Thứ Năm, 24 tháng 10, 2024

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ VIỆT NAM KHƠI DẬY KHÁT VỌNG XÂY DỰNG HUYỆN BÌNH SƠN PHÁT TRIỂN, VĂN MINH, NGHĨA TÌNH (Phan Đình Chí)

MỞ ĐẦU

Bình Sơn là huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Ngãi, là huyện có địa bàn rộng trên 466.677 ha, dân số hơn 190.000 người (chủ yếu là người Kinh và khoảng 210 hộ, 740 nhân khẩu đồng bào dân tộc Co sinh sống trên địa bàn xã Bình An), là một vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa lâu đời gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. 

Do vị trí địa lý thuận lợi, phía Tây có nhiều núi và tiếp giáp với huyện miền núi Trà Bồng, phía Đông có 7 xã thuộc khu vực biên giới biển, có phần lớp diện tích là đồng bằng, có trục đường Quốc lộ 1, đường sắt Bắc Nam, gần sân bay Chu Lai, có Khu Kinh tế Dung Quất chiếm 18/22 đơn vị hành chính cấp xã, có cảng biển nước sâu Dung Quất … nên có điều kiện phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa.

Trong nhiều năm qua, huyện Bình Sơn đã cụ thể hoá các nghị quyết, chủ trương của Đảng về xây dựng và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam, về xây dựng văn hoá, con người Việt Nam trong thời đại mới… cùng với kết quả triển khai, cụ thể hoá và sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện, đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm của huyện trong thời gian đến, đã phân tích và làm rõ những quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước về văn hoá và phát huy giá trị văn hoá trong quá trình phát triển đi lên của huyện. Nguồn tài liệu này là những cơ sở lý luận và thực tiễn về văn hoá và phát huy giá trị văn hoá để khơi dậy khát vọng xây dựng huyện Bình Sơn phát triển, văn minh, nghĩa tình trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo. Đặc biệt là trước yêu cầu phải xây dựng nền văn hoá mới và chuyển hoá những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, của mảnh đất và con người huyện Bình Sơn vào tiến trình phát triển chung của huyện, đóng góp trực tiếp vào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, làm cho văn hoá thấm sâu vào các lĩnh vực đời sống xã hội, làm cho đất và người Bình Sơn văn minh hơn, nghĩa tình hơn.

Từ thực tiễn nêu trên, chuyên đề: Phát huy giá trị văn hoá Việt Nam khơi dậy khát vọng xây dựng huyện Bình Sơn phát triển, văn minh, nghĩa tình sẽ đi sâu vào nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, qua đó đề xuất, khuyến nghị những giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Bình Sơn lần thứ XXVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 và cao hơn là góp phần định hướng mục tiêu, khát vọng và hiện thực hoá “Xây dựng huyện Bình Sơn nghĩa tình, văn minh; trở thành trung tâm kinh tế động lực của tỉnh Quảng Ngãi” trong thời gian đến.

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HOÁ

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ

I. Quan niệm về văn hoá

1. Một số khái niệm

Năm 1994, UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa, theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”. còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”…

Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống... Một số nhà nghiên cứu cho rằng văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong quá trình lao động, được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách của từng tộc người.

Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 đã đưa ra nhiều quan niệm về văn hóa:

- Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần.

- Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học.

- Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh.

- Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.

- Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội.

Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

Với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn. Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Văn hoá vật chất và văn hóa tinh thần luôn gắn bó mật thiết với nhau và có thể chuyển hoá cho nhau, không phải ngẫu nhiên mà K.Marx nói rằng “Tư tưởng sẽ trở thành những lực lượng vật chất khi nó được quần chúng hiểu rõ”. Như vậy, văn hóa chỉ con người mới có, là một đặc trưng của con người, chỉ con người mới biết vận dụng tinh thần và lý trí để vượt bản năng, cải thiện cuộc sống của chính mình, làm cho mối tương giao với người khác tốt đẹp hơn, nâng tâm hồn lên khỏi những hệ lụy vật chất.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hóa được hiểu theo cả ba nghĩa rộng, hẹp và rất hẹp.

Theo nghĩa rộng, Hồ Chí Minh nêu văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra với phương thức sử dụng chúng, nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời đó cũng là mục đích của cuộc sống loài người.

Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

Theo nghĩa hẹp, Người viết: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng”.

Theo nghĩa rất hẹp, văn hóa đơn giản là trình độ học vấn của con người, thể hiện ở việc Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người phải đi học “văn hóa”, xóa mù chữ,…

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hoá mới

Theo Hồ Chí Minh, nền văn hóa dân tộc phải được xây dựng trên năm điểm lớn sau đây:

- Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.

- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.

- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội.

- Xây dựng chính trị: dân quyền.

- Xây dựng kinh tế.

Muốn xây dựng nền văn hóa dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì phải xây dựng trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tâm lý con người. Đồng thời, phải gắn với việc xây dựng con người, Hồ Chí Minh khẳng định, con người là vốn quý nhất, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Theo Người, “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Con người là mục tiêu của cách mạng, nên mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người, có thể là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt; lợi ích cả dân tộc và lợi ích của bộ phận, giai cấp, tầng lớp và cá nhân. Không phải mọi con người đều trở thành động lực mà phải là những con người được giác ngộ và tổ chức. Họ phải có trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền tảng truyền thống lịch sử và văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam… Chính trị, văn hóa, tinh thần là động lực cơ bản trong động lực con người. Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi họ hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo. Vì vậy, cần có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

II. Quan điểm của Đảng và quá trình phát triển tư duy về văn hoá

1. Đề cương văn hoá năm 1943

Xuất phát từ tình hình thế giới và trong nước, Đảng ta, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Tổng Bí thư Trường Chinh đã nhận rõ vai trò, tầm quan trọng của văn hóa và đã bắt tay khởi thảo Đề cương văn hóa Việt Nam. Dù mới ở tầm mức “đề cương”, nhưng Đề cương văn hóa đã chỉ rõ nguy cơ của nền văn hoá Việt Nam dưới ách đô hộ của thực dân - phát xít; phân tích mối quan hệ giữa cách mạng chính trị và cách mạng văn hoá; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng văn hoá; vạch ra phương hướng đấu tranh đúng đắn chống thực dân - phát xít và bè lũ tay sai, xây dựng đường lối văn hoá mới của Đảng, tập hợp các nhà văn hoá, trí thức, văn nghệ sĩ để tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Với Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943, lần đầu tiên Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định nội dung, tính chất, tổ chức, định hướng phát triển của một cuộc cách mạng văn hóa chỉ có thể gắn với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tương lai của nền văn hóa ấy sau khi cách mạng thành công, trọng tâm là ba nguyên tắc “Dân tộc hóa”, “Đại chúng hóa”, “Khoa học hóa”. Đó là việc kế thừa, xây dựng và phát triển nền văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc, tự tôn văn hóa dân tộc, khắc phục tư tưởng tự ti, tự phụ; nâng cao lòng yêu nước, chí khí anh hùng, độc lập, tự do. Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943 được ví như tuyên ngôn, cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta về văn hóa và cách mạng, có ý nghĩa khai sáng, mở đường cho cách mạng Việt Nam, nhất là lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; định hình những quan điểm, nguyên tắc cơ bản cho thời kỳ đó và tiếp tục được bổ sung, phát triển trong nhiều năm tiếp theo.

2. Quá trình phát triển tư duy, lý luận về văn hoá

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Trong phiên họp đầu tiên của Hội Đồng chính phủ (ngày 3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, trong đó có 2 nhiệm vụ cấp bách thuộc về văn hoá, đó là diệt giặc dốt và giáo dục tinh thần cho nhân dân.

Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất khai mạc ngày 24/11/1946 tại Nhà hát Lớn Hà Nội với hơn 200 đại biểu tham dự. Trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”. Người khẳng định một chân lý: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có những ý kiến chỉ đạo mang tính chiến lược về đường lối văn hóa, văn nghệ. Người nhấn mạnh và khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”; “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”; “Chính trị, kinh tế, văn hóa đều phải coi là quan trọng ngang nhau”.

Qua các lần Đại hội Đảng đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (6/1991) xác định nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá VII) lần đầu đưa ra khái niệm: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”, tiếp đó, Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) ra Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Ngày 16/6/2008, Bộ Chính trị (khóa X) ra Nghị quyết số 23 NQ/TW về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Đảng ta khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Từ thực tiễn đất nước sau gần 30 năm đổi mới và phát triển, Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) đã thảo luận và ra Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước”.

Xuyên suốt qua các kỳ Đại hội, và tại Đại hội XIII, Đảng ta đã xác định một trong những đột phá chiến lược giai đoạn 2021-2030 là: “Phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam; khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển của dân tộc, tinh thần yêu nước, tự hào, ý chí tự cường và lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội; xây dựng môi trường và đời sống văn hoá phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh, hội nhập quốc tế; đề cao ý thức, trách nhiệm, đạo đức xã hội, sống và làm việc theo pháp luật”.

Hệ thống lại toàn bộ quan điểm, văn kiện quan trọng của Đảng để thấy rõ hơn quá trình nhận thức và phát triển toàn diện lý luận, tư duy về văn hoá và vai trò của văn hoá, những định hướng lớn trong xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam, gắn với xây dựng con người mới, xem đây là động lực để phát triển đất nước nói chung và là động lực để thực hiện khát vọng xây dựng huyện Bình Sơn phát triển, văn minh, nghĩa tình, sớm trở thành trung tâm kinh tế động lực của tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 2:

ĐẶC ĐIỂM SINH HOẠT VĂN HOÁ, TÍN NGƯỠNG VÀ HỆ THỐNG DI TÍCH VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH SƠN

I. Một số đặc điểm sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng

Nằm trong dòng chảy văn hoá chung của dân tộc Việt Nam nói chung và ở khu vực duyên hải miền Trung nói riêng, người dân Bình Sơn cũng có chung những đặt điểm sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng cộng đồng và trong chu trình của cả đời người, từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, đồng thời cũng có những nét riêng của vùng biển, vùng núi, tạo nên sự đa dạng, phong phú, đan xen lẫn nhau.

1. Thờ cúng tổ tiên

Thờ cúng tổ tiên là một hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng tiêu biểu của người Việt nói chung, nhân dân ở huyện Bình Sơn nói riêng. Hầu như gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên trong nhà, trừ những gia đình theo đạo Tin lành. Vào ngày sóc vọng, đi xa, cưới hỏi, mừng thọ, đỗ đạt, nhất là vào ngày giỗ, tết, gia đình thường làm lễ tế tổ tiên. Đây là một hình thức sinh hoạt văn hoá chứa đựng nhiều giá trị: giá trị nhân văn, giá trị giáo dục, đạo đức, trao truyền thế hệ…

Tín ngưỡng này còn được xem là chứa đựng nhiều lớp văn hoá: tín ngưỡng “hồn linh”, sự tỏ lòng tôn kính và hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, tín ngưỡng “cầu mưa, cầu mùa”, lòng biết ơn công đức tổ tiên… nhưng giá trị cốt lõi nhất của tín ngưỡng này là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của người Việt.

Đối với những ngày giỗ lớn hoặc giỗ họ, nơi đây còn thể hiện mối quan hệ và sự gắn kết giữa những người cùng huyết thống, họ hàng và hàng xóm láng giềng với nhau.

2. Thờ cúng âm hồn

Thống kê toàn huyện có 611 cơ sở tín ngưỡng, là các miếu thờ, đình, lăng vạn, nghĩa tự…, phục vụ nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của đại bộ phận nhân dân. Ở từng cơ sở tín ngưỡng, cộng đồng dân cư bầu ra Ban quản lý từ 3 đến 5 người để lo việc trông coi, tế lễ, thu chi kinh phí do cộng đồng đóng góp, trừ các nhà thờ họ tộc thì do nội bộ tộc họ trực tiếp quản lý.

Hàng năm ngay sau Tết nguyên đán và vào dịp thanh minh (trong khoảng tháng Giêng, tháng Hai âm lịch), cộng đồng dân cư tổ chức tảo mộ và thực hiện các nghi thức tế lễ tại các nghĩa tự, miếu thờ, lăng vạn và kết hợp ra quân đánh bắt hải sản đầu năm (đối với các xã ven biển). Mặc dù đây không phải là lễ lớn trong năm nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm linh của nhân dân, mang đậm nét đẹp văn hoá truyền thống từ rất lâu đời và duy trì cho đến ngày nay.

Trong dịp này, cộng đồng các cụm dân cư tổ chức những nghi thức trang trọng tế lễ những người có công khai thiên lập địa, sinh cơ tạo nghiệp, những nghĩa sĩ trận vong, những oan hồn vô chủ và cầu cho quốc thái dân an, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng thành kính đối với tổ tiên, các bậc tiền nhân. Những người xa quê nếu không về được trong dịp trước và trong Tết nguyên đán thì cũng cố gắng về quê trong dịp này để tảo mộ tổ tiên và tham dự lễ cúng âm linh. Đây cũng dịp có thể tập trung đông đủ nhất các thành viên trong cộng đồng dân cư, thể hiện sự gắn kết, hoà đồng của mỗi cá nhân, gia đình trong tập thể lớn.

Trước năm 1975, gần như làng nào ở Bình Sơn cũng có đình làng. Đây là ngôi nhà chung của nhiều tộc họ, cũng là nơi dùng để tế tự các bậc tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ trong làng. Việc cúng tế ở đình làng trước đây được thực hiện rất nghiêm ngặt, quy định rõ trong hương ước. Ngày nay, hầu hết các đình làng đã bị phá huỷ hoặc hư hại nên chức năng của nó được chuyển dần sang các nghĩa tự, miếu thờ.

3. Thờ cúng cá Ông

Thờ cúng cá Ông là một hình thức thờ cúng cá voi và các thuỷ thần trên biển, do ngư dân các làng, vạn ven biển hàng năm lo việc tế tự. Để tri ân cá Ông cứu mạng, các ngư dân tôn vinh Ông thành thần, các triều đại nhà Nguyễn thường ban các sắc phong thần với nhiều tước vị cho Ông và chuẩn cho nhân dân các làng ven biển phụng thờ. Ngoài việc cúng tế, hàng năm tại lăng Ông còn tổ chức hát bả trạo, múa gươm, diễn các trò dân gian như đua thuyền, lắc thúng. Những năm gần đây, các ngư dân các lăng vạn thường tổ chức tế lễ kết hợp ra quân đánh bắt hải sản đầu năm, thu hút rất nhiều nhân dân địa phương và du khách dự xem.

4. Lễ ngả rạ của đồng bào Co

Lễ ngả rạ của đồng bào dân tộc Co ở xã Bình An là lễ thức cúng lúa rẫy vào mùa thu hoạch, thường diễn ra vào dịp tháng 10 âm lịch. Để làm lễ ngả rạ, gia đình phải chuẩn bị các loại lễ vật như gạo, nếp, heo, gà, rượu…

Sau 3 lần khấn vái hồ lúa, thầy cúng lấy lục lạc và cườm rung trước đàn cúng gọi hồn lúa về. Xong nghi lễ này, thầy cúng cùng gia đình làm lễ rước hồn lúa về chòi. Tại nhà, thầy cúng và các thành viên trong gia đình còn làm lễ cúng các thần linh bên bếp lửa bằng các lễ vật đã chuẩn bị, trong đó không thể thiếu món bánh đót (loại bánh dùng lá đót để bọc nếp nấu chín nhưng không có nhân), cầu mong thần linh luôn phù hộ cho gia đình được mạnh khoẻ, hạnh phúc, tránh được bệnh tật, mùa màng được tươi tốt. Nghi lễ hoàn tất, các thành viên trong gia đình và hàng xóm sẽ được thưởng thức cơm lúa mới, sử dụng các vật phẩm, thức ăn gia đình đã chuẩn bị, uống rượu cần hoặc rượu đót và vui chơi, ca hát. Những năm gần đây, một số diện tích trồng lúa rẫy không hiệu quả nên đã chuyển sang trồng cây keo lai, các khu vực trũng được chuyển sang trồng lúa nước mang lại hiệu quả hơn nên lễ ngả rạ chỉ còn mang tính tượng trưng và bà con thống nhất chọn ngày 26 tháng 10 âm lịch hàng năm để tổ chức lễ tập trung, xem đây là nét văn hoá đặc thù của xã Bình An.

II. Thực trạng thiết chế văn hoá và công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện

1. Thực trạng thiết chế văn hoá và các hoạt động văn hoá

Thống kê hiện nay toàn huyện có 01 nhà văn hóa cấp huyện, 20/22 xã, thị trấn có Nhà văn hoá; 20/22 xã, thị trấn có sân thể thao; 102/120 thôn, TDP có nhà văn hoá; 74/120 thôn, tổ dân phố có sân chơi thể thao; 01 thư viện cấp huyện, 02 thư viện điện tử, 08 tủ sách cơ sở; có 14 sân bóng đá 11 người, 30 sân bóng chuyền, 35 sân cầu lông, 11 sân bóng đá 5 người cỏ nhân tạo, 03 hồ bơi, 56 cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, 40 cơ sở hoạt động trò chơi điện tử công cộng, 01 Câu lạc bộ Đàn và hát dân ca xã Bình Thuận, 01 Câu lạc bộ Văn nghệ dân gian xã Bình Thạnh và nhiều Câu lạc bộ Gia đình văn hóa, gia đình hạnh phúc, thẩm mỹ, thể hình, yoga, thơ, …. được duy trì và hoạt động thường xuyên góp phần rất lớn nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân.

Năm 2017, UBND huyện Bình Sơn đã ban hành Kế hoạch số 78a/KH-UBND ngày 06/6/2017 về việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào Cor, thôn Thọ An, xã Bình An. Đến nay, đã đầu tư xây dựng nhà sàn (nhà dài) tại thôn Thọ An, huyện đã đầu tư chỉnh dòng suối và xây dựng suối hoa; mua sắm phục trang, chiêng, trống, truyền dạy dân ca, dân vũ cho đồng bào Cor, thôn Thọ An, góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc, phát triển du lịch.

Nhân dịp đón Xuân mới hàng năm, các xã, thị trấn, các đơn vị tổ chức nhiều hoạt động văn hóa - văn nghệ sôi nổi như: văn nghệ quần chúng, tổ chức chơi bài chòi, đua thuyền, bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, chạy việt dã, cờ tướng, có xã tổ chức Hội thi tìm hiểu Lịch sử đảng bộ xã, tạo không khí vui xuân lành mạnh, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ của Nhân dân. Hàng năm, có khoảng 35 đến 40 hoạt động văn nghệ quần chúng chào mừng các ngày Lễ, Tết, các sự kiện trọng đại của đất nước, địa phương được các cơ quan, đơn vị tổ chức. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội huyện thường xuyên tổ chức các hoạt động hội thi, hội diễn, VHVN, TDTT góp phần tuyên truyền và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong cán bộ, đoàn viên, hội viên như: Hội thi “Trưởng ban công tác Mặt trận giỏi”, “Chi hội Phụ nữ giỏi”, “Phụ nữ tự tin – duyên dáng”, “Phụ nữ thanh lịch”, “Phụ nữ khéo tay hay làm”, Hội thi “Cựu chiến binh giỏi”; giải bóng chuyền truyền thống nông dân tranh cúp “Bông lúa vàng”, phong trào “Thanh niên tình nguyện”, “đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”, các hoạt động về nguồn, “đền ơn đáp nghĩa”, hoạt động thể dục thể thao, Hội diễn văn nghệ quần chúng tuyên truyền các ca khúc cách mạng, .... Hoạt động sáng tác thơ, ca có nhiều khởi sắc, góp phần làm phong phú các hoạt động văn hóa như: Câu lạc bộ thơ “Bóng cả đất Châu” của thị trấn Châu Ổ ra mắt được tập thơ thứ XI, nhiều ca khúc viết về quê hương ra đời như: Bóng Trăng xuống cầu, Câu hò quê hương, Thị trấn Châu Ổ quê mình,... Các hoạt động văn hóa, văn nghệ tại cơ sở diễn ra sôi nổi; tổ chức thành công các kỳ Đại hội TDTT cấp huyện và cấp xã, tổ chức các đoàn vận động viên tham gia Đại hội TDTT cấp tỉnh có nhiều thành tích và đạt thứ hạng cao.

Những năm gần đây, huyện đã hỗ trợ kinh phí bảo tồn làng gốm Mỹ Thiện; giới thiệu, tuyên truyền khu trưng bày sản phẩm đồ cổ do ông Lâm Zũ Xênh, thị trấn Châu Ổ đầu tư thực hiện, là một trong những điểm thuộc chuỗi du lịch của huyện, thu hút nhiều du khách đến tham quan, tìm hiểu. Xây dựng bộ phim tư liệu “Bình Sơn – đất và người”, tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về địa lý, lịch sử, văn hóa và con người Bình Sơn với những truyền thống đáng tự hào, góp phần thực hiện tốt Nghị quyết 03-NQ/TU. Qua đó, lưu giữ những nét đẹp văn hóa của địa phương; tên tuổi của các thế hệ tiền bối, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và đồng bào Bình Sơn trong các giai đoạn cách mạng; giới thiệu, quảng bá hình ảnh Bình Sơn với bạn bè trong nước và quốc tế về những thế mạnh, tiềm năng phát triển cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, thu hút đầu tư và quảng bá du lịch; là công trình chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXVII. Hoàn thành việc biên soạn sách Địa chí Bình Sơn, đây được xem là sản phẩm văn hóa đặc sắc của huyện.

2. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện

Huyện Bình Sơn có 04 di tích quốc gia, 17 di tích cấp tỉnh, 10 địa điểm lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh thuộc danh mục kiểm kê có quyết định bảo vệ của UBND tỉnh Quảng Ngãi và 18 di tích đề nghị kiểm kê.

Công tác đầu tư, tu bổ, tôn tạo di tích được quan tâm, từ năm 2010, tiến hành xong việc cắm mốc và biển chỉ dẫn cho 16 di tích trên địa bàn (tại thời điểm được công nhận), với tổng kinh phí xây dựng 87,4 triệu đồng. Năm 2016, huyện đầu tư sửa chữa, nâng cấp bảng biển di tích trên địa bàn huyện. Đến năm 2020, đã nâng cấp, sửa chữa 14 bảng biển di tích với tổng kinh phí trên 856 triệu đồng.

Từ nguồn vốn của Tỉnh đầu tư xây dựng nhà thờ và sửa chữa mộ cụ Nguyễn Tự Tân, Trần Kỳ Phong (năm 2011); xây dựng Nhà thờ Nhà chí sĩ yêu nước Lê Ngung (2015); trùng tu, nâng cấp nhà thờ Nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Tự Tân, Trần Kỳ Phong (2021); Mộ Trần Công Hiến (2020); Căn cứ Truyền Tung (2021); Di tích Chiến thắng Gò Sỏi (2020); Đường và điện Di tích cấp quốc gia Địa đạo Đám Toái (2019); sơn sửa tượng đài Địa đạo Đám Toái và một số hạng mục Địa đạo Đám Toái (2021-2022); xây dựng nhà thờ cụ Võ Thị Đệ (2022); đường vào các điểm di tích Vụ thảm sát Bình Hòa (2020); phục dựng đình Thọ An – Di tích lịch sử Căn cứ Truyền Tung (2021) với kinh phí hàng chục tỷ đồng. Đồng thời, chỉ đạo Phòng Văn hóa và Thông tin huyện phối hợp với phòng Giáo dục và Đào tạo, Huyện đoàn ký kết kế hoạch liên tịch và phối hợp với các trường THPT: Bình Sơn, Lê Quý Đôn, Trần Kỳ Phong, Vạn Tường tiến hành thực hiện phong trào xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” về chăm sóc, bảo vệ và tuyên truyền, giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh cách mạng của Nhân dân ta và giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc thông qua các di tích lịch sử văn hóa; phân công các Trường học đảm nhận chăm sóc, bảo vệ, trồng cây xanh tại các di tích lịch sử; Huyện đoàn thường xuyên tổ chức tuyên truyền cho lực lượng đoàn viên thanh niên, thanh thiếu niên và tổ chức các hoạt động thiết thực như thắp nến tri ân, về nguồn… Qua đó, đã kết hợp hài hoà việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững với giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng cho Nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.



Chương 3:

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ KHƠI DẬY KHÁT VỌNG XÂY DỰNG HUYỆN BÌNH SƠN PHÁT TRIỂN, VĂN MINH, NGHĨA TÌNH



I. Quan điểm về phát huy giá trị văn hoá khơi dậy khát vọng xây dựng huyện Bình Sơn phát triển, văn minh, nghĩa tình

1. Giá trị văn hoá chính là nguồn lực cho sự phát triển

Văn hoá giúp quảng bá hình ảnh địa phương, tạo ra sự hấp dẫn cho không chỉ các sản phẩm và dịch vụ văn hoá, mà còn cho cả các dịch vụ kinh tế - xã hội khác. Chính vì lý do đó, nhiều địa phương xem văn hoá, dịch vụ văn hoá là một bộ phận của nền kinh tế. Giá trị văn hóa được coi là cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hiện thực hóa khát vọng Bình Sơn nói riêng.

2. Văn hóa là cơ sở, động lực để khơi dậy khát vọng phát triển

Theo một cách hiểu chung nhất, “khát vọng là một trạng thái tinh thần, phản ánh sự ước ao, mong muốn, đòi hỏi với một sự thôi thúc mạnh mẽ”. Nói đến khát vọng là nói đến yếu tố tinh thần, là sự mong muốn, khao khát, quyết tâm tập trung sức lực, trí tuệ để đạt cho được mục tiêu đã đề ra; là nguồn động lực có sức mạnh to lớn để thực hiện những nhiệm vụ nặng nề nhằm đạt được ước mơ, không khuất phục trước mọi thử thách…

Trước hết, phát huy giá trị văn hóa là cơ sở để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước của con người Việt Nam mà trực tiếp là khát vọng phát triển của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân huyện Bình Sơn. Vì sức mạnh văn hóa bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam được tích lũy qua hàng ngàn năm lịch sử nên khi giá trị văn hóa được phát huy, con người Việt Nam sẽ được gia tăng thêm năng lực, phẩm chất để vượt qua những khó khăn, thử thách; vươn đến những mục tiêu lớn hơn, khát vọng cao đẹp hơn.

3. Phát huy giá trị văn hóa là động lực để hiện thực khát vọng phát triển

Vì con người không chỉ là chủ thể sáng tạo ra văn hóa mà còn là đối tượng thụ hưởng các giá trị văn hóa nên khi giá trị văn hóa được phát huy, con người sẽ được nhân lên sức mạnh của chính mình, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của bản thân. Có thể nói, phát huy giá trị văn hóa trên địa bàn huyện là cách thức khơi dậy những mặt tích cực của con người, làm cho mỗi người phát huy được ưu điểm, thế mạnh của bản thân, từ đó có thêm nhiều điều kiện để thực hiện được khát vọng phát triển của bản thân nói riêng và khát vọng phát triển quê hương.

Như vậy, phát huy giá trị văn hóa của Bình Sơn chính là cách thức quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần từng bước hiện thực hóa khát vọng đưa huyện Bình Sơn phát triển nhanh, bền vững. Đồng thời, có đủ bản lĩnh, tinh thần để vượt qua những khó khăn, thử thách, hướng đến những mục tiêu tốt đẹp hơn - vì một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, vì một Bình Sơn văn minh - nghĩa tình.

II. Một số giải pháp để khơi dậy khát vọng xây dựng huyện Bình Sơn phát triển, văn minh, nghĩa tình

Được hình thành từ nhiều thế kỷ trước, mảnh đất Bình Sơn chứa đựng bề dày văn hoá khá phong phú, đa dạng với nhiều tầng văn hoá khác nhau. Quá trình khai phá, sinh cơ tạo nghiệp của các bậc hiền nhân cho đến quá trình đấu tranh cách mạng trong thế kỷ XX để xây dựng nên huyện Bình Sơn hôm nay cũng đồng thời hun đúc nên những bản sắc văn hoá và một hệ thống những di tích, những bản chất tốt đẹp của con người Bình Sơn. Đó là những giá trị tinh thần vô giá mà nếu như biết gìn giữ, phát huy đúng mức sẽ là động lực quan trọng tạo nên sức mạnh nội sinh và sẽ thúc đẩy công cuộc phát triển đi lên của huyện, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Có thể khái quát, nhận diện những giá trị văn hoá và xem đây là giải pháp để khơi dậy khát vọng xây dựng huyện Bình Sơn phát triển, văn minh, nghĩa tình.

1. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống yêu nước

Giá trị văn hóa nổi bật, bao trùm và xuyên suốt lịch sử dân tộc, làm nên sức mạnh bất diệt của con người Việt Nam trước hết, trên hết là chủ nghĩa yêu nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được phát triển lên thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhấn chìm bọn cướp nước và bán nước, thực hiện sứ mệnh thống nhất non sông, đưa đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa yêu nước cũng là cơ sở để phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, cần được kế thừa và phát huy trong thời đại mới và cần được chuyển hoá thành những hành động cụ thể, phù hợp với thực tiễn nhiệm vụ cách mạng của từng địa phương.

Người dân Bình Sơn với truyền thống yêu nước từ khá sớm. Thế kỷ XVIII, nhân dân Bình Sơn tham gia phong trào yêu nước, chống Pháp: phong trào Cần Vương (1885 - 1896) do Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Hà Trung Hậu chỉ huy; phong trào Duy Tân “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, khất thuế - cự sưu (1904 - 1908) do Lê Ngung và Trần Kỳ Phong tham gia lãnh đạo; phong trào Việt Nam Quang phục Hội (1912 - 1916) do Lê Ngung, Võ Quán, Võ Thị Đệ, Trần Thêm tham gia. Đầu năm 1921, cụ Trần Kỳ Phong từ ngục tù Côn Đảo trở về đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê nin, Cách mạng tháng Mười Nga và con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong trí thức, thanh niên và những người yêu nước ở Bình Sơn. Năm 1927, quần chúng yêu nước Bình Sơn hướng theo con đường cách mạng dân tộc dân chủ, cách mạng vô sản do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi hướng dẫn và lãnh đạo. Trong đó, có Trương Quang Trọng, Huỳnh Tấu là những người trực tiếp chỉ đạo.

Cuối năm 1930, Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên ở Bình Sơn được thành lập do đồng chí Phạm Quang Lãng làm Bí thư, sau đó phát triển thêm nhiều đảng viên và thành lập ba Chi bộ. Từ đây, phong trào cách mạng trong huyện dâng cao, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nhất là những hy sinh do địch đàn áp, khủng bố song vẫn lãnh đạo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng, tiến lên Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân. Sau năm 1945, chính quyền cách mạng được củng cố, Mặt trận Việt Minh, Liên Việt, các đoàn thể cứu quốc đã tập hợp hầu hết quần chúng vào các tổ chức cách mạng. Trong tuần lễ “quyên vàng xây nền độc lập”, nhân dân Bình Sơn đã đóng góp 5kg vàng, 700 đồng bạc trắng, 1.240kg đồng.

Yêu nước, yêu quê hương, yêu nguồn cội sẽ là tình yêu lớn bao trùm và chi phối toàn bộ nhận thức, tư duy và tình cảm của mỗi cá nhân. Từ đây, sẽ dẫn dắt và định hướng cho những hành động đúng, giúp chúng ta vượt qua những khó khăn, thử thách, kể cả việc hy sinh những lợi ích riêng tư để đóng góp có ý nghĩa vào thành quả chung của từng cơ quan, địa phương, đơn vị, hướng đến lợi ích của nhân dân và quá trình phát triển đi lên của huyện Bình Sơn và tỉnh Quảng Ngãi.

2. Luôn chú trọng xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên, nhất là người đứng đầu xứng đáng là hạt nhân lãnh đạo.

Sức mạnh của Đảng bộ ở chỗ Đảng thật sự tin dân, dựa vào dân, dân tin Đảng, bảo vệ Đảng. Việc xây dựng, củng cố, phát triển và giữ gìn Đảng bộ trong sạch vững mạnh, đoàn kết nhất trí trở thành ý chí phấn đấu của từng cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ huyện. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp uỷ, cơ quan phải thể hiện được tinh thần tiên phong, gương mẫu trong tư tưởng và hành động, trong mọi lĩnh vực công tác, nhiệm vụ được phân công đều dám nghĩa, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong những lúc khó khăn, phức tạp nhất.

Xây dựng và thực hiện khát vọng Bình Sơn là tư duy mới, đương nhiên sẽ có nhiều vấn đề mới, biện pháp mới đòi hỏi quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và nhân dân, sự phối hợp đồng bộ, trách nhiệm của các ngành, các cấp trong huyện; trong đó, việc thay đổi nhận thức, chuyển hoá những giá trị văn hoá, tinh thần là một quá trình cần phải kiên trì. Hơn ai hết, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải gương mẫu, phải tiên phong để dẫn dắt, định hướng và cả trong khâu tổ chức thực hiện, tạo dựng niềm tin cho các tầng lớp nhân dân làm theo.

3. Phải luôn chú trọng, quan tâm đúng mức vai trò văn hoá

Tổng kết Lịch sử Đảng bộ huyện Bình Sơn giai đoạn 1975 - 2005 đã rút ra bài học kinh nghiệm quý báu, đó là: “Trình độ kinh tế có vai trò quyết định trình độ văn hoá - xã hội, nhưng văn hoá - xã hội không hoàn toàn thụ động trước sự phát triển của kinh tế, ngược lại, văn hoá xã hội có khả năng tạo ra động lực cho phát triển của kinh tế. Vì vậy, đầu tư cho văn hoá - xã hội không phải đơn thuần là đầu tư cho phúc lợi mà chính là đầu tư cho sản xuất, cho phát triển kinh tế. Đồng thời với lãnh đạo phát triển kinh tế phải chăm lo thường xuyên, đầy đủ, chu đáo đến các hoạt động văn hoá - xã hội, đến đời sống tinh thần của quần chúng. Bản thân đời sống văn hoá - xã hội rất đa dạng phong phú, tác động qua lại với nhau, tạo cơ hội thúc đẩy phát triển hoặc kìm hãm nhau. Thực tiễn ở huyện chỉ ra rằng: một mặt nào đó của đời sống xã hội mà thấp kém, không tương ứng với các mặt khác thì sẽ làm giảm đi hiệu quả hoạt động của các mặt khác và ngược lại. Phong trào xây dựng khu dân cư văn hoá phát triển mạnh thì các mối quan hệ trong mỗi cộng đồng sẽ thắt chặt hơn, từ đó sức mạnh đoàn kết được nhân lên”.

4. Phát huy bản chất cần cù, sáng tạo trong lao động, truyền thống hiếu học, đoàn kết, thuỷ chung, tự lực, tự cường, nhân ái, nghĩa tình

Bình Sơn là nơi có truyền thống hiếu học, thời kỳ Nho học toàn huyện có 15 người đậu Cử nhân (giai đoạn 1840 - 1906) tại các trường thi Hương ở Thừa Thiên, Bình Định. Người đỗ sớm nhất (năm 1840) là ông Đặng Công Tuấn (quê ở Châu Me, xã Bình Châu), người đỗ sau cùng (năm 1906) là ông Huỳnh Ngọc Trác (quê ở Thạch An, xã Bình Mỹ) và có rất nhiều người đậu Tú tài. Ngày nay, con em Bình Sơn phần lớn được học tập, đào tạo bài bản, trong đó có nhiều người làm công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đào tạo lớn, có uy tín. Nơi đây cũng là quê hương của những nhà hoạt động văn hoá nổi tiếng như nhà thơ Tế Hanh, giáo sư Nguyễn Lộc, giáo sư Thế Bảo, tiến sĩ Hoàng Lãi, tiến sĩ Lê Minh Triết, tiến sĩ Lê Minh Khôi, PGS.TS Võ Văn Minh,…

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, huyện Bình Sơn cũng có những đóng góp nổi bật. Tuy gian khó, ác liệt của chiến tranh, bọn địch gây ra nhiều tội ác, trong đó có 02 vụ thảm sát lớn ở địa đạo Đám Toái và ở Bình Hoà. Song cũng chính trên mảnh đất này, quân và dân ta vẫn giữ thế chủ động tiến công, chủ động có trận đấnh Mỹ đầu tiên ở Bến Lăng, đặc biệt là chiến thắng Vạn Tường, mở ra khả năng ta có thể đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Trong thời kỳ địch thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, Đảng bộ và quân dân Bình Sơn vẫn kiên trì trụ bám, kiên định phương châm “hai chân ba mũi giáp công”, liên tục tấn công tiêu diệt địch. Các xã tây Bình Sơn trở thành địa bàn vững chắc của huyện và là một trong những địa bàn đứng chân của các lực lượng của tỉnh và Khu V.

Cống hiến vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của dân tộc trong thế kỷ XX, đã có hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Bình Sơn tham gia chiến đấu, công tác trên các chiến trường, để lại tuổi thanh xuân, máu và nước mắt thấm đẫm vào từng thớ đất thân yêu; và cũng từng ấy người mẹ, người chị tiễn đưa chồng con ra mặt trận, âm thầm làm cơ sở hoạt động, giúp đỡ cách mạng. Đến nay, Nhà nước đã công nhận 7.349 liệt sĩ, 3.699 thương bệnh binh, 1.542 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, 3.288 người tham gia hoạt động cách mạng bị địch bắt tù đày, 455 người bị phơi nhiễm chất độc da cam và có 10.155 người được tặng thưởng huân, huy chương các loại. Toàn huyện có 23 đơn vị và 12 cá nhân được phong tặng, truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Điều đó nói lên sự hy sinh, mất mát vô cùng to lớn song cũng rất đỗi anh hùng, phản ánh sinh động tinh thần kiên trung, bất khuất của nhân dân Bình Sơn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lịch sử Đảng bộ huyện Bình Sơn (1930 - 1975) viết: “Vốn mang đầy đủ sắc thái cần cù sáng tạo trong lao động, dũng cảm kiên cường trong đấu tranh ở một miền quê nghèo ven biển miền Trung, nơi “đất bạc người chăm”, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã phát huy truyền thống của các bậc tiền bối tỉnh Lê Trung Đình, huyện Nguyễn Tự Tân - nơi sản sinh ra những người con yêu nước, những người cách mạng kiên cường bất khuất như: Trần Kỳ Phong, Võ Thị Đệ…, đã góp phần xứng đáng cùng nhân dân trong tỉnh, cả nước có mặt trong các thời kỳ đấu tranh, đoàn kết thuỷ chung đưa sự nghiệp cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thắng lợi hoàn toàn. Từ những đặc điểm và truyền thống vốn có của quê hương, nhân dân trong huyện làm cách mạng theo Đảng đến cùng, với tinh thần tự lực, tự cường, sáng tạo vươn lên giành thắng lợi”.

Trong chiến tranh cũng như trong thời bình, huyện Bình Sơn vẫn luôn là mảnh đất thuỷ chung, nghĩa tình, vẫn luôn giữ mối quan hệ gắn bó với nhiều đơn vị bạn như huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, huyện Quỳnh Lưu, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình…Đó là sự cổ vũ, giúp đỡ vô tư, chí nghĩa chí tình, là động lực kết nối các thế mạnh về kinh tế, học hỏi kinh nghiệm để cùng phát triển.

5. Cần phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh

Huyện Bình Sơn được hình thành từ nhiều thế kỷ trước với nhiều tên gọi và địa giới hành chính khác nhau và được kế thừa di sản văn hoá khá phong phú. Qua công tác khảo cổ, từ đầu thế kỷ XX, những người khảo cổ học người Pháp đã phát hiện được di tích văn hoá Sa Huỳnh. Sau năm 1975, đã tiếp tục phát hiện nhóm di chỉ Bình Châu ở giai đoạn trung kỳ đồng thau. Về văn hoá, có phế tích tháp Chăm ở Gò Sỏi, xã Bình Trung.

Trong văn hoá của cư dân Việt, ở khu vực ven biển có hội đua thuyền, hát bả trạo, tục thờ cá Ông; xen lẫn trong các làng xã, cộng đồng dân cư là những đình, chùa, miếu được xây dựng từ rất lâu đời, đẹp mắt.

Ở huyện Bình Sơn có nhiều danh thắng đẹp như: An Hải sa bàn, Vu Sơn lộc trưởng, đèn biển Ba tâng gân, bãi tắm Khe Hai, chùa Thình Thình … và đến nay có 21 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đặc sắc được các cấp có thẩm quyền xếp hạng di tích (gồm 04 di tích cấp Quốc gia và 17 di tích cấp tỉnh).

Với hệ thống các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh dày đặc, đa dạng, nếu được bảo tồn, tôn tạo tốt sẽ góp phần quan trọng vào việc giáo dục truyền thống, bản sắc tốt đẹp của văn hoá bản địa, đồng thời kết nối với các loại hình dịch vụ sẽ tạo nên những giá trị sản xuất cả trực tiếp và gián tiếp để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của huyện; vừa là điểm nhấn, là địa chỉ đỏ để hình thành đậm nét nhân cách, lối sống văn minh, nghĩa tình.

6. Không ngừng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa

Để xây dựng huyện Bình Sơn phát triển và phát triển vượt bậc, trở thành trung tâm động lực kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi gắn liền với thực hiện công bằng xã hội, xây dựng môi trường văn hoá, đời sống văn hoá lành mạnh, văn minh, nghĩa tình, cần thiết phải xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Đó là con người Bình Sơn phát triển toàn diện đức, trí, thể, mỹ; có đầy đủ những đặc tính cơ bản yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tự trọng, tự chủ, trung thực, đoàn kết, sáng tạo, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; ham học hỏi và luôn có khát vọng vươn lên. Đó là những con người mới có hiểu biết về văn hoá, có khả năng cảm nhận và có thể tự tin tham gia các hoạt động văn hoá bản địa của huyện Bình Sơn; am hiểu về Bình Sơn, biết tự khắc phục những điểm yếu, phát huy những mặt mạnh, biết dấn thân và dám hy sinh; có lối sống văn minh, nhân ái, nghĩa tình, biết tự hào về quê hương.

Muốn vậy, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể phải quán triệt quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ về xây dựng văn hoá, con người trong giai đoạn cách mạng hiện nay gắn với chuyên đề toàn khoá Đại hội XIII của Đảng về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đề cao vai trò, trách nhiệm và những giá trị văn hoá tốt đẹp của gia đình để gia đình thực sự là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, tình yêu quê hương, Tổ quốc, đồng bào. Xây dựng môi trường giáo dục thực sự là nơi rèn luyện, phát triển toàn diện con người về lý tưởng, phẩm chất đạo đức cách mạng, nhân cách, lối sống, là nơi khởi nguồn, phát huy tốt nhất tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân. Chú trọng xây dựng văn hoá trong Đảng, trong bộ máy nhà nước và cả hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất chính trị, đạo đức, tận tuỵ, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có ý thức thượng tôn pháp luật, dân chủ đi dôi với kỷ luật, kỷ cương. Đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong thực hiện các chuẩn mực đạo đức, nếp sống văn minh, đời sống văn hoá ở cơ quan và nơi cư trú.

Bên cạnh đó, theo xu thế phát triển, Bình Sơn đang có hàng chục ngàn lao động, công nhân, kỹ sư, chuyên gia, kể cả người nước ngoài đến làm việc, sinh sống trên địa bàn huyện. Đó là nguồn lực góp phần quan trọng để xây dựng huyện Bình Sơn phát triển, cũng là cơ hội để giao lưu các vùng miền, các nền văn hoá khác nhau nên cần có ứng xử phù hợp trên tinh thần hiếu khách, tôn trọng sự khác biệt. Huyện Bình Sơn cũng có hàng ngàn người đang sinh sống, làm việc, học tập trên các vùng miền cả nước và nước ngoài. Dù có ở đâu, làm gì, mỗi người cũng đều thấm đẫm trong mình dòng chảy của văn hoá Việt, phải biết trân quý, yêu thương, giữ gìn và phải ý thức trách nhiệm truyền đi thông điệp của đất nước, của quê hương.

Tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc ngày 24/11/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần khẳng định vai trò to lớn của văn hoá và xác định nhiệm vụ: “khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc, tạo nguồn lực nội sinh và động lực đột phá để thực hiện thành công mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, 2030, tầm nhìn đến năm 2045 mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra”. Quán triệt quan điểm trên, cả hệ thống chính trị và từng địa phương, đơn vị trong huyện Bình Sơn cần phát huy truyền thống yêu nước, kiên trung bất khuất, tinh thần cách mạng tiến công, tự lực, tự cường, nỗ lực lao động, học tập, công tác; đẩy mạnh các phong trào thi đua, trọng tâm là thi đua yêu nước và các đợt thi đua chuyên đề, thi đua lao động sáng tạo để xây dựng quê hương và có sức lan toả trên các lĩnh vực đời sống xã hội; làm tốt công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, đẩy nhanh cải cách hành chính và chuyển đổi số; huy động tốt các nguồn lực để đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhất là các dự án lớn để tạo động lực cho các ngành kinh tế phát triển theo định hướng; thực hiện tốt an sinh, công bằng xã hội, thực hành dân chủ rộng rãi để tăng cường đồng thuận; quyết tâm biến khát vọng Bình Sơn sớm trở thành hiện thực.

Bình Sơn, tháng 8 năm 2023



Ghi chú: Nội dung bài viết có nghiên cứu, tham khảo và trích dẫn các nguồn tài liệu dưới đây:

1. Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc

2. Đề cương Văn hoá năm 1943 và các Nghị quyết chuyên đề của Trung ương về văn hoá

3. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020 - 2025

4. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Bình Sơn lần thứ XXVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025

5. Địa chí Quảng Ngãi xuất bản năm 2008

6. Địa chí Bình Sơn xuất bản năm 2021

7. Lịch sử Đảng bộ huyện Bình Sơn (1930 - 1975), xuất bản năm 2006

8. Lịch sử Đảng bộ huyện Bình Sơn (1975 - 2005), xuất bản năm 2010

9. Báo cáo số 172-BC/HU ngày 20/4/2021 sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 19/10/2016 của Tỉnh ủy khóa XIX về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững

10. Bài viết Phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của PGS. TS. Phạm Duy Đức, Học viện Chí trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...