguồn lực thực hiện hiện có trên địa bàn.

Ba là, huyện Bình Sơn cần kêu gọi xã hội hóa về phát triển đô thị có sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và người dân để đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị trong giai đoạn mới.

Bốn là, xây dựng, phát triển đô thị thông minh là phương thức quan trọng để tận dụng hiệu quả những cơ hội, thành quả của Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), phù hợp với xu hướng quốc tế và hướng tới phát triển bền vững - là sự lựa chọn chính xác nhất với Bình Sơn trong bối cảnh hiện nay. Huyện Bình Sơn cần phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông đô thị, nâng cao mức độ phổ cập sử dụng, kết nối các thiết bị đầu cuối thông minh, Đẩy mạnh việc triển khai ứng dụng thương mại điện tử, thông báo, cho phép sử dụng thanh toán trực tuyến các dịch vụ của cư dân; hình thành các tiện ích dịch vụ công cộng thông minh nhanh gọn, thuận tiện, tiện lợi cho người dân;

Năm là, Huyện ưu tiên đầu tư, phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị thông minh, trước mắt ưu tiên tập trung đầu tư các lĩnh vực sau: Phát triển chiếu sáng đô thị thông minh; phát triển giao thông thông minh, hệ thống điều khiển hướng dẫn cho người tham gia giao thông, chỉ huy kiểm soát và xử lý ứng cứu tình huống khẩn cấp; phát triển hệ thống cấp thoát nước thông minh, đảm bảo khả năng kiểm soát, xử lý ô nhiễm và an toàn chất lượng; phát triển hệ thống thu gom và xử lý rác thải đô thị thông minh; phát triển lưới điện thông minh; phát triển hệ thống cảnh báo rủi ro, thiên tai.

Sáu là, huyện Bình Sơn cần có chinh sách ưu tiên sử dụng các vật liệu xây dựng, trang thiết bị công trình, trang thiết bị tiện nghi đô thị, công nghệ xây dựng tiên tiến sử dụng tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường trong quá trình thực hiện các dự án xây dựng đầu tư công cũng như là người dân trên toàn địa bàn.

Bảy là, huyện Bình Sơn cần đẩy mạnh công tác tuyên tuyền cho người dân về các cổng thông dịch vụ trực tuyến quốc gia, bộ ngành và địa phương về dịch vụ hành chính công dân và doanh nghiệp với các lĩnh vực: giáo dục, đất đai nhà ở, điện nước, đào tạo trực tuyến, dịch vụ truy vấn cơ hội việc làm, y tế chăm sóc sức khỏe, văn hóa đô thị, vui chơi giải trí và các tiện ích khác.

5. Phát triển nông nghiệp, chú trọng nông nghiệp công nghệ cao

Bên cạnh phát triển nâng chất lượng nông nghiệp truyền thống, Bình Sơn cần quan tâm phát triển nông nghiệp công nghệ cao là một nền nông nghiệp ứng dụng hợp lý những công nghệ mới, tiên tiến vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội mà trực tiếp là cho Khu KTDQ, các đô thị tập trung trên địa bàn và bảo đảm sự phát triển nông nghiệp bền vững.

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đổi mới khoa học công nghệ được coi là một trong những giải pháp then chốt, trọng tâm. Ứng dụng khoa học công nghệ giải quyết các thách thức trong phát triển nông nghiệp bằng các ưu việt của các công nghệ như: Công nghệ sinh học, công nghệ nhà kính, công nghệ tưới nhỏ giọt, công nghệ cảm biến, tự động hóa, Internet vạn vật (IoT)… giúp sản xuất nông nghiệp tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, hạ giá thành và nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường. Mặt khác, nông nghiệp công nghệ cao giúp nông dân chủ động trong sản xuất, khắc phục được tính mùa vụ, giảm sự lệ thuộc vào thời tiết, khí hậu, đáp ứng nhu cầu thị trường về chất lượng nông sản.

ü Đối với ngành trồng trọt

Huyện Bình Sơn cần xác định được nhu cầu thị trường; trên cơ sở đó, ưu tiên phát triển các loại sản phẩm chủ lực của tỉnh theo Quyết định số 839/QĐ-UBND ngày 01/10/2018 của UBND tỉnh về Ban hành Danh mục các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt chú trọng đầu tư cho các sản phẩm hiện đang có ưu thế trên địa bàn Huyện như: rau quả thực phẩm an toàn, phát triển chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm, thủy sản theo hướng tập trung, có quy mô lớn trên cơ sở ứng dụng các tiến bộ mới về công nghệ, sinh học nhằm đảm bảo năng suất, chất lượng, kiểm soát được dịch bệnh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Riêng đối với sản xuất nông nghiệp hữu cơ, đây là sản phẩm có quy định về tiêu chuẩn rất khắc khe, khó đáp ứng cho nhiều sản phẩm. Do đó, trước mắt huyên chỉ nên xem xét phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch an toàn ở các vùng có đủ điều kiện, ưu tiên cho các cây trồng, vật nuôi đặc sản của tỉnh có giá trị kinh tế cao và có khả năng thích ứng tốt như: Tỏi Lý Sơn, hành tím Bình Hải, heo Ky, cây dược liệu dưới tán rừng… gắn với xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm thông qua phát triển du lịch nông nghiệp sinh thái trên từng vùng.

Huyện cần khuyến khích các các nhân/tổ chức, doanh nghiệp trong ngành trồng trọt áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP, GlobleGAP) để mang lại sản phẩm an toàn, chất lượng tốt cho thị trường tiêu dùng và đạt năng suất cao. Bên cạnh đó, việc mở rộng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất cùng với kết quả nghiên cứu, đánh giá, triển khai mô hình cánh đồng mẫu lớn đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị.

Huyện cần rà soát việc thực hiện các chính sách khuyến nông, hỗ trợ vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả; tiếp tục hoàn thiện hạ tầng nông nghiệp để hình thành vùng sản xuất nông nghiệp quy mô lớn tạo điều kiện và nâng cao năng lực thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh.

ü Đối với ngành chăn nuôi

Lĩnh vực chăn nuôi đã có sự chuyển biến rõ nét về tổ chức sản xuất, chăn nuôi trang trại, gia trại, tập trung theo chuỗi khép kín, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao; nhiều mô hình chăn nuôi hữu cơ đã hình thành và đang được phổ biến, nhân rộng.

Lĩnh vực chăn nuôi đã có sự chuyển biến rõ nét về tổ chức sản xuất, chăn nuôi trang trại, gia trại, tập trung theo chuỗi khép kín, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao; nhiều mô hình chăn nuôi hữu cơ đã hình thành và đang được phổ biến, nhân rộng. Công nghệ chế biến thủy sản ngày càng được đầu tư hiện đại để đáp ứng các yêu cầu của thị trường quốc tế.

ü Đối với ngành thủy sản

Đối với huyện Bình Sơn cần chú trọng nâng cao chất lượng (không thiên về số lượng) nghề đánh cá, thực hiện các giải pháp gở thẻ vàng IUU, làm tốt công tác bảo vệ hệ sinh thái ven bờ, nhất là nguồn lợi thủy sản. Nghiên cứu nuôi thủy sản lồng bè ở những vùng biển có điều kiện phù hợp.

ü Đối với ngành lâm nghiệp

Dành nhiều nguồn lực tạo điều kiện cho nghiên cứu, chuyên giao công nghệ năng suất chất lượng nông sản; thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng lâu dài cho người sử dụng, tạo điều kiện cho tích tụ và tập trung đất lâm nghiệp theo nguyên tắc thị trường.

Huyện cần nghiên cứu và tham gia vào chuỗi giá trị chứng chỉ carbon đối với lĩnh lâm nghiệp nói riêng và việc hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên địa bàn trong chuỗi giá trị nông lâm sản bền vững toàn cầu thông qua hệ thống chứng nhận và thị trường tín chỉ carbon.

6. Phát triển kinh tế tuần hoàn

Tỉnh Quảng Ngãi, trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XX, tại mục 4.3. Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên; bảo vệ môi trường; chủ động ứng phó với thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, khẳng định: Từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, xem rác thải là tài nguyên.

Đề xuất các giải pháp tiếp cận kinh tế tuần hoàn tại huyện Bình Sơn.

Một là, huyện Bình Sơn truyền thông, nâng cao nhận thức về kinh tế tuần hoàn, yêu cầu, chủ trương, định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Huyện cần xây dựng đội ngũ nhân sự, chuyên sâu về phát triển kinh tế tuần hoàn, tham mưu cho các cấp lãnh đạo huyện về kế hoạch, mô hình, giải pháp phát triển nền kinh tế tuần hoàn tại địa phương. Đội ngũ nhân sự chuyên trách, được trang bị các điều kiện như pháp lý, cơ chế, thời gian để nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế tuần hoàn. Chính đội ngũ này sẽ tham mưu kịp thời, chính xác, hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế tuần hoàn của huyện. Ngoài ra, công tác tuyên tuyền thay đổi nhận thức của người dân và cộng đồng về xây dựng lối sống xanh; tạo lập văn hóa sản xuất và tiêu dùng bền vững trong bối cảnh hội nhập thế giới là điều rất quan trọng.

Hai là, huyện Bình Sơn cần đặt nhiệm vụ phát triển nền kinh tế tuần hoàn ở vị trí trung tâm và lồng ghép các yêu cầu về phát triển kinh tế tuần hoàn vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong Đề án Quy hoạch huyện thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây chính là bước ngoặc lớn của tỉnh, đặt nền móng vững chắc cho huyện Bình Sơn đạt mục tiêu phát triển bền vững trong tương lai.

Ba là, huyện Bình Sơn cần sớm ban hành danh mục các tiêu chí, tiêu chuẩn về kinh tế tuần hoàn dựa trên các văn bản pháp luật hiền hành và phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của huyện Bình Sơn, nhằm tạo ra các khuôn khổ, hướng dẫn, công cụ hỗ trợ và các yêu cầu cho việc thực hiện các hoạt động của các tổ chức liên quan, nhằm tối đa hóa sự đóng góp cho mục tiêu phát triển bền vững và phát triển kinh tế tuần hoàn tại huyện Bình Sơn trong giai đoạn tới.

Bốn là, việc phát triển kinh tế tuần hoàn cần dựa trên các ngành, lĩnh vực và địa phương đã và đang triển khai mô hình kinh tế gần với cách tiếp cận kinh tế tuần hoàn, từ đó bổ sung hoàn thiện và có sự lựa chọn phù hợp cho từng ngành, lĩnh vực nhưng phải dựa trên các mô hình đã có như các mô hình 3R (giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải), VAC (Vườn-Ao-Chuồng), VACR (Vườn-Ao-Chuồng-Rừng) được triển khai ở nước ta thời gian qua.

Năm là, Huyện Bình Sơn cần được tỉnh cho khung chính sách, cơ chế đặc thù về kinh tế tuần hoàn, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp về vốn, tiếp cận khoa học công nghệ, ưu đãi về thuế, hỗ trợ liên kết doanh nghiệp trong hệ thống kinh tế tuần hoàn tỉnh và cả nước để tạo niềm tin và điều kiện tốt cho các doanh nghiệp để chuyển sang mô hình kinh tế tuần hoàn. Cục thể hiện tại, cần có chính sách hỗ trợ các nhân/doanh nghiệp thu gom, xử lý và tận dụng nguồn phát thải hữu cơ trong lĩnh vực nông nghiệp (với một số lĩnh vực chủ đạo như trồng lúa, trồng khoai lang, thủy sản và chăn nuôi) trên địa bàn huyện. Đây là nguồn tài nguyên có lợi cho chính các hoạt động nông nghiệp trên và cho nhiều lĩnh vực khác.

Sáu là, huyện Bình Sơn cần xây dựng và triển khai thực hiện mô hình sử dụng thí điểm các dạng năng lượng thay thế và mô hình hộ gia đình tiết kiệm năng lượng; Áp dụng mô hình quản lý năng lượng tại các cơ sở công nghiệp; Xây dựng, phổ biến và nhân rộng các mô hình trình diễn thành công về sử dụng năng lượng thay thế trong các cơ sở sản xuất kinh doanh tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước; Phát triển, triển khai nhân rộng các mô hình trình diễn hộ gia đình sử dụng các dạng năng lượng tái tạo (như mặt trời, khí sinh học…) tại chỗ quy mô công nghiệp. Các hoạt động của kinh tế tuần hoàn bao gồm các chương trình sản xuất sạch hơn, đánh thuế thải bỏ và chôn lấp chất thải rắn; thu gom và tái chế giấy, kim loại; các chiến lược xử lý chất thải quy mô cụm công nghiệp, luật pháp quản lý và tái chế chất thải, các kế hoạch đầu tư cải thiện cơ sở vất chất và sản xuất, và các hoạt động bảo vệ môi trường trong các cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất…

Bảy là, huyện Bình Sơn cần tổ chức các hội thảo, hội nghị về kinh tế tuần hoàn trên địa bàn huyện nhắm chủ động tham vấn các ý kiến từ chuyên gia, doanh nghiệp để nghiên cứu, thiết kế các mô hình kinh tế nông-công nghiệp tuần hoàn phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và bổ sung vào chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn tại tỉnh huyện Bình Sơn.

Tám là, huyện Bình Sơn cần ban hành các phương án liên kết tổng thể từ khâu sản xuất - tiêu thụ trong chuỗi liên ngành nông nghiệp - thủ công nghiệp - công nghiệp - dịch vụ để tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu của nhau trong liên ngành này, tạo ra một vòng tuần hoàn khép kín trong sản xuất và tái sử dụng chất thải, hạn chế việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng cường bảo vệ môi trường.

7. Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách

a. Nhóm giải pháp thúc đẩy công nghiệp công nghệ cao

Nghên cứu đề xuất với tỉnh về những cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp phát triển công nghệ mới, công nghệ sinh học, công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp chế tạo thông minh, năng lượng tái tạo, điện tử viễn thông…

b. Nhóm giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số, kinh tế số

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi khóa XX đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 06/09/2023 về chuyển đổi số tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, để tạo bước đột phá về phát triển chính quyền điện tử hướng đến chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Theo đó, một số giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số kinh tế tố trên địa bàn huyện gồm:

Một là, là nâng cao nhận thức và năng lực về chuyển đổi số. Yếu tố quyết định đầu tiên trong chuyển đổi số chính là nhận thức. Cần có đổi mới tư duy và thống nhất nhận thức ở từng cá nhân, từng tổ chức. Việc này chỉ có được qua quá trình đào tạo và tự học. Do đó, huyện Bình Sơn cần tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, các khóa đào tạo, tập huấn giới thiệu kiến thức cơ bản về chuyển đổi số cho đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn huyện; trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng lực chuyển đổi số. Đặc biệt, cần phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo của người đứng đầu trong chuyển đổi số. Có thể bắt đầu từ việc khai thác dữ liệu, thay đổi mô hình hoạt động, đảm bảo tính đồng bộ, liên thông, kết nối giữa các cơ quan nhà nước để cung cấp các tiện ích, dịch vụ công trực tuyến tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp trên địa bàn.

Hai là, Huyện cần đầu tư phát triển kho dữ liệu dùng chung với tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục triển khai cơ sở dữ liệu liên quan đến người dân, tập trung vào cơ sở dữ liệu quản lý đất đai-nhà ở, đấu thầu, đầu tư và dây dựng, doanh nghiệp và người dân, thuế, hộ tịch, y tế (hồ sơ sức khỏe điện tử của từng người dân), giáo dục (cơ sở dữ liệu giáo viên, học sinh, cơ sở đào tạo, văn bằng, chứng chỉ); thực hiện thanh toán điện tử trong giải quyết thủ tục hành chính …trên địa bàn.

Ba là, huyên Bình Sơn cần triển khai nhanh các nền tảng số, hạ tầng số, mở rộng, hoàn thiện nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu trên Hệ thống thông tin báo cáo tỉnh Quảng Ngãi.

Cuối cùng, huyện Bình Sơn cần rà soát và phát triển các ứng dụng, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan, đơn vi nhà nước trên địa bàn huyện. Cụ thể, huyện cần hoàn thiện, kết nối liên thông các phần mềm quản lý văn bản và điều hành nội bộ để bảo đảm thông suốt trong việc thực hiện gửi, nhận văn bản điện tử; đẩy mạnh ứng dụng chữ ký số chuyên dùng và các nội dung khác theo quy định.

c. Nhóm giải pháp phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo thúc đẩy phát triển kinh tế

Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 ban hành chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX xác định phát triển đổi mới sáng tạo cùng với khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, đóng vai trò đột phá chiến lược; là động lực chính để thúc đẩy tăng trưởng, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả; là nhân tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội, địa phương và doanh nghiệp; là nền tảng để thực hiện chuyển đổi số quốc gia, góp phần quan trọng nâng cao đời sống nhân dân, phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Một là, huyện Bình Sơn cần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với 3 trụ cột chính: Nhà nước - Viện, trường - Doanh nghiệp và các trung tâm hỗ trợ, các vườn ươm tạo khởi nghiệp, các mạng lưới chuyên gia, trí thức, quỹ đầu tư, tổ chức tài chính…

Hai là, tiếp tục đổi mới tư duy về thể chế chính sách theo hướng tạo môi trường thuận lợi và huy động sự tham gia của khu vực doanh nghiệp tư nhân cho khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đổi mới sáng tạo như là cầu nối để KH&CN phục vụ trực tiếp phát triển kinh tế, văn hóa xã hội địa phương từ đó tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng.

Ba là, huyện Bình Sơn cần giao nhiệm vụ cho một tổ chức làm nhiệm vụ như một trung tâm Hỗ trợ Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo lấy doanh nghiệp trên địa bàn làm trung tâm; phát triển mô hình kinh doanh mới, kinh tế số, xã hội số; nâng cao năng lực đổi mới, hấp thụ và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp; tập trung phát triển công nghệ cao, công nghệ chủ chốt của cuộc Cách mạng lần thứ tư có khả năng ứng dụng cao.

Bốn là, huyện cần thực hiện tái cơ cấu các chương trình, nhiệm vụ khoa học công nghệ phải phù hợp với các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, gắn với nhu cầu xã hội, chuỗi giá trị của sản phẩm, tạo giá trị gia tăng.

8. Nhóm giải pháp về quy hoạch

Trên cơ sở quy hoạch chung của tỉnh, quy hoach Khu kinh tế Dung Quất đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, quy hoạch vùng huyện và các quy hoạch xây dựng chung đã được UBND tỉnh phê duyêt, Bình Sơn cần khẩn trương lập và phê duyệt các quy hoạch chi tiết nhằm cụ thể hóa các quy hoạch của cấp trên phê duyệt làm cơ sở pháp lý để tổ chức thực hiện và kêu gọi đầu tư phát triển kinh tế-xã hội.

9. Nhóm giải pháp về cân đối nguồn lực

Quá trình tăng trưởng và phát triển, Bình Sơn phải cân đối 03 nguồn lực chính bao gồm:

Nguồn nhân lực (con người) phải đảm bảo về số lượng và yêu cầu về chất lượng thông qua việc khảo sát, đánh giá, lên kế hoạch phối hợp với các trường học, trung tâm, nhà đầu tư để đào tạo, tập huấn cùng với chính sách thu hút nguồn nhân lực của tỉnh.

Nguồn tài lực (vốn) là khâu khó nhất trong quá trình cân đối cho việc thực hiện các mục têu tăng trưởng ở phạm vi cấp huyện. Ngoài việc Bình Sơn phải tự cân đối nguồn vốn cho sự phát triển nhằm thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị của địa phương, huyện còn phải biết những nguồn vốn đàu tư công của tỉnh, của Trung ương trên địa bàn, phải nắm bắt cơ bản những nguồn vốn của nhà đầu tư đang triển khai trên địa bàn huyện. Có như thế, Bình Sơn mới thấy rõ trách nhiệm của mình cũng như khi tham gia phối hợp, qua đó mới có cái nhìn tăng trưởng trên địa bàn rõ nét.

Nguồn vật lực (kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất) đặt ra cho Bình Sơn phải biết khai thác phát huy một cách tối đa những công năng, giá tri và giá trị sử dụng của nguồn vật lực do tỉnh và các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn cùng với nguồn vật lực do huyện đã và đang đầu tư. Việc sử dụng hiệu quả các kết cấu hạ tầng. cơ sở vật chất trên địa bàn sê thúc đẩy cho sự phát triển và những lợi ích xã hội cho huyện rất lớn.

10. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ , quản lý điều hành của chính quyền và hệ thống chính trị



Để xây dựng, phát triển huyện nhanh bền vững tiến lên Thị xã, trở thành cực tăng trưởng, góp phần chủ yếu cho sự phát triển tăng trưởng chung của tỉnh Quảng Ngãi, Huyện cần đổi mới phong cách lãnh đạo một cách toàn diện trên các mặt công tác xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng, tổ chức cán bộ, kiểm tra, dân vận, nội chính; nâng cao hiệu quả công tác quản lý điều hành của chính quyền, phát huy vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị-xã hội của huyện, tạo sự đồng thuận cao trong Nhân dân và doanh nghiệp.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...