Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2024

HAI DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ QUỐC GIA CỦA DÂN TỘC CƠ TU SAU 10 NĂM ĐƯỢC VINH DANH (TS. Trần Tấn Vịnh)

Tóm tắt: Trong quá trình hình thành và phát triển, dân tộc Cơ Tu đã sáng tạo nên một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đa dạng, phong phú với nhiều loại hình như kiến trúc, lễ hội truyền thống, nghệ thuật diễn xướng dân gian, văn học truyền miệng, điêu khắc gỗ, nghề thủ công, ẩm thực dân gian... Đó là những yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc văn hóa tộc người. Ngày 12 tháng 8 năm 2014, trong phiên họp Hội đồng Di sản Quốc gia lần thứ 7 đã công nhận hai di sản văn hóa của dân tộc Cơ Tu là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia, đó là Nghề dệt thổ cẩm, Vũ điệu Tân tung Da dá. 

Đến tháng Tám năm nay (2024) đánh dấu 10 năm hai di sản quan trọng này được vinh danh. Trong suốt thời gian qua, chính quyền địa phương, cơ quan chức năng và cộng đồng đã có nhiều hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy di sản. Tuy nhiên, cũng như các hiện tượng văn hóa khác, các di sản đặc biệt này cũng đang có nguy cơ mai một, mất mát, cần có những giải pháp để tạo nên sức sống bền vững, lâu dài, tạo động lực tích cực, khai thác tiềm năng nhân văn trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở miền núi tỉnh Quảng Nam.

Từ khóa: Dân tộc Cơ Tu, nghề dệt thổ cẩm, vũ điệu Tân tung da dá.

NỘI DUNG

Cơ Tu là tộc người thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, hệ Nam Á, phân bố ở phía bắc dãy Trường Sơn, dân số khoảng 74.173 người, chiếm 0,1% dân số toàn quốc. Riêng ở Quảng Nam, dân tộc Cơ Tu có dân số 55.091 người, đứng hàng thứ hai về dân số sau người Kinh (theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2019 và kết quả điều tra dân số và nhà ở tỉnh Quảng Nam vào 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019). Tại các địa phương lân cận cũng có nhóm dân tộc Cơ Tu sinh sống như ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng và huyện Nam Đông và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ngoài ra, người Cơ Tu còn cư trú ở tỉnh Sê Kông và tỉnh Xalavan thuộc nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào với dân số khoảng 14.700 người. Trên lãnh thổ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, người Cơ Tu chủ yếu sống ở huyện Ka Lum và Thong Vai thuộc tỉnh Xekong, huyện Lau Ngam thuộc tỉnh Salavan. Cùng với 53 dân tộc anh em, người Cơ Tu ở Việt Nam luôn là một bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần làm phong phú nền văn hoá các dân tộc Việt Nam.

1. Giá trị đặc trưng của hai di sản

1.1. Nghề dệt thổ cẩm

Để có nguyên liệu duy trì nghề dệt thổ cẩm, đồng bào Cơ Tu có nhiều giống bông bản địa, đó là kpay plâng, kpay lao, kpay plưng, các nhà khoa học gọi là giống “bông thượng” hay “bông cỏ”. Sau khi bảo quản, họ đã sáng tạo ra nhiều công cụ khác nhau để chế biến sợi: đó là công cụ tách hạt (êết); dụng cụ bật bông (tơrơmế); que quấn bông (plau); máy se sợi (chia); hhung quấn sợi thô (trước khi nhuộm); công cụ tạo búp sợi (tra ca)...

Việc nhuộm màu sợi bông là khâu quan trọng tạo nên sắc màu truyền thống. Thuốc nhuộm cũng chính là từ các loại cây tìm được trong rừng hay là do tình cờ phát hiện trong quá trình làm nương làm rẫy. Người Cơ Tu có nhiều kinh nghiệm trong chế biến và nhuộm màu cho sợi bông. Các màu cơ bản xuất hiện trên trang phục dân tộc Cơ Tu là màu trắng (bhooc), màu đen (tăm), màu đỏ (prôm), màu xanh (ta viêng), màu vàng (rơk). Ngoài ra còn có các màu phụ như màu nâu (prâu), tím (pơ nghinr)... Càng về sau, bảng màu của đồng bào càng phong phú hơn nhờ trao đổi sợi bông với các dân tộc khác và sợi chỉ, sợi len, hạt cườm nhựa ngoài thị trường.

Cho đến nay, họ vẫn còn bảo lưu kiểu khung dệt cổ sơ nhất của nhân loại, các nhà nghiên cứu gọi là Khung dệt inđônêsiên hay còn gọi là khung dệt dùng sức căng của cơ thể (Body tention loom)[1]. Khung dệt này tuy còn thô sơ, năng suất thấp, khả năng dệt hoa văn bị hạn chế, nhưng nó lại có thể dệt được những khổ vải theo ý muốn. Dường như có sự thống nhất chặt chẽ giữa kỹ thuật dệt với mục đích dệt vải của đồng bào. Khi người thợ dệt đối diện với thảm vải dọc là đã định hình về loại hình cho sản phẩm. Một khi tấm dệt rời khung, sản phẩm được hoàn thành thì đã ra đời một loại hình trang phục nhất định theo ý đồ người dệt[2].

Kỹ thuật dệt của người Cơ Tu gắn liền với chất liệu, trong đó nổi bật là dệt hoa văn chỉ màu, hoa văn gợn sóng, hoa văn hạt cườm và kỹ thuật khâu đáp. Hoa văn gợn sóng được tạo ra bằng cách thắt buộc, che sợi trong khi nhuộm, gọi là kỹ thuật ikat. Người ta lấy lá a yâng, một loại cây trong rừng có lá dài như lưỡi kiếm và mỏng, buộc vào sợi vải xanh đã nhuộm rồi tiếp tục mang nhúng vào thuốc nhuộm nhiều lần để sợi chuyển màu đen (tăm). Với cách làm này, chỗ sợi đã buộc lá a yâng có tác dụng làm cho sợi giữ nguyên màu xanh mà không bị nhuốm đen trong quá trình nhuộm màu. Sau khi nhuộm, trên một đoạn sợi cùng có hai màu xanh và màu đen lẫn lộn, tạo ra hai sắc độ đậm nhạt khác nhau. Khi dệt, người ta bố trí chỗ sợi có màu xanh chàm liền kề với nhau để hiện ra hoa văn có hình gợn sóng rất độc đáo và lạ mắt trên nền đen của vải thổ cẩm.

Khi đề cập đến sản phẩm dệt của người Cơ Tu, chúng ta không thể không nói đến các hoa văn hạt cườm, bởi chính số lượng những hạt cườm, sắp xếp thành những biểu tượng đã làm nên giá trị của thổ cẩm, trang phục. Arắc hay còn gọi là alùng là từ dùng để chỉ những hạt cườm phối trí thành hoa văn trên tấm tút của người Cơ Tu. Đồng bào rất thích dùng những bộ váy áo, khố có trang trí hoa văn hạt cườm. Chèn cườm, kết cườm hay tạo hoa văn bằng cườm là một thao tác đặc biệt. Bằng cách bố trí từng hạt chì hoặc cườm, rất tỷ mỉ và công phu, họ vừa dệt vừa tạo hoa văn thật tài tình. Hạt cườm được làm bằn hạt cây, cỏ, đá, chì và hạt cườm nhựa.



Trước đây, người Cơ Tu, Tà Ôi sử dụng hạt cườm bằng chì do chính mình sản xuất ra để làm nên hoa văn trên thổ cẩm. Kỹ thuật kết adoc, arăc (hạt chì, hạt cườm) tạo ra hoa văn trên nền vải thổ cẩm là một sáng tạo độc đáo với giá trị thẩm mỹ cao.

Nghề trồng bông dệt vải của dân tộc Cơ Tu đã sáng tạo nên nhiều sản phẩm, chủng loại khác nhau. Mỗi sản phẩm đều có giá trị sử dụng và giá trị thẩm mỹ nhất định. Những tấm vải thổ cẩm dù lớn hay nhỏ đều in đậm dấu ấn sáng tạo của người thợ dệt. Ta có thể phân biệt các sản phẩm thổ cẩm Cơ Tu qua những loại hình cụ thể như sau: tấm aduông (tấm dồ); áo (adooh); ao choàng (adây); ao chữ X (chrơ gul, chrơ peng); khố (h’giăl hay g’hul); váy (hđooh); khăn trùm đầu; tấm địu con (aduông kon); túi thổ cẩm (chơ dhung); yếm (xờ nát); túp lều bằng tấm htút (g’nâu bh’muối)...

Nghề dệt Cơ Tu thể hiện sức sống mãnh liệt của nền văn hóa tộc người. Mỗi sản phẩm dệt Cơ Tu có giá trị về nhiều mặt, nó vừa là vật dụng, bảo đảm nhu cầu sinh hoạt, phục vụ cuộc sống, vừa là của cải, thể hiện sự ấm no, giàu có và hơn thế nữa, nó như những tác phẩm nghệ thuật, chứa đựng nhiều tinh hoa, thể hiện nét đặc trưng độc đáo trong kho tàng văn hóa dân tộc. Sản phẩm dệt của đồng bào chẳng những có giá trị vật chất, là thước đo giá trị xã hội, sự giàu có của mỗi gia đình, dòng tộc mà còn có giá trị về thẩm mỹ, thể hiện đời sống tinh thần phong phú của mỗi dân tộc. Những giá trị đặc trưng của nghề thủ công cổ truyền, được kết tinh trên mỗi sản phẩm phản ánh nhân sinh quan, vũ trụ quan, thẩm mỹ quan của cộng đồng tộc người. Đồ mặc hay trang phục là một bộ phận không thể thiếu trong vốn văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc. Nó vừa là vật dụng, vừa như tác phẩm nghệ thuật, được mọi người ưa chuộng và trân trọng.

Hoa văn trên vải của dân tộc Cơ Tu đạt trình độ cao về nghệ thuật trang trí. Đó là một kho báu về nghệ thuật tạo hình do các nghệ nhân, thợ dệt Cơ Tu sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và ngày càng được hoàn thiện hơn về mặt thẩm mỹ. Các hoa văn như hoa pơ lơm, h’la atút, ngọn chông (chơ râng), chày (hjêê), đặc biệt là hoa văn Da dá, thể hiện điệu múa của người phụ nữ. Hoa văn Da dá là đồ án quen thuộc, mang ý nghĩa, biểu tượng của văn hóa dân tộc Cơ Tu.

Người Cơ Tu là một tộc người còn bảo lưu được một cách tương đối nguyên vẹn các yếu tố văn hóa truyền thống có giá trị, trong đó có nghề dệt và trang phục. Đây là một trong những thành tố góp phần hình thành không gian văn hóa đặc sắc của tộc người Cơ Tu cư trú trên dãy Trường Sơn. Nghề dệt thổ cẩm thực sự là một di sản quý giá còn được bảo lưu, giữ gìn cho đến ngày nay, nó xứng đáng được công nhận, đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể cấp Quốc gia.

1.2.Vũ điệu Tân tung da dá

Trong kho tàng văn hóa dân gian Cơ Tu, điệu múa Tân tung da dá là một nghệ thuật diễn xướng nổi trội nhất, được thể hiện trong lễ hội mừng mùa, mừng nhà mới, săn được thú lớn hay các lễ hội lớn của cộng đồng. Các nghiên cứu cho rằng, Da dá là điệu múa thiêng, điệu múa cầu mùa với động tác cơ bản là đôi tay của người phụ nữ xoè lên trời cầu xin và đón nhận sinh khí và hạt lúa của thần linh. Trong lễ trỉa lúa, điệu Da dá là hành động thể hiện sự cầu xin thần linh cho cây lúa lên tốt, được mùa. Trong lễ thu hoạch, ăn lúa mới, khi múa Da dá, trên tay họ để các hạt lúa như một nghi thức dâng cúng lên các vị thần linh, đặc biệt là mẹ lúa. Điệu múa đó là sự biểu hiện niềm tin và khát vọng vươn đến một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Theo các nhà nghiên cứu về nghệ thuật múa, động tác múa đó bắt nguồn từ những động tác dâng lễ vật từ thời xa xưa. Lễ vật được nâng trên tay hay đội trên đầu là xôi, thịt, hoa, trái... để dâng mừng. Cũng có ý kiến cho rằng đó là động tác ngẫu hứng, tự nhiên thể hiện tâm trạng hân hoan, ăn mừng khi săn bắt được thú lớn, trời nắng hạn gặp cơn mưa rào tưới mát. Trên cơ sở hiện thực ấy, theo quá trình phát triển lâu dài của lịch sử, được nhân dân sáng tạo, cách điệu hóa lên thành nghệ thuật biểu diễn có trình độ thẩm mỹ cao[3].

Khi trống chiêng nổi lên, người con gái bước ra trước biểu diễn các động tác múa rồi mới đến đàn ông con trai. Đi trước là nữ, đi sau là nam, nếu múa đông người thì vòng trong là nữ vòng ngoài là nam, thể hiện sự che chở của đàn ông với người đàn bà, con gái. Nó có sự kết hợp nhịp nhàng giữa múa nam và múa nữ trong một đội hình múa. Bên cạnh nhóm phụ nữ múa Da dá, những người đàn ông tham gia nhảy điệu Tân tung, tạo nên một đội hình múa hoàn chỉnh mà người Cơ Tu gọi là Tân tung da dá. Mọi người đều múa trong một vòng tròn và bước đi ngược chiều kim đồng hồ với nhịp điệu sôi động, rộn rã của tiếng trống, chiêng, làm sống dậy núi rừng hoang vắng, bao la.

Nét độc đáo của vũ điệu này không chỉ là điệu múa đơn thuần trong lễ hội truyền thống mà nó đã chuyển hoá một cách sống động và sâu sắc vào nhiều lĩnh vực của đời sống như văn hóa tâm linh, tín ngưỡng, nghệ thuật của người Cơ Tu. Da dá thực sự là linh hồn, tuyệt tác của kho tàng văn hoá dân gian Cơ Tu. Vũ điệu dân gian ấy là hình ảnh của cội nguồn làm nên diện mạo văn hoá đa dạng, phong phú của cộng đồng tộc người và còn là một chất men xúc tác tạo nên cảm hứng cho sự sáng tạo, thăng hoa nghệ thuật truyền thống. Thợ dệt Cơ Tu đã khắc họa điệu múa một cách sống động, đầy tính thẩm mỹ trên nền thổ cẩm, trang phục truyền thống của dân tộc. Hoa văn Da dá thường được trang trí trên váy, áo phụ nữ, đuôi khố của đàn ông, trai làng và những em bé. Bằng đôi tay khéo léo với kỹ thuật kết a rắc (hạt cườm), thợ thủ công Cơ Tu đã chèn những hạt cườm trắng vào nền vải đen thô rám, tạo thành hoa văn Da dá. Điều thú vị là trên đuôi khố của đàn ông Cơ Tu lại thường xuất hiện mô típ trang trí hoa văn Da dá. Vì chiếc khố là mặt phẳng tạo hình lý tưởng nhất, được xem như là một bức tranh di động, có thể nhìn ở đằng trước lẫn đằng sau khi người đàn ông đóng khố hòa mình trong lễ hội cộng đồng. Có lẽ, ngoài yếu tố thẩm mỹ, người thợ dệt Cơ Tu muốn đưa điệu múa cổ truyền - biểu tượng văn hóa tộc người nhằm chuyển tải hình ảnh người phụ nữ thân thương (người bà, người mẹ, người vợ, chị em gái, con gái) lên bộ trang phục của người đàn ông. Điệu múa Tân tung Da dă còn là chủ đề nổi trội trong nghệ thuật điêu khắc gỗ của dân tộc Cơ Tu. Hình tượng Da dá thực sự cuốn hút tư duy sáng tạo, là chất men gây cảm hứng cho nghệ nhân dân gian khi chuyển hoá hình tượng của nó từ những đường nét đan dệt trên thổ cẩm sang tranh, tượng, phù điêu, hoa văn trang trí trong ngôi nhà gươl, nhà mồ (ping) - nơi tập trung những tinh hoa nghệ thuật của cộng đồng và cả trong nghệ thuật xăm hình trên cơ thể.

Những tấm ván thưng bao quanh nhà, trên cây cột cái, cột phụ, các xà ngang, xà dọc, trên các tấm ván liên kết các cột nhà và trên nóc nhà là nơi những hoạ sỹ dân gian tha hồ sáng tạo nghệ thuật. Hầu như bất cứ nhà gươl nào cũng có tượng và phù điêu về đề tài người phụ nữ múa. Từ những khúc gỗ, nghệ nhân Cơ Tu tạc nên những bức tượng người phụ múa với tư thế, động tác uyển chuyển. Cây nêu, cột lễ - cột đâm trâu - có cấu trúc đồng dạng với những “người đàn bà múa” và được coi là biểu tượng cho cây lúa - Mẹ Lúa. Với hình tượng giống như đôi tay trên cây cột, làm cho cột tế Cơ Tu, nhìn tổng thể, trông rất gần gũi với tư thế của người phụ nữ Cơ Tu khi múa Da dá quanh cột tế lễ. Từ đó, có thể coi hình tượng đôi tay trên cây cột như một biến thể của môtip “người đàn bà múa”, thể hiện Nữ thần lúa - người mẹ khởi nguyên Cơ Tu[4].

Cảm nhận được cái vẻ đẹp lung linh của vũ điệu Da dá, hạt ngọc quý của núi rừng Trường Sơn, từ những 1960 của thế kỷ trước, NSND Thái Ly và NSƯT Ngân Quý đã dành tất cả tình yêu để thăng hoa điệu múa đó trên sân khấu biểu diễn nghệ thuật. Bởi vũ điệu ấy có kết cấu tổ hợp múa theo tính tiết tấu trên nền nhạc cồng chiêng với điệu đhưng dồn dập, lôi cuốn, tiếng trống cha gơr rộn ràng và múa theo tuyến gấp khúc nên mang lại hiệu quả tốt đẹp cho tác phẩm múa.



Hòa cùng trang phục dân tộc độc đáo, đặc biệt bộ váy nữ được quấn ngang ngực, để trần phần trên ngực cùng với đôi vai và hai cánh tay thật mềm mại, trẻ khỏe, tôn thêm vẻ đẹp kỳ diệu của dáng múa.

Những năm tháng chiến tranh ác liệt, mặc dầu không đến được các thôn bản của đồng bào Cơ Tu, nhưng qua những hạt giống nghệ thuật, diễn viên người Cơ Tu đi tập kết trên đất Bắc, họ đã nhanh chóng nắm lấy cái thần thái của vũ điệu và đi ngay vào dàn dựng, cải biên. Lúc đầu, các nghệ sĩ vừa tập vừa sưu tầm điệu múa để truyền dạy trở lại cho các diễn viên, văn công quê gốc Quảng Đà đang học tập, công tác tại Cầu Giấy (Hà Nội). Sau đó, điệu múa này được các nhà biên đạo múa quan tâm hơn, đầu tư nhiều công sức tạo nên tác phẩm múa hoàn chỉnh. Các nhà biên đạo và diễn viên múa lao động nghệ thuật miệt mài để trao chuốt viên ngọc ngày càng sáng đẹp hơn. Cùng với nghệ thuật múa của các dân tộc khác, điệu múa Cơ Tu đã được cải biên, dàn dựng cho trường nghệ thuật như Trường Cao đẳng múa Việt Nam, Trường Nghệ thuật Quân đội và các đoàn nghệ thuật như Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam...

Vũ điệu Cơ Tu được mang đi biểu diễn trong các cuộc giao lưu nghệ thuật quốc tế, đã vượt biên giới Việt Nam để đến với bạn bè trên thế giới. Múa Cơ Tu đã đạt giải thưởng ở các cuộc liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới. Năm 2002, một lần nữa, “Múa Cơ Tu” lại được giải thưởng tại cuộc thi Múa dân gian dân tộc của các nước có sử dụng tiếng Pháp được tổ chức tại Canada. Khi biểu diễn ở Ấn Độ, điệu múa đã làm rung động trái tim biết bao khán giả. Báo chí nước này viết bài ca ngợi: “Múa Cơ Tu có vẻ đẹp kỳ lạ. Sao lại có thể tạo nên hình tượng trăm tay sinh động, kỳ diệu như thế. Vừa thỏa mãn thẩm mỹ, vừa có ý nghĩa sâu sắc về những bàn tay lao động của con người”[5].

2. Tình hình và thực trạng về bảo tồn và phát huy di sản

Trong hai di sản được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia thì di sản vũ điệu Tân tung da dá được bảo tồn và phát huy tốt hơn. Điệu dân vũ của đồng bào Cơ Tu có sức sống mạnh mẽ nhờ ý thức của người dân và tình yêu mãnh liệt của họ đối với vốn di sản quý báu của dân tộc mình. Nó là môn nghệ thuật chẳng những hấp dẫn, lôi cuốn đối với người lớn mà còn được thực hành, truyền dạy, phổ biến cho thế hệ trẻ. Ngay từ khi còn nhỏ, các em đã được cha mẹ mua sắm hoặc tự tay dệt vải, cắt may một bộ trang phục truyền thống dân tộc đẹp mắt với màu chàm đen và hoa văn hạt cườm sáng lấp lánh mặc trong lễ hội, văn nghệ ở làng. Chiếc váy của các bé gái dài từ thắt lưng đến mắt cá chân trang trí nhiều hoa văn, trong đó nổi bật là hoa văn điệu múa Da dá của dân tộc mình. Trang phục múa của dân tộc khá độc đáo, đặc biệt là bộ váy nữ, khi múa chiếc váy được quấn ngang ngực, để trần phần trên ngực cùng với đôi vai và hai cánh tay thật mềm mại, trẻ khỏe, tôn thêm vẻ đẹp kỳ diệu của dáng múa Cơ Tu. Chiếc áo của các em được chăm chút, sáng tạo hơn. Người cắt may có sự can thiệp, cải biên, cách điệu một chút theo phong cách “thời trang thổ cẩm”. Các cô gái trẻ sẽ đẹp hơn khi tham gia lễ hội, trình diễn các điệu múa dân gian. Những bé trai cũng được mẹ cho “ăn diện” tươm tất, với chiếc áo chữ X - chiếc áo của các chiến binh ngày xưa mặc để tham gia đội quân phòng thủ, canh giữ buôn làng hoặc chiếc áo khoác có cài dây buộc và chiếc khố hình chữ T dài đến bàn chân. Hai đầu khố và thân khố đều trang trí những hoa văn đẹp như lá atut (hla atut), hoa pơ lơm, ngôi sao bốn cánh, mụt măng, hình răng cưa và không thể thiếu hoa văn người đàn bà nhảy hội với điệu Da dá - điệu múa đắm say của bà, của mẹ và của chị.

Điều đặc biệt nữa là nghệ nhân lớn tuổi luôn hứng thú trong việc thực hành, truyền dạy điệu múa Tân tung Da dá cho thế hệ trẻ. Để thực hành thuần thục, người trẻ tuổi phải học vì đây là điệu múa có động tác khó. Trong ngày hội làng, các bé gái theo mẹ theo chị múa điệu Da dá, các bé trai theo cha, theo anh nhảy điệu Tân tung trong nhịp chiêng, nhịp trống rộn ràng. Theo đồng bào Cơ Tu, một người được xem là múa Da dá đẹp phải đạt các tiêu chí sau đây: Khi múa bàn tay ngửa lên trời, di chuyển nhẹ nhàng uyển chuyển trên các đầu ngón chân, không nhún cả người, cánh tay đưa lên ngang vai, không cao không thấp, bàn tay chụm lại nhưng ngón cái xoè ra và ngực hơi ưỡn ra phía trước... Trong trường hợp dâng lễ vật, đầu và thân trên hướng vươn lên trang trọng, kính dâng; kết hợp hài hòa cùng những bước nhảy xiến, nhảy trượt ngang, xoay lật nhún nghiêng, xoay lật nhấn nẩy, nhích quay lượn người...[6] thể hiện dáng vẻ, đường nét tạo hình rất sinh động. Điệu múa Tân tung của nam giới cũng không phải dễ, khi múa, chân trái bước lên trước, nhún, chùng xuống, chân phải bước tới chạm một bên vào chân trái và nhún xuống để bật chân trái ra tạo cường độ và tiết tấu sinh động. Người múa còn có đạo cụ là chiếc gùi (ta leo), những vũ khí của một chiến binh thời cổ như khiên, kiếm, cung nỏ hoặc giáo. Lúc thì nhảy tiến lên lao thẳng giáo mác về phía trước, khi thì nhảy lùi, thu gọn khom người về phía sau đỡ khiên che chắn. Chính vì vậy, các bé trai, thanh niên trai tráng trong làng phải học nhảy múa điệu Tân tung. Lễ hội mừng lúa mới, khánh thành nhà làng, lễ kết nghĩa... là lúc thanh niên, trai tráng tập dược bài bản và thể hiện tài nghệ diễn xướng của mình trước cộng đồng.

Ngày nay, dù cho cuộc sống có nhiều đổi thay nhưng những vốn quý của tổ tiên vẫn có sức sống bền vững trong cộng đồng. Điệu dân vũ của đồng bào là món ăn tinh thần không thể thiếu trong lễ hội. Những nghệ nhân lớn tuổi, cha mẹ giáo dục con cháu biết trân trọng và thực hành lời ca, điệu múa, trang phục dân tộc để tiếp nối, giữ gìn mạch nguồn di sản của dân tộc mình. Trong các lễ hội truyền thống, vui xuân đón Tết hay các kỳ Festival di sản Quảng Nam, Ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc miền núi tỉnh Quảng Nam hay các sự kiện giao lưu văn hóa vùng miền cấp khu vực hay toàn quốc, điệu múa Tân tung Da dă là loại hình nghệ thuật đặc sắc, ấn tượng nhất mà người Cơ Tu mang đến cho du khách và những người yêu mến nghệ thuật diễn xướng dân gian.

Trong khi vũ điệu Tân tung da dá được bảo tồn, phát huy khá tốt và hiệu quả thì di sản nghề dệt thủ công của đồng bào Cơ Tu còn nhiều trở ngại, hạn chế và đang đứng trước tình trạng bị mai một, thất truyền. Nghề dệt mất mát sẽ kéo theo sự mai một của trang phục truyền thống dân tộc. Đối với lớp người lớn tuổi, việc sử dụng trang phục truyền thống khá phổ biến, thì với thế hệ trẻ, họ tỏ ra tự ti mặc cảm, sợ ăn mặc theo kiểu truyền thống sẽ bị coi là lạc hậu, không hiện đại nên ít, thậm chí không sử dụng trang phục truyền thống trong sinh hoạt hằng ngày. Chưa kể, hoàn thành một bộ trang phục truyền thống tốn nhiều công sức và thời gian, dẫn đến giá thành tương đối cao, trong khi đó vải và quần áo may sẵn ngoài thị trường vô cùng phong phú, đa dạng về kiểu dáng, màu sắc, mẫu mã, giá rẻ. Đó cũng là nguyên nhân quan trọng khiến cho đồng bào các dân tộc không còn quan tâm đến việc tự sản xuất, tự may trang phục truyền thống. Trang phục truyền thống của đồng bào các dân tộc nói chung, dân tộc Cơ Tu nói riêng đã và đang bị biến dạng, mất gốc và thay thế bằng các trang phục đã được cách tân. Nếu không kịp thời bảo tồn và phát huy, trong thời gian không xa, các trang phục truyền thống dân tộc thiểu số sẽ mất đi, bản sắc văn hóa dân tộc cũng khó tìm lại được.

Trong những năm gần đây, làng dệt Công Dồn (xã Duôih, huyện Nam Giang) chỉ còn một vài hộ duy trì nghề trồng bông, dệt vải theo lối cổ truyền. Giống bông bản địa, còn gọi là “bông cỏ” cũng bị mất giống vì không còn ai gieo trồng và giữ giống. Một vài nghệ nhân biết dệt vải thổ cẩm nhưng không có nguyên liệu bông vải để hành nghề. Cây thuốc nhuộm vải trong rừng dần dần cũng đi vào quên lãng.

Trước nguy cơ đó, một số địa phương, cơ quan chức năng, đơn vị, doanh nghiệp tư nhân đã có những hoạt động thiết thực để bảo tồn và phát huy di sản. Huyện Nam Giang đã tổ chức hội thi dệt thổ cẩm trong khuôn khổ ngày hội, liên hoan cồng chiêng toàn huyện. Làng Bhà Hôôn, thôn Đhờ Rồng cũng duy trì nhóm dệt thổ cẩm, là sản phẩm quan trọng trong hoạt động du lịch. Nhờ sự hỗ trợ của tổ chức Cứu trợ quốc tế - FIDR (Nhật Bản), thôn Zara, xã Tà Bhing đã hình thành Hợp tác xã dệt thổ cẩm, thu hút nhiều thợ dệt trong làng. Năm 2017, làng Lụa Hội An đã tổ chức Festival Lụa - Thổ cẩm. Đây là festival đầu tiên đưa nghề dệt thổ cẩm vào chương trình hoạt động chính thức. Một số thợ dệt của làng Zara được mời đến tham gia trình diễn nghề dệt bên cạnh những thợ dệt Chăm đến từ tỉnh Ninh Thuận, thợ dệt H’mông đến từ tỉnh Hà Giang. Năm 2018, tỉnh Đăk Nông tổ chức Festival văn hóa thổ cẩm, một số thợ dệt cùng với nhóm nghệ nhân diễn xướng dân gian dân tộc Cơ Tu, huyện Đông Giang được tỉnh cử đến tham gia chương trình hoạt động.

Đặc biệt, một số thợ dệt của làng Công Dồn đã được mời đến khu du lịch sinh thái Vinpearl Nam Hội An để tham gia thực hành và trình diễn nghề dệt cho khách tham quan. Tại đây, 4 thợ dệt Cơ Tu, đó là Pơ ling Muối, Zarâm Bằng, Tơngôl Ên và Thị Hiền, hỗ trợ nhau về tay nghề, kinh nghiệm và cả bí quyết để gìn giữ di sản của chính dân tộc mình. Người dệt vải, người kéo sợi, người chế biến thuốc nhuộm, cùng với các nghệ nhân thuộc các ngành nghề khác tạo nên làng nghề sôi động tại “Đảo văn hóa dân gian” Vinpearl Nam Hội An. Họ làm ra những sản phẩm đầu tiên mang hơi thở, sắc màu truyền thống. Nhờ có nguồn bông vải tại chỗ, thuốc nhuộm màu, khung dệt truyền thống và những công cụ hỗ trợ như xa quay sợi, bật bông, tách hạt... nên các thợ dệt Cơ Tu thực hành một cách khéo léo, tự nhiên nghề dệt truyền thống của mình chứ không phải mang tính chất biểu diễn. Một số bí quyết nghề dệt, canh cửi cũng đã được phát huy tại đây, tiêu biểu là kỹ thuật nhuộm bao sợi (ikat). Điều đáng mừng là nhóm thợ dệt của làng đã tái hiện những sản phẩm có giá trị với hoa văn, sắc màu truyền thống đặc trưng tưởng đã thất truyền. Tiêu biểu là những tấm thổ cẩm có hoa văn gợn sóng, được xem là tinh hoa làm nên “thương hiệu” của làng dệt Công Dồn. Họ chẳng những phục hồi được các mẫu hoa văn thổ cẩm đặc sắc mà còn sáng tạo một sản phẩm mang một sắc màu mới mẽ, đó là tấm thổ cẩm màu nâu từ thuốc nhuộm chiết xuất từ củ nâu lấy từ rừng núi quê hương. Tuy nhiên, ngoại trừ việc hành nghề tự thân của đồng bào tại các làng dệt, những hoạt động nói trên chưa kịp thời khắc phục nguy cơ mai một, đánh mất nghề thủ công truyền thống của đồng bào.

3. Kiến nghị những giải pháp bảo tồn và phát huy di sản

3.1. Nhóm giải pháp đối với nghề dệt

Trong các di sản của dân tộc Cơ Tu đã được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, cần ưu tiên bảo tồn nghề dệt thổ cẩm. Đây là di sản làng nghề đặc sắc, giá trị bậc nhất, mang đậm dấu ấn tộc người, hiện đang có nguy cơ mai một, thất truyền. Trước tiên, cần hỗ trợ cứu nguy di sản đang bị thất truyền, mai một, giúp bà con giữ gìn, phát triển nghề theo phương thức truyền thống: trồng bông, chế biến sợi, nhuộm màu, dệt vải và may mặc. Bảo lưu, phục hồi giống bông vải có nguồn gốc bản địa, kỹ thuật chế tác và dệt hoa văn, kết cườm, chế thuốc nhuộm, nhiều bí quyết khác trong thực hành nghề thủ công truyền thống. Đặc biệt, cần nhanh chóng phục hồi bí quyết, kỹ thuật “nhuộm bao sợi” (ikat) độc đáo và đặc sắc của người Cơ Tu ở làng Công Dồn (xã Duôih, huyện Nam Giang). Với kỹ thuật, bí quyết này, người thợ dệt tạo nên một sản phẩm “hoa văn gợn sóng” nguyên sơ, mộc mạc ẩn hiện trên nền vải chàm (ikat indigo). Hiện nay, cả vùng Trường Sơn - Tây Nguyên còn rất ít người nắm giữ bí quyết này. Cần nghiên cứu áp dụng các mô hình thổ cẩm ứng dụng trong trường học, nhất là các trường dân tộc nội trú. Việc tìm đầu ra cho sản phẩm thổ cẩm bằng nhiều cách như cung cấp trang phục truyền thống cho học sinh dân tộc ở các trường nội trú, trường phổ thông, làm phong phú, đa dạng các sản phẩm thổ cẩm phục vụ du lịch.

Liên kết với các tỉnh, thành kề cận trong hoạt động bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc và phát triển du lịch. Đồng bào các dân tộc thiểu số các tỉnh láng giềng đều có một loại hình di sản tương đồng nhau, như nghề dệt thổ cẩm của dân tộc Cơ Tu (Quảng Nam), dân tộc Tà Ôi (A Lưới, Thừa Thiên - Huế), dân tộc Hre (Ba Tơ, Quảng Ngãi), đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Điều đó gợi mở cho các ngành chức năng, các cấp chính quyền trong công tác chỉ đạo, quản lý nhà nước về hoạt động giao lưu, trao đổi, học hỏi những mô hình, cách làm hay, tích cực, sáng tạo của các địa phương trong công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc. Các tỉnh cần có sự liên kết, hỗ trợ nhau để bảo tồn và phát huy di sản của các dân tộc và cùng chia sẻ, thụ hưởng những lợi ích. Các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam và Thừa Thiên - Huế cần phối hợp tổ chức Festival Thổ cẩm, Festival Làng nghề nhằm tôn vinh nghề truyền thống, nghệ nhân và sản phẩm tinh hoa của đồng bào các dân tộc miền núi.

3.2. Nhóm giải pháp đối với vũ điệu Tân tung da dá, diễn xướng dân gian

Nhà nước cần có nhiều chính sách, cơ chế để khơi dậy, khuyến khích các nghệ nhân, nghệ sĩ có điều kiện để sáng tạo, hưởng thụ, lưu truyền, phổ biến, truyền dạy, biểu diễn nghệ thuật diễn xướng dân gian của dân tộc Cơ Tu nói riêng, dân tộc miền núi nói chung. Cần có sự hỗ trợ, tác động nhiều mặt để âm nhạc, điệu dân vũ Tân tung da dá độc đáo phát triển sâu rộng trong sinh hoạt văn hóa, lễ hội cộng đồng. Cần tạo môi trường diễn xướng, truyền dạy, kế thừa cho thế hệ trẻ. Quan tâm đầu tư, hỗ trợ cho các thôn, thị trấn, trường học, đơn vị hình thành nhóm, câu lạc bộ diễn tấu, sưu tầm nhạc cụ dân tộc, dạy đánh chiêng, trống, dạy múa, dàn dựng các tiết mục văn nghệ dân gian đặc sắc tham gia hội diễn, giao lưu văn hóa ở cấp xã, huyện, cấp tỉnh và khu vực.

Như đã nêu ở phần trên, vũ điệu Tân tung da dá không chỉ đơn thuần là nghệ thuật diễn xướng mà còn mang yếu tố tâm linh, là vũ điệu liên quan đến tín ngưỡng của đồng bào, có ảnh hướng đến nghệ thuật tạo hình. Do đó, bên cạnh bảo tồn, phát huy nghệ thuật diễn xướng, cần khuyến khích nghệ nhân sáng tạo những tác phẩm điêu khắc, hội họa về chủ đề có liên quan đến điệu múa nổi tiếng của dân tộc. Có thể liệt kê hàng trăm mô típ về hoa văn Da dá trên nền vải thổ cẩm, hàng chục tác phẩm điêu khắc gồm tượng tròn, phù điêu và nhiều tranh vẽ về điệu múa Tân tung da dá. Đây chính là tác phẩm đẹp và ấn tượng nhất có thể tìm thấy ở các nhà làng truyền thống Cơ Tu (gươl).

Trong thời gian tới, cần có hướng nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, tổ chức hội thảo khoa học, tham vấn của các chuyên gia, phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế, Sê Kông, Champaxắc, Xalavan, Cục di sản văn hóa Lào và Cục di sản Việt Nam xây dựng hồ sơ di sản trình UNESCO công nhận Vũ điệu Tân tung da dá của người Cơ Tu Lào và Cơ Tu Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại./.



Tài liệu tham khảo



1. Fraser - Lu, Sylvia (1988), Handwoven Textiles of South-East Asia, Oxfort University Press New York.

2. Lê Ngọc Canh (2007), “Hình người nhảy múa trên trống đồng”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, (11), tr.42.

3. Ngân Quý (2006), Vấn đề kế thừa và phát triển múa dân gian Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam, tr.40-45, Hà Nội.

4. Ngô Đức Thịnh (2000), Trang phục các dân tộc Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

5. Trần Tấn Vịnh (2003), “Nghề dệt cổ truyền của một số dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên”, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 2.

6. Trần Tấn Vịnh (2008), “Múa ya ýa của dân tộc Cơ Tu”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 287.

7. Trần Tấn Vịnh (2009), Người Cơ Tu ở Việt Nam, Nxb. Thông tấn, Hà Nội.

8. Trần Tấn Vịnh (2012), Nghề dệt và trang phục dân tộc Cơ Tu, Nxb. Dân trí, Hà Nội.

9. Trần Tấn Vịnh (2020), “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc nhánh Katuic vùng biên giới Việt - Lào”, Tạp chí Nghiên cứu dân tộc, số 3 tháng 9.




[1] Fraser - Lu, Sylvia (1988), Handwoven Textiles of South-East Asia, Oxfort University Press New York.


[2] Ngô Đức Thịnh (2000), Trang phục các dân tộc Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.


[3] Ngân Quý (2006), Vấn đề kế thừa và phát triển múa dân gian Việt Nam, Hội Nghệ sĩ múa Việt Nam, Hà Nội.


[4] Nguyễn Hữu Thông chủ biên (2005), Ka Tu, kẻ sống đầu ngọn nước, Nxb. Thuận Hóa, Huế.


[5] Ngân Quý (2006), Vấn đề kế thừa và phát triển múa dân gian Việt Nam, Hội Nghệ sĩ múa Việt Nam, Hà Nội.


[6] Ngân Quý (2006), Vấn đề kế thừa và phát triển múa dân gian Việt Nam, Hội Nghệ sĩ múa Việt Nam, Hà Nội.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...