Thứ Năm, 24 tháng 10, 2024

SỬ THI TÂY NGUYÊN - KIỆT TÁC HÙNG VĨ (Nhà nghiên cứu Nguyễn Thuận)

Sử thi là bộ phận hợp thành Văn nghệ dân gian, gồm sử thi thần thoại và sử thi anh hùng. Trên mảnh đất Tây nguyên, sử thi đã phản ảnh con người và các sự kiện bao đời nay trong xây dựng và bảo vệ cuộc sống ấm no, tồn tại và phát triển của đồng bào các dân tộc trên vùng núi cao. Sử thi Tây nguyên là kho tàng quý báu, phong phú, đa dạng... là loại hình văn hóa phi vật thể cần được sưu tầm, bảo vệ và phát triển những yếu tố, nhân tố tích cực; góp phần xây dựng, bảo tồn những truyền thống quý báu, đậm đà bản sắc dân tộc.

Sử thi; dịch từ thuật ngữ Châu Âu: épos, épic.

- Còn gọi là tự sự, một trong ba loại văn học, phân biệt với trữ tình và kịch.

- Trong nghĩa hẹp và chuyên biệt, sử thi (épos) là bộ phận trong nhóm thể loại tự sự kể về quá khứ anh hùng, tức là những thiên tự sự kể về quá khứ anh hùng, hàm chứa những bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân và về những anh hùng, dũng sĩ đại diện cho một thế giới sử thi nào đó, thống nhất hài hoà. Sử thi anh hùng tồn tại cả dưới dạng truyền miệng lẫn dưới dạng được ghi chép thành sách (Truyền miệng có: Dzanar, Alpamysh, Manas, Đăm San, Đẻ đất đẻ nước… chép thành sách có: Iliade, Qdyssée, Mahabharta, Ramayana...), hoặc dưới dạng bài ca sử thi ngắn (bưlina của Nga, junas của Nam Tư) đã được xâu chuỗi phần nào thành liên hoàn. Thường thấy các tác phẩm dưới dạng bài ca và lời thơ hoà lẫn vào nhau, rất hiếm gặp tác phẩm dưới dạng văn xuôi.

* Sử thi anh hùng dân gian

Sử thi anh hùng dân gian nảy sinh trên cơ sở truyền thống các sử thi thần thoại kể về những bậc thuỷ tổ - những anh hùng văn hoá, về các tích truyện dũng sĩ; xa xưa hơn nữa là các truyền thuyết lịch sử, các bài tụng ca. Nảy sinh vào thời đại tan rã của chế độ công hữu nguyên thuỷ và phát triển trong xã hội cổ đại, phong kiến, nơi còn bảo lưu từng phần các quan hệ gia trưởng, sử thi anh hùng ảnh hưởng của các quan hệ và quan niệm ấy, đã miêu tả về quan hệ xã hội như quan hệ dòng máu, tông tộc với tất cả các chuẩn mực luật lệ, tập tục.

Ở dạng cổ xưa nhất của sử thi, tính anh hùng còn hiện diện trong vỏ bọc thần thoại hoang đường (các dũng sĩ không chỉ có sức mạnh chiến đấu mà còn có năng lực siêu nhiên, ma thuật, kẻ địch thì luôn luôn hiện diện dưới dạng quái vật giả tưởng). Những đề tài chính được sử thi cổ xưa miêu tả: chiến đấu chống quái vật (cứu người đẹp và dân làng), người anh hùng đi hỏi vợ, sự trả thù của dòng họ,…

- Sử thi cổ điển:

Các dạng cổ điển của sử thi các nhân vật thường là các dũng sĩ kiêm thủ lĩnh và các chiến binh đại diện dân tộc ở tầm lịch sử; các kẻ thù của họ thường được đồng nhất với bọn xâm lược, những kẻ áp bức, ngoại bang và dị giáo (như người Turk, người Tarta với sử thi Slave). Thời gian sử thi ở đây khác với sử thi dân gian, không còn là thời đại sáng chế các thần thoại, mà là quá khứ vinh quang trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc. Được ca ngợi trong các dạng sử thi cổ điển là các nhân vật và biến cố lịch sử (hoặc ngụy lịch sử), mặc dù bản thân sự miêu tả các chất liệu lịch sử bị phụ thuộc vào sơ đồ cốt truyện truyền thống, đôi khi còn sử dụng cả mô hình nghi lễ thần thoại.

Các nền sử thi thường là các cuộc đấu tranh của hai bộ lạc hoặc bộ tộc, sắc tộc ít nhiều tương ứng với sự thật lịch sử (như cuộc chiến Troia trong Iliade, việc tranh đoạt Sampo trong Kalévala). Quyền lực được tập trung trong các nhân vật trung tâm có hành động tích cực là các ông vua của thế giới sử thi (như Charles đại đế trong Bài ca chàng Rôlăng), hay các dũng sĩ. Các nhân vật nổi loạn, cách mạng xung đột với quyền lực (Akhillos trong Iliade, Đăm San trong khan Êđê), Robin Hud trong thiên ballade của Anh, các nhân vật trong Thuỷ Hử ở Trung Hoa) xuất hiện ít ỏi trong giai đoạn tan rã hình thức cổ điển của sử thi anh hùng.

* Những anh hùng ca:

Những anh hùng ca, với tư cách là các tác phẩm sử thi anh hùng cỡ lớn, thể hiện tương quan giữa yếu tố cá nhân anh hùng và yếu tố sử thi tập thể rõ rệt, đủ để bộc lộ tính tích cực cá nhân, đã trở thành công cụ đắc lực cho sự biểu hiện yếu tố toàn dân tộc. Trường ca sử thi “về thực chất có liên quan đến thời trung đại, khi dân chúng tỉnh dậy từ giấc ngủ nặng nề, nhưng tinh thần thì đã cứng cáp đến mức tạo được thế giới riêng của mình và tự cảm thấy mình gắn bó máu thịt với thế giới ấy... Khi bản thân cái cá nhân được giải phóng khỏi khối vẹn toàn dân tộc khởi thuỷ với trạng thái chung, lối nghĩ lối cảm chung, hoạt động và số phận chung, thì thay cho thơ ca sử thi những cái sẽ phát triển chín mùi hơn cả một mặt là thơ và mặt khác là kịch” (Hegel).

Trong phạm vi bài viết này, xin đề cập đến công trình nghiên cứu nhỏ về “sử thi Tây Nguyên” thông qua kết quả của dự án “điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản “kho tàng sử thi Tây Nguyên” do Chính phủ cấp kinh phí, Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội chủ trì, tiến hành từ năm 2001 đến nay.

Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam có những thành tựu với những sắc thái riêng biệt. Căn cứ vào quy luật phát triển của sáng tác dân gian và thực tiễn tồn tại những mảnh vụn thần thoại, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã nói đến sự tồn tại các thể loại sử thi và thực tế đã sưu tầm, phát hiện được.

Giới nghiên cứu thường gọi “Sử thi”: truyền thuyết, anh hùng ca, trường ca, sử thi anh hùng, sử thi… Người Êđê gọi là Khan, còn người Bana gọi là Hơmon…

Sử thi đây là một thể loại tự sự dân gian về thời kỳ lịch sử khi loài người bước vào xã hội văn minh, kể về những kỳ tích, sự nghiệp anh hùng có tầm vóc lớn. Sử thi là những sáng tác tự sự có qui mô tương đối lớn, bằng văn vần hay thứ văn xuôi đầy chất thơ. Nội dung bao quát cả đời sống toàn dân trong suốt một thời kỳ lịch sử dài mà trung tâm là những sự kiện có ý nghĩa trọng đại trong đời sống cộng đồng.

Có thể phân thành 2 loại:

Sử thi thần thoại (sử thi mo): Đẻ đất đẻ nước (Mường) và…

Sử thi anh hùng (sử thi khan): Đam San (Êđê), Xing Nhã (Gia Rai)...

Có 2 kiệt tác di sản phi vật thể của nhân dân ta là Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản truyền miệng và phi vật thể. Vừa rồi đã sưu tập được khoản 800 tác phẩm sử thi Tây Nguyên, nhưng hình như không mấy người Việt biết để tự hào về bộ sưu tầm này.

Sử thi là thể loại còn lại chỉ có ở thời cổ đại của sự phát triển xã hội loài người. Bây giờ người ta vẫn thường nhắc đến sử thi Hy Lạp Iliad và Odyssey. Cả dân tộc Phần Lan có Calevala, chỉ là sử thi cổ điển (chưa phải cổ đại) và cũng chỉ dài vài ngàn câu mà khiến cả thế giới chú ý. Chỉ riêng sử thi các dân tộc Tây Nguyên, chúng ta đã sưu tầm chỉ mới in 1/3 mà đã chiếm hơn 60.000 trang sách khổ lớn. Thật khó có ai có thể tưởng tượng được tầm vóc khổng lồ của gia tài văn hoá này. Chắc chắn vốn sử thi khổng lồ này là một giá trị văn hoá sáng giá đóng góp cho văn hoá nhân loại.

Sử thi của ta lại không phải loại xuất hiện vào giai đoạn muộn nên nó là sử thi cổ sơ. Đây là kho tàng trí tuệ và là kết quả sáng tạo của cả dân tộc, chưa tìm thấy ở đâu nhiều và phong phú đến thế. Thực ra, chúng ta mới tiến hành điều tra, sưu tầm có hệ thống sử thi ở các dân tộc Tây nguyên. Ở những dân tộc sống trên suốt một dải Trường Sơn và Tây Bắc, Việt Bắc như các dân tộc K’Ho, Cơ tu, Chro.., Thái, Mường cũng có sử thi. Nếu chúng ta tiếp tục phát hiện, sưu tầm thì số lượng còn hơn thế nữa.

Viện Nghiên cứu Văn hoá, Nhà xuất bản Khoa hoạc Xã hội và Công ty FAHASA đã chính thức công bố bộ sách “Kho tàng sử thi Tây Nguyên”, bộ sử thi đồ sộ bậc nhất ở Việt Nam từ trước đến nay. Trong số 75 tác phẩm, sử thi của dân tộc Bân và M’nông chiếm số lượng lớn với con số lần lượt là 30 và 26 tác phẩm, dân tộc Êđê có 10 tác phẩm, còn lại là của các dân tộc Xê đăng, Raglai, Chăm,... Các tác phẩm này được tập hợp trong 62 tập sách với hơn 60.000 trang in.

Sau cuốn sách Bài ca Đam San (của L.Sabatier) được xuất bản tại Pháp từ năm 1927, đây là lần đầu tiên sử thi Tây Nguyên được công bố một cách có hệ thống, in song ngữ, kèm chân dung nghệ thuật hát kể.

Tuy nhiên đây chưa là toàn bộ kết quả của dự án nói trên bởi còn đến hơn 700 sử thi khác đã sưu tầm đang còn chờ phiên âm, dịch nghĩa chưa thể công bố. Ban điều hành dự án cho biết, còn một bước nữa để đưa sử thi trở lại với cộng đồng bằng cách in các tập sách nhỏ gọn bằng tiếng dân tộc.

Sử thi (còn gọi trường ca) là hình thức hát - kể - diễn phản ánh cuộc sống con người thời thị tộc, gắn liền với tên tuổi những vị anh hùng huyền thoại của buôn làng Tây Nguyên. Điểm đặc biệt của sử thi Tây Nguyên là nó vẫn đang tồn tại trong đời sống của đồng bào dân tộc hiện nay. Đăm San (Êđê) là sử thi được thế giới biết đến nhiều nhất, còn Ot Nrông (M’nông) là sử thi dài hạng nhất thế giới với 30.000 câu.

Sử thi Tây Nguyên đã được Việt Nam đưa vào danh mục đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.

Các nhà khoa học trong nước và trên thế giới đã khẳng định: Sử thi là tấm gương phản ánh một cách toàn diện đời sống của một dân tộc ở một thời kỳ đã qua, đồng thời nói lên khát vọng của dân tộc ấy về cuộc sống hạnh phúc, thịnh vượng, ngợi ca tình yêu, lòng cao thượng, trí dũng con người trước thử thách của thiên nhiên và trong đấu tranh với cái ác. Niềm mơ ước của người Tây Nguyên giản dị: “Nhà dài bằng tiếng ngân dài của một cái chiêng tốt. Hiên trước dài bằng hơi thở của con người đang chạy. Gái làng giã gạo, tiếng chày cối không ngớt. Ánh sáng của chiếc khiên chói lọi như đèn đuốc, vải sợi nặng trĩu làm cong các sào phơi. Vải đen, vải trắng đủ các màu phơi cùng sào…”

Sau hơn một thập kỷ, đặc biệt từ khi triển khai dự án sử thi Tây Nguyên, một bức tranh rộng lớn về kho tàng sử thi Tây Nguyên đang dần dần lộ diện khiến không ít người kinh ngạc bởi sự phong phú, đa dạng, đồ sộ và giá trị to lớn của chúng. Trước nhất, chủ nhân của sử thi Tây Nguyên không còn là một vài dân tộc như Êđê, Bana, mà đã mở rộng ra nhiều dân tộc, như Mnông, Gia Rai, Xơ Đăng, Raglai, Xtiêng, Chăm Hroi và có khả năng ở cả người Mạ, K’Ho, Chu ru... nữa. Không chỉ 4 tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên phát hiện thấy sử thi, mà còn thấy ở các tỉnh ven Tây Nguyên, như Bình Phước, Ninh Thuận, Khánh Hoà, Phú Yên và có thể ở cả Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam nữa.

Số lượng tác phẩm đã sưu tầm được lên tới hàng trăm, vượt trội con số dự đoán ban đầu; bên cạnh các tác phẩm sử thi riêng lẻ, độ dài vừa phải, thì nay đã phát hiện thấy loại sử thi liên hoàn, gồm nhiều tác phẩm, liên quan với nhau về nhân vật, chủ thể, phong cách thể hiện, như sử thi Ot Ndrông của người Mnông, Đăm Giông của người Xơ Đăng với độ dài đồ sộ. Qua điều tra sưu tầm, vùng giáp ranh giữa Đắc Lắc và Bình Phước (sử thi Mnông, Stiêng), vùng quanh thị xã Kon Tum (sử thi Xơ Đăng), khiến người ta nghĩ tới những trung tâm phát xuất sử thi của mỗi dân tộc. Bên cạnh đó, người sưu tầm còn tìm thấy các dị bản khác của sử thi đã được phát hiện và công bố từ mấy chục năm trước, như Xinh Nhã, Đam San, qua đó có thể làm thay đổi nhận thức của chúng ta về các tác phẩm sử thi mang tính “kinh điển” này.

Như vậy, sau hơn 70 năm phát hiện và công bố sử thi Tây Nguyên, những nhà sưu tầm và nghiên cứu sử thi của Việt nam đã phát hiện lại sử thi Tây Nguyên với phạm vi, tầm cỡ và có ý nghĩa to lớn hơn nhiều, khiến không chỉ giới công chúng trong nước vui mừng, phấn chấn, mà còn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và tổ chức quốc tế.

Trước hết sử thi Tây Nguyên thuộc loại hình văn học truyền miệng, do vậy ngôn ngữ thể hiện bao giờ cũng có ý nghĩa hàng đầu. Ngôn ngữ sử thi là ngôn ngữ nói vần, tức hình thức trung gian giữa thường ngày và ngôn ngữ thơ ca. Cũng cần phải nói thêm rằng, lời nói vần không chỉ sử dụng trong sử thi mà trong nhiều hình thức văn học truyền miệng khác, kể cả trong giao tiếp thường ngày. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì với các tộc người chưa có chữ viết thì văn học truyền miệng thông qua phương thức lời nói vần là phương tiện dễ nhớ, dễ lưu truyền. Cấu tạo của những lời nói vần thường là đối âm, đối nhịp. Ngôn ngữ của sử thi là ngôn ngữ ví von, giàu hình ảnh, nhạc điệu, mượn hình ảnh cây cỏ, chim thú để nói về con người và tâm trạng của con người.

Khan Êđê khi mô tả vẻ đẹp của các chàng trai, cô gái đều có cách ví von, diễn tả sinh động: “Anh đi trên con đường cái thoăn thoắt như con rắn Prao huê. Anh đi trong đám cỏ tranh nhanh như rắn prao hơmát. Mỗi khi anh dẫm mạnh vào ngạch cửa làm nhà rung rinh 7 lần”.

Tính ngoa dụ, phóng đại là một trong những thủ pháp nghệ thuật của sử thi. Sử thi mô tả đàn “trâu bò đi nhúc như bầy mối kiến”, mô tả nô lệ tôi tớ của tù trưởng “tớ trai đi lại chen chúc nhau ngực sát ngực, tớ gái vú sát vú”, mô tả nhà của các tù trưởng giàu có, có mái lợp bằng vàng, nền bằng bạc, cầu thang đúc bằng chì. Tính ngoa dụ, phóng đại này không làm cho người nghe, người đọc thấy phi lý, mà nó như hoà nhập một cách tự nhiên với sự kỳ vĩ, hào hứng của không khí sử thi.

Tính kỳ vĩ là một thuộc tính của sử thi của bất cứ một dân tộc nào. Trước nhất, nội dung của sử thi chứa đựng những biến cố to lớn của dân tộc, là một bức tranh toàn cảnh của cả một thời đại. Cũng có thể nói tới cách xây dựng nhân vật anh hùng trong sử thi. Tuy là những người anh hùng không hoàn toàn mang tính cá nhân, mà đại diện, biểu trưng cho cộng đồng, họ mang những vóc dáng, sức mạnh phi thường, mà ở đó cộng đồng ký thác những ước vọng vừa lãng mạng vừa kỳ vĩ ở mình. Tuy nhiên, những người anh hùng như vậy vẫn có số phận mang dáng vẻ và ít nhiều mang tính cách riêng. Đó là Đam San không chịu những ràng buộc của xã hội mẫu hệ, bằng những hành động phi thường, chống lại các thế lực thù địch hung bạo như Mtao Grứ, Mtao Mxây, thậm chí chinh phục cả nữ thần mặt trời.

Nét khác biệt của sử thi Tây Nguyên với nhiều tác phẩm sử thi cổ điển khác như Iliat, Ođitxê, Ramayna, Kalêvala là hiện nay chúng ta chỉ tồn tại chủ yếu trên sách vở hay đã bị biến dạng trong các hình thức nghệ thuật khác, thì sử thi Tây Nguyên vẫn được lưu truyền nguyên bản trong nhân dân, vẫn được nhân dân trình diễn trong các sinh hoạt cộng đồng, vẫn được các thế hệ học hỏi, lưu truyền và không loại trừ cả sáng tạo, hoàn thiện nữa.

Như vậy sử thi tây Nguyên vẫn sống đời sống riêng của nó trong lòng đời sống cộng đồng. Đó cũng là nét độc đáo, là vốn quý của Tây Nguyên. Sử thi Tây Nguyên là dạng văn hoá phi vật thể, sáng tạo, lưu truyền thông qua truyền miệng, tiềm ẩn trong trí nhớ người dân, chỉ khi nào có dịp như cưới xin, hội hè, mừng nhà mới, đón tiếp khách quý, mừng trẻ nhỏ đầy năm, đầy tháng thì nghệ nhân mới hát kể sử thi, lúc đó sử thi mới hiện hữu. Như vậy, sử thi gắn với nghệ nhân, gắn với sinh hoạt cộng đồng, tức là gắn với con người và xã hội con người.

Trong cộng đồng buôn làng của các tộc Tây Nguyên hiện nay, tuy thế hệ các nghệ nhân thuộc và biết hát kể sử thi cũng đã suy giảm đi nhiều, nhưng hầu như buôn làng nào cũng có người thuộc sử thi, ít thì một vài đoạn, nhiều thì vài tác phẩm. Cá biệt, có những nghệ nhân thuộc từ 3-4 đến hàng chục tác phẩm sử thi.

Với những nổ lực trên, chắc chắn sử thi Tây Nguyên sẽ mãi được bảo tồn và phát huy các giá trị của mình để giới thiệu rộng rãi công chúng trong nước và quốc tế. Và trong thời gian không xa, Việt Nam sẽ một lần nữa được biết đến với “Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại” mới - sử thi Tây Nguyên./.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...