Bình Sơn là huyện có bờ biển dài hơn 50km, sông Trà Bồng là một trong 4 con sông lớn của tỉnh Quảng Ngãi có chiều dài qua huyện Bình Sơn khoảng 28km, tạo ra nhiều vùng đất phù sa màu mỡ ở các xã ven sông. Theo số liệu thống kê năm 1976 huyện Bình Sơn (cả đảo Lý Sơn) có diện tích tự nhiên 49.067ha, dân số 141.792 người, trong đó có 45.540 người lao động nông nghiệp, chiếm 80% tổng số lao động toàn huyện; diện tích đất nông nghiệp của huyện 17.387ha, chiếm hơn 1/3 diện tích đất tự nhiên.
Địa hình Bình Sơn khá phức tạp, nhiều đồi núi, khe suối, độ dốc lớn, bị chia cắt; phần lớn đất đai bị xoá mòn, bạc màu; mưa lũ, nắng hạn thường xuyên đe dọa sản xuất và đời sống của Nhân dân. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, người dân Bình Sơn qua bao đời đã luôn chú tâm tập trung làm thuỷ lợi, đặc biệt là thời kỳ từ 1975 đến nay.
Thời kỳ 1975 – 1985
Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, hoà trong niềm vui chung của cả nước, Đảng bộ và Nhân dân huyện Bình Sơn bước vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng mới trong hoàn cảnh có nhiều thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn. Toàn huyện đã tập trung sức người, sức của cho nhiệm vụ trọng tâm là hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền cách mạng của Nhân dân.
Là một huyện thuần nông, trong những năm 1975 - 1985, để phát triển sản xuất, giải quyết đời sống cho Nhân dân, huyện xác định “ nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, trong đó thuỷ lợi là khâu quyết định, là “vàng trắng”. Huyện uỷ chủ trương khôi phục các công trình thuỷ lợi đã có bị hư hỏng do chiến tranh tàn phá, xây dựng các đập bổi, hồ chứa, trạm bơm, làm kênh mương, đắp đập ngăn mặn, đắp đê chống lũ…để mở rộng diện tích sản xuất, chủ động nguồn nước tưới, phục vụ sản xuất, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, nước sinh hoạt và phòng chống lụt bão, hạn hán, thiên tai, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Tuy vậy, trong thời kỳ này, việc quy hoạch thuỷ lợi của tỉnh (Nghĩa Bình cũ) chưa đầy đủ, tài liệu điều tra cơ bản, khảo sát, thiết kế phục vụ phát triển thuỷ lợi còn hạn chế hoặc chưa có: nguồn vốn, vật tư của nhà nước rất hạn hẹp, thiết bị thi công công trình rất hiếm. Với tinh thần khắc phục khó khăn, dựa vào địa hình tự nhiên đa dạng, có nhiều đồi núi, khe suối nhỏ, huyện chủ trương sử dụng cán bộ kỹ thuật được đào tạo về thuỷ lợi hiện có, huy động lực lượng thanh niên, xã viên hợp tác xã nông nghiệp, với nguồn vốn, vật tư hỗ trợ của nhà nước và hợp tác xã, phần còn lại chủ yếu là huy động sự đóng góp bằng công sức không biết mệt mỏi của Nhân dân trong huyện để tập kết đất đá bằng quang gánh thủ công, xe kéo, đầm đất bằng đầm gỗ, sử dụng vật liệu thô sơ theo phương châm “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”, “Nhân dân làm nhà nước hỗ trợ”. Nhờ vậy, thời kỳ này toàn huyện đã xây dựng được 37 hồ chứa nước, 8 đập dâng, 3 đê ngăn mặn… tiêu biểu như: hồ hóc Dọc, hố Vàng, hố Đá, Hàm Rồng, Gia Hội, An Phong, Lỗ Ồ, Hóc Bứa, Đá Giăng, Cà Ninh, Quỳnh Lưu và hàng chục trạm bơm chạy bằng than, dầu, hàng trăm đập bổi, đào đắp hàng trăm ngàn mét kênh mương dẫn nước,… với sự đóng góp hàng triệu ngày công lao động của Nhân dân trong huyện. Từ kết quả làm thuỷ lợi trên địa bàn huyện, huyện Bình Sơn trở thành lá cờ đầu của tỉnh (tỉnh Nghĩa Bình) về phong trào làm thuỷ lợi nhỏ và vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho Đảng bộ và Nhân dân huyện Bình Sơn.
Thuỷ lợi được phát triển, từ đó chủ động được nguồn nước tưới, đưa vụ Hè Thu trở thành vụ sản xuất chính, một số vùng trong huyện sản xuất ba vụ lúa/năm; đến năm 1985 toàn huyện đưa diện tích gieo trồng lên 21.252ha, tăng 8,1% so với năm 1982 (riêng diện tích cây lương thực tăng 7%). Năng suất cây lúa bình quân cả năm 1985 đạt 23,1 tạ/ha, tăng 4 tạ/ha so với năm 1982; tổng lương thực quy thóc cả năm 1985 đạt 40.000 tấn (trong đó cây màu xấp xỉ 30%). Nếu vụ sản xuất Đông Xuân 1975 – 1976 diện tích tưới bằng công trình thuỷ lợi chỉ đạt 38% thì vụ sản xuất Đông Xuân 1979-1980 tăng lên 73,4% và đến năm 1985 có gần 8000ha cây trồng có điều kiện được tưới nước do các công trình thuỷ lợi; năng suất, sản lượng cây trồng tăng lên so với trước. Nhờ vậy mà đời sống Nhân dân giảm bớt khó khăn, môi trường sinh thái từng bước phát triển, giải quyết được căn bản vấn đề thiếu nước gay gắt cho sản xuất, chăn nuôi và dân sinh, giảm nhẹ được thiệt hại do lũ lụt gây ra, xâm nhập mặn được khống chế, giảm thiểu; kinh tế - xã hội của huyện có chiều hướng phát triển tốt hơn, làm cơ sở cho sự phát triển của những năm tiếp theo.
Thời kỳ đổi mới 1986 – 2020
Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra chủ trương, giải pháp đổi mới trên tất cả các lĩnh vực hoạt động mà cốt lõi là đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế. Quán triệt và vận dụng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình lần thứ IV (Tháng 10/1986), Huyện uỷ Bình Sơn đã xây dựng kế hoạch thực hiện 03 chương tình kinh tế lớn của Đảng (lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu); thời gian này công trình thuỷ lợi Thạch Nham cũng đã được khởi công xây dựng (01/6/1985), một niềm vui lớn cho Nhân dân Quảng Ngãi nói chung và Nhân dân Bình Sơn nói riêng, là thời cơ, điều kiện để Bình Sơn đẩy mạnh thực hiện công cuộc thuỷ lợi hoá, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.
Trong những năm đầu thực hiện chủ trương đổi mới, trên địa bàn huyện liên tiếp bị nắng hạn, huyện đã tập trung chỉ đạo ngoài việc sử dụng có hiệu quả các công trình thuỷ lợi đã có, tích cực xây dựng các trạm bơm điện ở các xã dọc sông Trà Bồng và những nơi có điều kiện, chỉ đạo đắp đập bổi ngăn sông Trà Bồng để ngăn mặn, giữ ngọt, tập trung xây dựng trạm bơm Phước - Trị và 4 hồ chứa nước; cùng với đó huy động mọi lực lượng xây dựng công trình kênh mương thuỷ lợi Thạch Nham trên địa bàn huyện theo kế hoạch được tỉnh giao. Trên cơ sở đó, huyện chỉ đạo nghiên cứu bố trí lại cây trồng, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cải tạo đồng ruộng để tăng diện tích sản xuất từ 02-03 vụ lúa/năm, chuyển từ lúa cấy sang sạ thẳng đạt 80 - 90% diện tích, đưa vụ 3 trở thành vụ sản xuất chính, góp phần tăng sản lượng lương thực, giảm chi phí sản xuất. Tổng sản lượng lương thực năm 1991 đạt 37.000 tấn, tăng 2,7% so với năm 1989 và 10,4% so với năm 1990, thu nhập và mức sống của Nhân dân khá hơn trước.
Bước vào những năm 1991-2000, trên cơ sở quy hoạch thuỷ lợi được UBND tỉnh phê duyệt, ngoài những vùng quy hoạch thuỷ lợi lớn và vừa, huyện tiếp tục xây dựng công tình thuỷ lợi nhỏ như Hồ Hóc Mốc, đập Hang Beo và tiếp tục đắp đập bổi ngăn sông Trà Bồng, xây dựng đê ngăn lũ đoạn Châu Ổ - Bình Trung, đê ngăn mặn Bình Chánh và lập các dự án chống xói lỡ ven sông Trà Bồng; sửa chữa các hồ, đập đã xuống cấp, hư hỏng. Có thể nói, đến giai đoạn này hầu hết các công trình thuỷ lợi nhỏ trên địa bàn huyện đã được xây dựng phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các vùng ngoài Thạch Nham; chuyển trọng tâm là việc huy động tiền vốn và ngày công thi công các tuyến kênh mương chính của hệ thống thuỷ lợi Thạch Nham, kênh mương nội đồng trên địa bàn huyện và xây dựng các trạm bơm điện. Đặc biệt từ tháng 8/1993 nước Thạch Nham đã qua xi phông vượt sông Trà Bồng vào kênh B3 tưới cho các xã phía Bắc sông Trà Bồng; tiếp sau đó, các kênh B7, B1, B5 cũng hoàn thành tưới cho các xã Bình hiệp, Bình Long, Bình Thới, một phần Bình Dương và các xã phía đông huyện Bình Sơn; Kênh B1 tưới cho Bình Mỹ, B5 tưới cho Bình Hiệp, B10 (cuối kênh) tưới cho Bình Tân, Bình Phú, Bình Châu.
Trong 3 năm từ 1992 – 1995, huyện đã huy động trên 500.000 ngày công làm kênh mương thuỷ lợi Thạch Nham; hệ thống thuỷ lợi Thạch Nham đến năm1995 đã tưới được khoảng 1.600ha ruộng, đất, tăng gấp 5 lần so với năn 1992. Công tác khuyến nông được đẩy mạnh, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất được tiến hành, nhờ vậy sản lượng lương thực năm 1995 đạt 38.500 tấn, tăng gấp 1,5 lần so với 1992, nhiều xã có năng suất lúa đạt 40 tạ/ha/vụ. Cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi, nuôi tôm nước lợ… đều tăng, kinh tế hộ gia đình phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, nông dân gắn bó với ruộng đất được giao.
Trong 05 năm từ 1996 - 2000, trong quá trình triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ theo 05 chương trình kinh tế - xã hội do Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXII đề ra, công tác thuỷ lợi được tiếp tục tập trung chỉ đạo, trọng tâm là huy động ngày công làm kênh mương nội đồng, xây dựng thêm các trạm bơm điện để đưa nước đến các vùng ruộng, đất gần các kênh chính Thạch Nham và ven sông trà Bồng nhưng không có nước tưới. Đến cuối năm 2000, tổng diện tích được tưới là 12.600ha ruộng, đất sản xuất nông nghiệp, trong đó tưới bằng công trình kiên cố tăng hơn 2 lần so với năm 1996, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ, đẩy mạnh công tác khuyến nông và ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật .
Song song với việc phục vụ sản xuất nông nghiệp, huyện phối hợp với tỉnh và nhà đầu tư thực hiện kiên cố hoá kênh B7 để phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh trong khu công nghiệp Dung Quất; xây dựng nhà máy nước Châu Ổ từ nguồn nước ngầm mạch nông công suất 1.200m3/ngày đêm và nhiều công trình nước sạch từ nguồn nước ngầm khác, để phục vụ dân sinh sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại thị trấn Châu Ổ và nhiều xã thiếu nước ngọt; xây dựng một số đoạn đê, mỏ hàn ở thị trấn Châu Ổ và một số xã ven sông Trà Bồng để ngăn nước lũ, giảm thiểu xói lỡ bờ sông, giảm nhẹ thiên tai, lũ lụt.
Do vậy, sản lượng lương thực quy thóc liên tục tăng, đến năm 2000 ước đạt gần 52.000 tấn; đặc biệt, cây lạc và cây dưa hồng tăng nhanh về diện tích và sản lượng; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 6,7%/năm, trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5%/năm, công nghiệp xây dựng tăng 11,8%/năm, thương mại dịch vụ tăng 14%/năm.
Có thể nói từ sự tập trung lãnh đạo chỉ đạo của huyện, hệ thống thuỷ lợi nhỏ và thuỷ lợi Thạch Nham cùng với hệ thống điện lưới được mở rộng khắp các xã trong huyện đã làm thay đổi một cách căn bản về chuyển dịch kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp, nông thôn một cách rõ nét vào những năm cuối thế kỷ XX. Thuỷ lợi Thạch Nham và thuỷ lợi nhỏ thực sự là những công trình xoá đói, giảm nghèo cho nông dân; ý Đảng lòng dân đã hoà quyện, quyền lợi của người dân gắn liền theo từng công trình thuỷ lợi, đó chính là động lực cơ bản thúc đẩy nông dân tự nguyện bỏ công sức cùng với sự đầu tư của nhà nước làm cho hệ thống hồ, đập, hệ thống kênh mương thuỷ lợi Thạch Nham trên địa bàn huyện phục vụ sản xuất nông nghiệp cơ bản được hoàn thành, cùng với việc đầu tư phát triển của khu kinh tế Dung Quất theo đường lối đổi mới của Đảng là tiền đề, cơ hội thuận lợi để Bình Sơn vươn lên phát triển toàn diện về kinh tế và xã hội trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI.
Sau năm 2001 - 2020, công tác thuỷ lợi đã được tiến hành khá toàn diện, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã quy hoạch thuỷ lợi tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2006 – 2015; quy hoạch thuỷ lợi đến 2020, định hướng đến 2030; quy hoạch hệ thống đê biển tỉnh Quảng Ngãi đến 2020; quy hoạch phòng, chống lũ và chỉnh trị sông Trà Khúc, sông trà Bồng, sông vệ, sông Trà Câu… Nhiều công trình thuỷ lợi phát triển theo hướng phục vụ đa mục tiêu: Cung cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh, phòng chống lũ cho vùng hạ du, phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển,… Huyện Bình Sơn tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công cuộc thuỷ lợi hoá trên địa bàn huyện; ưu tiên bố trí nguồn lực và tranh thủ nguồn vốn của cấp trên, của các tổ chức quốc tế WB, ADB, chính phủ Nhật Bản, Úc… để đầu tư sửa chữa các hồ, đập đã xuống cấp, hư hỏng; xây dựng mới một số hồ, đập, đê sông, đê biển, kè chống sạt lỡ, kiên cố hoá kênh mương, xây dựng các trạm bơm điện…để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội theo chủ trương, kế hoạch thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.
Trong giai đoạn 2001 – 2020, bằng các nguồn vốn đầu tư và sự đóng góp của Nhân dân theo phương châm “nhà nước và Nhân dân cùng làm”, huyện tiếp tục triển khai thực hiện đầu tư thêm 04 hồ chứa nước, 04 đập dâng, 08 trạm bơm điện, tăng thêm diện tích thực tế tưới nước phục vụ sản xuất nông nghiệp lên 381ha. Đến năm 2020, toàn huyện đã dầu tư xây dựng bằng các nguồn vốn và ngày công của Nhân dân được 59 hồ chứa nước, 18 đập dâng, 16 trạm bơm điện; tranh thủ nguồn vốn của nước ngoài và vốn ngân sách để nâng cấp, sửa chữa 12 hồ chứa, góp phần nâng cao an toàn hồ đập; chính phủ Úc hỗ trợ 4 tuyến đê ngăn mặn cửa sông Trà Bồng; đào đắp 431,8km kênh mương Thạch Nham do huyện quản lý, trong đó đã kiên cố hoá được 276,7km; phối hợp với tỉnh đào đắp 70,5km kênh Thạch Nham do tỉnh quản lý trên địa bàn huyện, trong đó kiên cố hoá 50,3km; đến năm 2019, tổng diện tích sản xuất nông nghiệp có nước tưới từ các hệ thống công trình thuỷ lợi khoảng 17.655ha, trong đó tưới bằng công trình kiên cố 13.257ha. Năng suất lúa tiếp tục tăng: năm 1989 năng suất lúa bình quân đạt 23,3 tạ/ha; năm 1999 đạt 35,2 tạ/ha; năm 2009 đạt 49,38 tạ/ha; năm 2019 đạt 58,46 tạ/ha. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 1989 đạt 29.389 tấn; năm 1999 đạt 46.500 tấn; năm 2009 đạt 55.138 tấn; năm 2019 đạt 68.594 tấn. Tổng giá trị ngành nông nghiệp năm 1989 trên 186 tỷ đồng; năm 1999 đạt 219 tỷ đồng; năm 2009 đạt 598 tỷ đồng; năm 2018 đạt 2.650 tỷ đồng. Giá trị bình quân/ha đất canh tác năm 2018 đạt khoảng 70 triệu đồng/ha, tăng 7 lần so với năm 1989 (khoảng dưới 10 triệu đồng/ha).
Ngoài việc tạo nguồn nước tưới cho sản xuát nông nghiệp, huyện luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện quy hoạch xây dựng đê, đập ngăn mặn, giữ ngọt, chống sạt lở ven biển, ven sông Trà Bồng, giảm nhẹ thiên tai, lũ lụt và phục vụ cho phát triển công nghiệp, dân sinh. Huyện đã đề xuất và phối hợp với các cơ quan của tỉnh xây dựng 10 đê, kè biển (kè Bình Châu, kè thôn An Cường, kè thôn Phước Thiện, kè thôn lệ Thuỷ, đê ngăn mặn Bình Chánh, Bình Dương, Bình Nguyên…; xây dựng 07 đê, kè sông (kè Châu Ổ phía Đông, kè châu Ổ phía Tây, kè Bình Thới - Bình Dương, kè Châu Má, kè - mỏ hàn sông Dâu, đê Bình Trung, đê - đường Châu Ổ…) đã góp phần to lớn vào việc chống xói lở bờ biển, bờ sông và ngăn lũ, giảm nhẹ thiên tai tại vùng thị trấn Châu Ổ, Bình Trung, Bình Nguyên… và sạt lở ở một số xã ven biển.
Các công trình thuỷ lợi, đê, kè đã góp phần phục vụ tốt nguồn nước sinh hoạt cho người dân; những vùng thiếu nước, hoặc nước uống bị nhiễm mặn, nay đã cơ bản được giải quyết, giảm thiểu được bệnh tật, ổn định đời sống, nâng cao đời sống văn hoá, giải quyết thêm việc làm, tăng thu nhập của người dân. Quá trình thực hiện thuỷ lợi hoá cũng đã góp phần phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn huyện. Đặc biệt là việc phục vụ nước cho khu kinh tế Dung Quất, trong đó nhà máy nước VinaConex phục vụ cho Khu kinh tế Dung Quất; trạm bơm 100.000m3/ngày - đêm được xây dựng sau khi hệ thống đập ngăn mặn sông Trà Bồng ở xã Bình Dương hoàn thành, đã cung cấp đủ nguồn nước ngọt cho nhà máy thép Hoà Phát.
Là một huyện thường xuyên bị lũ lụt, ngoài việc chỉ đạo phòng, chống lũ lụt theo kế hoạch chung hàng năm, huyện Bình Sơn đã tích cực phối hợp với ngành cấp trên triển khai thực hiện dự án giảm nhẹ thiên tai do nước ngoài tài trợ nhằm nâng cao năng lực cho cộng đồng để người dân trong diện nguy cơ ngập lụt biết cách giảm nhẹ thiệt hại do lũ lụt gây ra; xâydựng bản đồ ngập lụt với tầng suất 1%, 2%, 5%, 10%, 20%, 50%, cho vùng ngập lụt sông trà Bồng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo, quản lý, thực hiện di dời dân để phòng tránh lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai. Ngoài các công trình đê, kè, huyện tích cực phối hợp xây dựng vũng neo đậu thuyền ở xã Bình Đông, xây dựng 50 nhà tránh lũ cho hộ nghèo ở vùng ngập sâu, xây dựng nhiều cột mốc báo lũ tại một số vùng ngập trọng điểm, nhằm cung cấp cho người dân trong vùng nhận biết mực nước lũ hiện thời để phòng tránh. Nhìn chung công tác phòng, chống lũ lụt luôn được huyện tập trung chỉ đạo, góp phần hạn chế tối đa về người và tài sản của Nhân dân khi có lũ lụt xảy ra.
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh thực hiện, cơ sở hạ tầng ở khu dân cư nông thôn được đầu tư mới hàng nghìn tỷ đồng, trong đó đã kiên cố hoá được 155,59km kênh mương nội đồng, diện mạo nông thôn có nhiều thay đổi, đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn ngày càng tốt hơn.
Cùng với quá trình thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, công cuộc thuỷ lợi hoá ở huyện Bình Sơn đã góp phần rất tích cực vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Nếu năm 1986, ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ rất kém phát triển; sản xuất nông nghiệp còn rất khó khăn, diện tích gieo trồng chỉ đạt 21.242 ha, sản lượng lương thực quy thóc 34.500tấn, lương thực bình quân đầu người 215kg/năm, đời sống của Nhân dân trong huyện rất nhiều khó khăn như Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XX có ghi: “Trong điều kiện kinh tế khó khăn, Nhân dân thiếu đói ở một vùng rộng, huyện đã tạo được một phần quỹ lương thực để hỗ trợ, cứu đói và cho mượn, đồng thời tranh thủ cấp tỉnh được 40 tấn gạo hỗ trợ mà ngăn chặn được nạn đói năm 1987”; thì đến năm 2020, tổng giá trị sản xuất của huyện là 17.773 tỷ đồng, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 15,78%, công nghiệp xây dựng 35,04%, dịch vụ 49,18%, bình quân thu nhập đầu người khoảng 50,1 triệu đồng/năm, giá trị sản xuất bình quân 1ha đạt 75 triệu đồng, tỷ lê hộ nghèo theo chuẩn mới còn 5%, không còn hộ đói, Bình Sơn trở thành huyện phát triển khá trong tỉnh, đang triển khai xây dựng huyện trở thành thị xã theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Từ đường lối đổi mới của Đảng, với sự hội nhập sâu rộng cả về ngoại giao và kinh tế đã đưa đất nước ta phát triển mạnh mẽ, toàn diện được nhiều nước trên thế giới và tổ chức quốc tế đánh giá cao và ngưỡng mộ. Trong sự nghiệp phát triển chung của cả nước, của tỉnh; huyện Bình Sơn cũng đã và đang trở thành điểm sáng trong phát triẻn kinh tế - xã hội của tỉnh. Nếu nói rằng khu kinh tê Dung Quất tạo ra một chuỗi hiệu ứng phát triển đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện một cách sâu sắc thì công cuộc thuỷ lợi hoá của Bình Sơn là gốc rễ để phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân của huyện, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững của huyện không những trong hiện tại và cả những năm về sau.
Một vài kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện
- Đạt được những kết quả trên, trước hết là vai trò lãnh đạo của Huyện uỷ, sự quản lý điều hành của UBND huyện, tổ chức thực hiện của các cơ quan trong hệ thống chính trị từ huyện đến cấp xã một cách tích cực, trách nhiệm, kịp thời, vô tư, trong sáng, tất cả vì cuộc sống ấm no của Nhân dân, vì sự phát triển của huyện. Trong đó, cán bộ chủ chốt là người luôn đi đầu, nêu gương trong việc thực hiện mọi chủ trương, công tác của huyện.
- Công tác vận động quần chúng rất được huyện coi trọng, lợi ích của người dân luôn được đặt lên hàng đầu, biết dựa vào sức dân; do vậy, trong hầu hết các chủ trương của huyện, trong đó có nhiệm vụ phát triển thuỷ lợi luôn được Nhân dân đồng tình, ủng hộ rất cao.
- Là huyện còn khó khăn về ngân sách, vốn đầu tư rất hạn hẹp, huyện luôn xem xét đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; tích cực tranh thủ được nguồn vốn của cấp trên, vốn của tổ chức quốc tế, của nước ngoài, đặc biệt là vốn đầu tư của doanh nghiệp và vốn đóng góp của Nhân dân để phát triển kinh tế, đầu tư hạ tầng trong đó có hệ thống thuỷ lợi như ngày nay.
- Xây dựng và phối hợp xây dựng quy hoạch, tổ chức thực hiện chặt chẽ quy hoạch được duyệt để công trình đầu tư xây dựng được đồng bộ, phù hợp, phát huy được hiệu quả nhanh chóng, bền vững, tránh lãng phí.
- Sâu sát cơ sở, không đùn đẩy công việc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ.
Mấy suy nghĩ cho thời gian tới
Theo dự báo, biến đổi khí hậu trong thời gian đến diễn biến khó lường, là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ XXI. Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường sinh thái trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta: nền nhiệt độ tăng, lượng mưa vào mùa mưa tăng và nước biển dâng nên các loại hình thiên tai như bão, lũ lụt, sạt lỡ bờ sông, bờ biển, hạn hán, xâm nhập mặn… có nguy cơ tăng cao. Vì vậy tài nguyên nước có nguy cơ suy giảm về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và các ngành sản xuất khác; nhiều công trình thuỷ lợi, nhất là các hồ chứa nước được xây dựng vào giai đoạn cuối những năm 1975 và những năm 80 của thế kỷ trước, nay đã xuống cấp, hư hỏng, cần được nâng cấp, sửa chữa; hệ thống đê sông Trà Bồng, đê biển chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ, nguy cơ sạt lở bờ sông, bờ biển, bồi lấp cửa sông Sa Cần … đang hiện hữu, cần thực hiện với nguồn vốn đầu tư rất lớn, trong khi ngân sách huyện rất hạn hẹp, là những thách thức mà huyện Bình Sơn cần phải có giải pháp thực hiện.
- Để tiếp tục công cuộc thuỷ lợi hoá toàn diện mà trọng tâm là cấp nước tưới chủ động cho khoảng 5.510 ha lúa Đông Xuân, 4.575 ha lúa Hè Thu, khoảng 7.800 ha cây rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày và cấp nước cho khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp tỉnh, nước sinh hoạt cho người dân, nước nuôi trồng thuỷ sản và các ngành kinh tế khác, phòng, chống lũ lụt, sạt lở bờ sông Trà Bồng, bờ biển. Vì vậy, huyện cần tranh thủ các nguồn vốn từ ngân sách cấp trên, của doanh nghiệp, của tổ chức quốc tế, nước ngoài và ngân sách huyện để tiếp tục đầu tư mới, sửa chữa, nâng cấp các công trình thuỷ lợi đã xuống cấp.
- Tiếp tục huy động nguồn lực theo phương châm “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”, “Nhân dân làm Nhà nước hỗ trợ” để dồn điền, đổi thửa, chỉnh trang đồng ruộng, đầu tư kiên cố hoá kênh mương nội đồng.
- Có biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các công trình thuỷ lợi, không lãng phí nguồn nước tưới để phục vụ tốt hơn cho sản xuất nông nghiệp.
- Nghiên cứu để tham gia hoặc chủ động thực hiện việc tiêu thoát nước, chống ngập, xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu, do thi công các công trình, khu dân cư.
- Nâng cao ý thức của người dân trong việc phòng, tránh thiên tai, bão, lụt nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại.
* Ghi chú: Bài viết này có tham khảo, trích dẫn các nguồn tài liệu sau:
- Các báo cáo chính trị trình Đại hội huyện lần thứ XIX đến lần thứ XXVII.
- Địa chí huyện Bình Sơn.
- Lịch sử Đảng bộ huyện Bình Sơn (1975 – 2005).
- Các báo cáo thống kê của huyện về nông nghiệp; tài liệu Hội thuỷ lợi tỉnh Quảng Ngãi.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét