Thứ Tư, 23 tháng 10, 2024

BÌNH SƠN VỚI LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN 2023 (ThS. Vũ Đức Tế)

I/ Vài nét về bối cảnh kinh tế - xã hội tác động đến giáo dục - Đào tạo Quảng Ngãi.

Như chúng ta đã biết, từ cuối những năm 1975 - 1980, nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội một cách trầm trọng. Trong quá trình thực hiện những biện pháp cải cách, chúng ta lại phạm một số sai lầm mới nên khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra ngày càng gay gắt, tỉ lệ lạm pháp lên đến 774,7% vào năm 1986. Tỉnh Quảng Ngãi nói chung, huyện Bình Sơn nói riêng cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó.

Cuối năm 1986, tại Đại hội VI, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, đặc biệt sau Đại hội VI, công cuộc đổi mới được triển khai mạnh mẽ.Tuy nhiên, những kết quả đạt được còn hạn chế và chưa vững chắc, nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh. Đại hội VII (1991) của Đảng nhận định: “Công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, nhưng nước ta vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội”. Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đảng ta và nhân dân ta kiên trì đường lối đổi mới, ra sức thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, vượt qua khó khăn, trở ngại, giành nhiều thắng lợi mới .

Về công cuộc đổi mới trong 10 năm 1986 -1996 Đảng ta đánh giá: Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991-1995 đã được hoàn thành về cơ bản; đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc. Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn.

Đại hội XI, Hội nghị Trung ương 8 đề ra Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.

Huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi trong hai cuộc kháng chiến là mảnh đất kiên trung, bất khuất. Chính vì vậy chiến tranh cũng đã để lại trên mảnh đất này biết bao sự tàn khốc, đói nghèo. Đất nước được thống nhất, người dân Bình Sơn một lòng đi theo Đảng. Bước vào công cuộc đổi mới, quê hương ta đã và đang từng bước tự khẳng định mình. Từ ngày Khu kinh tế Dung Quất - hạt nhân thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi nói riêng - Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nói chung, được đưa vào hoạt động đời sống của người dân Bình Sơn khởi sắc. Trong giai đoạn hiện nay Giáo dục Bình Sơn có nhiều động lực để phát triển nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức.

II/ Một số thành tựu và hạn chế của GD-ĐT Bình Sơn từ năm 1986 đến nay.

1.Một số thành tựu: Ở tất cả các cấp học như Mầm non; Tiểu học; Trung học cơ sở; Trung học phổ thông; Hướng nghiệp dạy nghề ở Bình Sơn từ năm 1986 đến nay đều có nhiều thành tựu đáng kể. Nhất là qua 30 năm tái lập tỉnh (1/7/1989-1/7/2019), chất lượng giáo dục đào tạo tại Quảng Ngãi nói chung, huyện Bình Sơn nó riêng, đã có bước phát triển vững chắc, toàn diện trên các mặt, từ quy mô đến chất lượng; theo đó chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH tỉnh nhà. Xin đưa ra vài số liệu:

1. Cấp học Mầm non, Tiểu học và Trung hoc cơ sở. (xin viết tắt: Trung học cơ sở = THCS; Trung học phổ thông=THPT; Cán bộ = CB; Giáo viên = GV; Học sinh = HS; Tỷ lệ=TL; Giáo dục- Đào tạo = GD-ĐT; Học lực = HL; Hạnh kiểm = HK; Trung bình =TB)


Năm học/

Cấp học

Trước

1985- 1986

2007-2008

2011-2012

2022-2023


Cấp Mầm non










Trường

27 (+1 nhà trẻ)

28

29 ( 03 trường tư thục)

30 (08 trườngtư thục)


Lớp



169

204

350


Cháu



4377

5425

8935


Năm học/

Cấp học

Trước

1985- 1986

2007-2008

2011-2012

2022-2023


Cấp Tiểu học










Trường

35

34

34

22


Lớp



547

533

522


Học sinh



15069

13583

15.940


Cấp THCS










Trường

25

23

24

17+6trường TH, THCS


Lớp



411

328

291


Học sinh



16520

12177

10.539


CB - GV

700

1870

2.000

2186


Chuẩn và trên chuẩn

75%

99,83%

100%

100%


GVDG

Cấp huyện

Cấp Tỉnh







35/35 GV đạt giải. 27/30 GV đạt cấp Tỉnh

45/45 GV đạt giải.

29/32 GV đạt giải cấp tỉnh


Trường đạt CQG(Mức độ 1)



1,17%

35,7%

71,6%


+ THCS



26%

45,83%

91,3%.


+ Tiểu học



2,35%

50%

90,9%;


+ Mầm non



3,57%

7,69%

40,9%;




Ngoài ra: Bình Sơn đã hoàn thành phổ cập giáo dục-chống mù chữ 25/25 xã thị trấn đạt chuẩn (2012); tiểu học vào năm 2000; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ I (2014); hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010.

Năm học 2022-2013: Chất lượng: Lớp 4,5 đạt 99,8%; Lớp 1,2,3 đạt 99,5%;

Đánh giá 2 mặt: Lớp 6, lớp 7 : Kết quả học tập: Tốt, Khá: 55,83%; Kết quả rèn luyện: Tốt, Khá: 96%; Đối với các lớp 8, 9: Về học lực: Giỏi, Khá 54,58%; Về hạnh kiểm: Tốt Khá 97,82 . Công nhận tốt nghiệp THCS 99,1%.

Tổ chức tốt các Hội thi cấp huyện và tham gia các Hội thi cấp tỉnh, quốc gia:

Thi HSG lớp 9 cấp huyện: 409 học sinh đạt giải .Thi HSG lớp 9 cấp tỉnh. 88 giải .Thi HSG lớp 6 cấp huyện: 216 học sinh đạt giải .Thi HSG lớp 7 cấp huyện: 177 học sinh đạt giải Thi HSG lớp 8 cấp huyện: 266 học sinh đạt giải .

Thi Khoa học kỹ thuật cấp huyện: có 28 dự án/22 đơn vị tham gia dự thi . Kết quả Đạt 28 giải .Thi Khoa học kỹ thuật cấp tỉnh: Dự thi 4 dự án có 02 dự án đạt giải.

Tin học và Ngoại ngữ 100% các trường đảm bảo theo chương trình phổ thông 2018.

100% trường công lập đã triển khai hệ thống office kết nối nội bộ trong ngành; phát hành văn bản, báo cáo đều sử dụng trên office; đến cuối năm học 2022-2023 100% các nhà trường đã thực hiện ký số. Đối với cấp THCS, tất cả giáo viên đều sử dụng phần mềm SMAS đánh giá học sinh, cũng như trên hệ thống cơ sở dữ liệu ngành đảm bảo theo quy định, đạt 100%. Cấp Tiểu học: Thực hiện đánh giá học sinh trên cơ sở dữ liệu ngành đạt 100%.

2. Giáo dục THPT.






Năm học

Trường



Tổng số lớp

Tổng số HS

TL bỏ học

Tổng số GV



Một số kết quả nỗi bật


+HSG

Tỉnh



GV DG tỉnh

HS được tặng học bổng

Tổng tiền

Chất lượng GD-ĐT

(Tỷ lệ %)


HL TB trở lên

HK khá , Tốt

TL TN


1985 1986

Bình Sơn

27

1472

0.33

51









96

93

78


Vạn Tường

6

231

Không có HS bỏ hoc

14









69

26

75








2012 2013





Bình Sơn

41

1902

0.63

92



125

+QG: 2

41

120 em

16,5 triệu

đồng

90.11

98.7

100


Vạn Tường

39

1744

1,6%

94



13



7

120 em

165 triệu đồng

77,24

31,62

99,8


Trần Kỳ Phong

39

1622

0,18%

90



50

22

135 em

75 triêu đồng

80,2

93,2

99,71


Lê Quý Đôn

36

1378

3,3%

78



8

36

115 em

70 triệu

80

85

98




2022 2023

Bình Sơn

33

1390

0,07%

81

100%

11

68

530 em

348 triệu

96,3

100

100


Vạn Tường

38

1465

1,2%

94



15

44

77 em

108,4 triệu

91,1

69,9

99,5


TKP

33

1361

0,07%

86



62



63

648

175 triệu

99,4

99,5

99,7


LQĐ

32

1267

1,5%

74



5

48

420

125 triệu

82

90

99





+ Năm 2022- 2023:Ngoài ra THPT Bình Sơn đạt 3 giải nhất tỉnh KHKT; 2 sản phẩm tham gia QG; +1 giải nhất Robocom tỉnh QN.

Có thể nói để có nền giáo dục phát triển, liên tục trong mấy mươi năm, ngành giáo dục đã có những giải pháp đổi mới tích cực, khắc phục nhiều hạn chế, yếu kém. Một số mô hình giáo dục mới đã được triển khai như với định hướng lấy học sinh làm trung tâm và thí điểm mô hình ở cấp trung học cơ sở; chương trình Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục; mô hình trường học gắn kết với sản xuất, kinh doanh tại địa phương… góp phát triển năng lực và hình thành phẩm chất người học.

Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách công bằng trong tiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng khó khăn. Những thay đổi trong chính sách đãi ngộ đối với giáo viên cũng tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của bậc phổ thông.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, giáo dục Quảng Ngãi nói chung trong đó có giáo dục Bình Sơn, chỉ chủ yếu tập trung cải cách bậc phổ thông, thiếu giải pháp đồng bộ. Đó cũng là lý do ra đời đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế," được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (khóa XI) năm 2013 thông qua. Mục tiêu tổng quát và những nội dung cốt lõi của Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” .

Bên cạnh những thuận lợi, trong những năm qua, ngành giáo dục và đào tạo Quảng Ngãi nó chung, Bình Sơn nói riêng, đối mặt với nhiều khó khăn: Việc đầu tư cho giáo dục còn thấp so với nhu cầu, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy học còn thiếu, chưa đồng bộ; công tác quy hoạch mạng lưới trường, lớp học chưa sát với thực tiễn; một số giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục chưa bắt kịp yêu cầu đổi mới trong quản lý, đổi mới phương pháp dạy học; sự quan tâm cho giáo dục và đào tạo giữa các địa phương không đồng đều; một số hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách thực thi còn chậm so với hiệu lực thi hành của Nghị định, hoặc đã được ban hành nhưng không phù hợp với thực tế. Phát huy những thuận lợi và khắc phục những khó khăn, ngành giáo dục và đào tạo đã tích cực, chủ động, nỗ lực triển khai thực hiện 09 nhóm nhiệm vụ, giải pháp theo tinh thần Nghị quyết 29; Chương trình hành động 51-CTr/TU của Tỉnh ủy, 04 Kết luận, 05 NQ chuyên đề của TU khóa XIX có liên quan đến GD ĐT, Các NQ của huyện ủy Bình Sơn… góp phần từng bước nâng cao chất lượng dạy và học.

Trên cơ sở khai thác và phát huy triệt để mọi tiềm năng lợi thế sẵn có, qua 5 năm triển Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXVI, huyện Bình Sơn đã gặt hái được những thành tựu nổi bật trong đó có thành tựu của ngành GD-ĐT.

Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện NQ 29-NQ/TW, Ngành GD-ĐT Quảng Ngãi đã khẳng định: Chất lượng giáo dục và đào tạo từng bước được củng cố và có bước phát triển vững chắc, toàn diện hơn. Tỷ lệ học sinh khá, giỏi, đạt hanh kiểm tốt tăng hơn so với trước; tỷ lệ hoc sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng hằng năm tăng đáng kể; mạng lưới trường, lớp học được đầu tư cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em; đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên các cấp học từ mầm non đến giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên đã đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

2. Một số tồn tại, hạn chế

+ Công tác truyên truyền, quán triệt về chương trình, nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo ở một số nơi chưa thật sự quan tâm đến công tác đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; xem đổi mới giáo dục là nhiệm vụ của ngành giáo dục.

+ Việc quy hoạch, sắp xếp mạng lưới trường lớp học ở một số nơi chưa phù hợp với thực tế; một số xã còn thiếu phòng học, phòng chức năng, sân chơi, bãi tập, nhà vệ sinh chưa đạt yêu cầu, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa như Bình An, Bình Khương.

+ Tình trạng giáo viên còn thừa, thiếu cục bộ, nhất là đối với cấp mầm non, trung học cơ sở, gây bất cập cho ngành trong phân công, bố trí vị trí việc làm.

+ Một số cán bộ quản lý chưa năng động trong đổi mới quản lý theo hướng phân cấp, phân

quyền cho cơ sở; một số giáo viên chưa bắt kịp yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học.

+ Nguồn lực đầu tư cho giáo dục chưa tương xứng và đáp ứng nhu cầu, nhiều trường được công nhận chuẩn quốc gia ở giai đoạn trước, một số tiêu chuẩn đã rớt chuẩn; nguồn vốn của địa phương không đáp ứng kịp thời trong công tác chống xuống cấp; việc huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục đào tạo chưa cao.

+ Công tác quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập; cơ chế, chính sách về ngành giáo dục và đào tạo chưa nhất quán, chậm sửa đổi, bổ sung.

III/ Một số suy nghĩ, đề xuất để Giáo dục Bình Sơn góp sức mình cho “Khát vọng Bình Sơn” sớm trở thành hiện thực.

1. Xin đề xuất với Thường trực Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện: Trước hết, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 29 gắn với thực tế địa phương, với 5 nội dung cốt yếu Ngành giáo dục và đào tạo lựa chọn, là điểm đột phá để giáo dục và đào tạo Bình Sơn cùng với Ngành GD-ĐT Quảng Ngãi tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng.

+ Tiếp tục quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức về quan điểm của Đảng, Nhà nước; các chủ trương, chính sách về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện Nghị quyết số 29. Đặc biệt phân định rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo trên địa bàn theo Nghị định số 127/2018/NĐ-CP ngày 21/9/2018 của Chính phủ, trong đó, gắn trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền và người đứng đầu để tạo cơ hội, điều kiện cho giáo dục phát triển ngày càng tốt hơn.

+ Kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp; vì mọi nỗ lực đổi mới nào cũng bắt đầu từ đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo. Kịp thời ứng dụng mạnh mẽ về công nghệ thông tin, đổi mới nội dung, phương thức sinh hoạt chuyên môn, đi vào chiều sâu theo hướng để tự cập nhật kiến thức mới, phương thức tổ chức hoạt động học cho học sinh, cách giải quyết vấn đề, các tình huống thực tiễn. Xây dựng phương án, vị trí việc làm để đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, vững vàng về chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đổi mới chương trình giáo dục phổ thông gắn với thực hiện Nghị quyết số 29.

Huyện cần qui hoạch tổng thể hệ thống trường lớp cho đồng bộ trên phạm vi toàn huyện, đầu tư trang thiết bị, đồ dùng dạy học, đặc biệt là bàn ghế học sinh... theo khảo sát hiện nay 70% các trường trên địa bạn huyện bàn ghế quá cũ và hư hỏng không đáp ứng theo thông tư 16,17, 18 về trường lớp học của Bộ GD - ĐT; Khẩn trương chỉ đạo Phòng GD - ĐT hoàn thành 3 Đề án nêu trên để có cơ sở pháp lý triển khai thực hiện…

Đầu tư phát triển cơ sở vật chất để đảm bảo con em Bình Sơn có đủ trường, phòng để học, vì khi phát triển đô thị, sẽ gia tăng dân số.

Hiện khu vực trung tâm của huyện chỉ có Trường THCS Nguyễn Tự Tân ( trường chuyên) và Trường THCS Thị trấn Châu Ổ nên chưa đáp ứng đủ việc học tập của con em khi lên đô thị hạng 4, hạng 3. Nên xây dựng thêm 01 cơ sở giáo dục trường THCS ở phía Bắc của thị xã.

Hiện toàn huyện có 04 trường THPT nhưng nằm ở trung tâm huyện có 02 cơ sở, phía đông nam có 01 cơ sở, phía bắc có 01 cơ sở. Vì thế nên xây dựng thêm 01 cơ sở giáo dục THPT ở phía đông bắc (khu vực Nhà máy Lọc hóa dầu Bình Sơn, khu công nghiệp Hòa Phát) để đáp ứng việc học tập của con em của công nhân, của doang nghiệp.

Khi lên thị xã, một số Xã sẽ chuyển thành Phường vì vậy để giáo dục con em những truyền thống tốt đẹp của quê hương nên đổi tên một số trường THCS mang tên những danh nhân, những chí sĩ yêu nước, những người con ưu tú của quê hương Bình Sơn. Ví dụ: Trường THCS Bình Thanh đổi thành Trường THCS Lê Ngung; Trường Tiểu học Bình Tân Phú đổi thành Trường Tiểu học Nguyễn Bi...

Tập trung rà soát đề xuất nhập các điểm trường về 1 điểm trường chính, đối với các trường có nhiều điểm trường. Đề xuất đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng dạy học... định hướng xây dựng trường trở thành trường học tiên tiến và hội nhập quốc tế theo Đề án của huyện và trường trở thành chuẩn quốc gia mức độ 2..

Các trường phải có từng kế hoạch cụ thể để bám sát từng nội dung và triển khai thực hiện!

2. Đối với Ngành GD-ĐT và các cơ sở giáo dục trên địa bàn huyện Bình Sơn:

+ Tiếp tục tham mưu với Huyện và Sở GD - ĐT bố trí để đảm bảo hàng năm ngân sách tỉnh chi cho giáo dục và đào tạo Bình Sơn tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách; đủ kinh phí hoạt động chuyên môn và các hoạt động khác của ngành. Sử dụng có hiệu quả mọi nguồn kinh phí, ưu tiến bố trí ngân sách để đảm bảo cơ sở vật chất cho các trường học

+ Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên tiếng Anh nói riêng, ở các cấp học đạt trình độ theo quy định của Bộ GD - ĐT.

+ Quan tâm đến công tác Khuyến học, khuyến tài; Phát huy hết vai trò của xã hội hóa giáo dục. Làm tốt công tác truyên truyền để toàn xã hội chung tay làm giáo dục, để mọi cơ quan, đoàn thể, công ty, xí nghiệp và toàn dân đặc biệt các nhà hảo tâm hiểu rằng: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội”.

Tìm mọi biện pháp để tất cả con em trong độ tuổi đều được đến trường học. Học sinh nghèo, khó khăn được miễn giảm học phí; Hoc sinh giỏi được học bỗng, được khen thưởng với mức thưởng đủ sức khích lệ, động viên các em.

+ Các CSGD trên địa bàn huyện quan tâm đến công tác giáo dục hướng nghiệp gắn với nhu cầu về nguồn nhân lực của huyện nhà, đảm bảo chất lượng và số lượng trong tình hình mới.

Như chúng ta đã biết Bình Sơn là điểm đến lý tưởng của nhà đầu tư. Như vậy, điều tôi muốn nói ở đây là các em học sinh của tỉnh Quảng Ngãi nói chung, của huyện Bình Sơn nói riêng đã, đang và sẽ “có đất dụng võ”. Vấn đề bây giờ là các em phải học và chọn cho mình một con đường đi.

Giáo dục Hướng nghiệp đã được đưa vào trường học rất nhều năm nay. Nếu như trước đây thầy cô giáo đã thực hiện nhiệm vụ này rất tâm huyết, rất trách nhiệm thì bây giờ phải tâm huyết hơn, trách nhiệm hơn. Phân luồng học sinh để hướng nghiệp. Không nhất thiết mục đích hướng tới phải là Đại học, Cao đẳng. Tùy sức, tùy lực để các em chọn cho mình một nghề. Các cơ sở dạy nghề chọn nghề dạy mang tính thự tiễn hơn.

Tôi nghĩ nên chăng có sự kết hợp chặt chẽ giữa công tác Khuyến học, khuyến tài - Xã hội hóa giáo dục với Hướng nghiệp ? Ở một số trường Đại học lớn trong nước cũng như nước ngoài các Tập đoàn kinh tế, các Công ty, Xí nghiệp, Nhà máy đến các Trường Đại học chọn học sinh có kết quả xuất sắc mời về làm việc sau khi tốt nghiệp, nếu có nguyện vọng học thêm họ hỗ trợ tài chính. Chúng ta có thể làm thử không ? Các Nhà máy xí nghiệp hợp đồng với các cơ sở giáo dục - trước hết là trong Huyện, số lượng công nhân, kỹ sư theo ngành nghề, cho học sinh đăng ký. Đây cũng là việc làm mang tính “xúc tác” để các em có động cơ học tập tốt. Những em học xuất sắc, đi học ở nước ngoài, tỉnh có những chính sách thì huyện cũng nên có những chế độ ưu đãi để thu hút nhân tài vể địa phương.

+ Giáo dục Bình Sơn đã đưa ra định hướng giai đoạn 2023 - 2025: tăng cường đầu tư cơ sở vật chật chất thông qua Đề án "Quy hoạch tổng thể trường học huyện Bình Sơn" giai đoạn 2023 - 2025, định hướng 2030. Phấn đấu 100% các trường TH, TH&THCS, THCS đạt chuẩn quốc gia và 50% các trường MN đạt chuẩn QG..

Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo thông qua 2 Đề án "Trường học tiên tiến" và Đề án "Ngoại ngữ" giai đoạn 2023 - 2025, định hướng 2030. Do đó các cơ sở giáo dục trên địa bàn cần tìm ra giải pháp cụ thể để thực hiện có hiệu quả.

Trên đây là một số suy nghĩ của cá nhân tôi, hy vọng đóng góp ý kiến với quê hương để Khát vọng Binh Sơn trở thành hiện thực.

Quảng Ngãi, ngày 20 tháng 9 năm 2023.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo Tổng kết năm học của GD-ĐT huyện Bình Sơn;

2. Báo cáo của UBND huyện Bình Sơn, tổng kết 03 năm thực hiên chỉ thị số 22-CT/TU ngày 07/9/2007 của BTV Tỉnh ủy;

3. Bình Sơn nỗ lực lên thị xã, Thời sự Truyền hình PTQ 19h45 ngày 2/5/2023/Thục Uyên, Trường Thịnh;
4. Ngành GD & ĐT Bình Sơn 30 năm phát triển và trưởng thành (1982-2012) Kỷ yếu Kỷ
niệm 30 năm Ngành GD-ĐT Bình Sơn ;

5. Nghị quyết Đại hội VI, VII, XI của Trung ương Đảng;

6. Nghị quyết của Tỉnh Đảng Bộ và của Huyện ủy Bỉnh Sơn;

7. Những thành tựu và hạn chế của GD-ĐT trong quá trình thực hiện NQ 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Th.s Trần Công Lan, Khoa Xây dựng Đảng.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...