Khi khảo cứu các nguồn tư liệu thư tịch cổ Việt Nam từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, có thể thấy rằng, cũng giống như các địa phương khác ở Trung bộ và Nam bộ, “Thái Cần”, “Sa Kỳ” thuộc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi ngày nay đã dần đi vào sử sách dân tộc, thông qua những sự kiện lịch sử diễn ra trên vùng đất này gắn liền với cuộc hành trình “Nam tiến” của người Việt.
Trên thực tế, giới nghiên cứu có thể tìm thấy những ghi chép sớm nhất
về “Thái Cần” và “Sa Kỳ” trong Đại Việt sử kí toàn thư do
Ngô Sĩ Liên và các sử thần Lê trung hưng biên soạn. Sau đó, đến giai đoạn triều
Nguyễn, hai địa danh này, nhất là “Sa Kỳ” đã được nhắc đến không ít lần trong
Đại Nam nhất thống chí và đặc biệt là Đại Nam thực lục. Trong tất
cả các nguồn thư tịch cổ nêu trên, chỉ trừ Đại Nam nhất thống chí ghi
chép một cách hệ thống và miêu tả tương đối chi tiết vị trí địa lí, đặc điểm địa
hình, thuỷ văn của “tấn Thái Cần” và “tấn Sa Kỳ” theo thể thức biên
soạn địa chí đương thời, còn lại những ghi chép trong Đại Việt sử kí toàn
thư và Đại Nam thực lục đều mang tính chất rời rạc, phân tán và và
gián tiếp, thông qua các sự kiện lịch sử gắn liền với hai cửa biển này. Điều
đáng nói là hiện nay, các thành quả học thuật đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến
“Thái Cần” và “Sa Kỳ” cũng không ít, nhưng khó tìm thấy một công
trình nào có thể giải quyết một cách thấu đáo, thuyết phục tên gọi của hai cửa
biển này, đặc biệt là vai trò kinh tế, quốc phòng của nó trong lịch sử cổ -
trung đại Việt Nam. Chính điều đó là khơi gợi và mang lại cho tác giả một niềm
cảm hứng nghiên cứu mãnh liệt, với hi vọng có thể góp thêm một hướng tiếp cận mới
trong quá trình nghiên cứu vấn đề lịch sử hấp dẫn này.
1. Về tên gọi
Từ trước đến nay, nghiên cứu về địa danh vẫn luôn có sức
hấp dẫn đặc biệt, bởi những điều thú vị mà nó mang lại. Tuy nhiên, đó chắc chắn
không phải là một công việc dễ dàng. Vì để có thể đưa ra những kiến giải thuyết
phục và hợp lí về tên gọi của một vùng đất nào đó, giới học giả cần phải thực
hiện hoặc dựa trên các công trình học thuật mang tính chất liên ngành với góc
nhìn đa chiều. Tuy nhiên, trên thực tế, địa danh có thể được hình thành từ những
cách thức rất “gần gũi” và “bình thường”, có khi vượt ra ngoài những
lập luận khoa học phức tạp và phán đoán chủ quan của nhà nghiên cứu. Trường hợp
“Thái Cần” và “Sa Kỳ” cũng không phải là ngoại lệ.
Khi khảo cứu các nguồn tư liệu thư tịch cổ Việt Nam, có
thể nhận thấy rằng, cửa biển Thái Cần còn có các tên gọi khác như Mễ Cần, Cần
Áo, Sa Cần... Theo một số học giả, địa danh “Mễ Cần [米芹]” được đề cập trong Đại Việt sử kí toàn thư gắn liền với sự kiện Lê Thánh Tông chinh phạt
phương Nam vào năm 1471. Nếu đúng như vậy thì đây chính là tên gọi sớm nhất của
cửa biển này được ghi chép trong sử sách. Đối với “Thái Cần”, tên gọi này được triều Nguyễn chính thức đề cập trong
các thư tịch do nhà nước phát hành, dùng để chỉ cho một cửa biển “ở cách huyện Bình Sơn 10 dặm về phía đông bắc,
cửa biển rộng 45 trượng, thủy triều lên sâu 1 trượng, thủy triều xuống sâu 8
thước. Có 2 ghềnh đá, một là ghềnh Ông, một là ghềnh Thạch Bàn, về phía bắc ghềnh
Thạch Bàn, cửa lạch rộng, nước sâu, tàu thuyền có thể đi lại; về phía nam ghềnh,
cửa lạch hẹp, nước cạn, tàu thuyền không thể qua lại. Phía nam có vụng gọi là vụng
Quýt”[1]. Cụ thể, Đại Nam nhất thống chí trong phần viết về
các cửa quan và tấn sở trên đất Quảng Ngãi đã đề cập đến tên gọi “tấn Thái Cần”. Đại Nam thực lục trong 08 lần đề cập đến các sự việc xảy ra tại cửa
biển ở phía đông bắc huyện Bình Sơn thì có đến 07 lần dùng tên gọi “Thái Cần” và chỉ duy nhất 01 lần dùng
tên “Cần Áo” nhưng cũng chú thích rõ
là cửa Thái Cần. Trong khi đó, tên gọi “Sa
Cần” mặc dù không thấy đề cập đến trong các thư tịch của triều Nguyễn cũng
như các nhà nước quân chủ trước đó, nhưng cho đến ngày nay vẫn được lưu hành và
sử dụng. Như vậy, với việc được đề cập nhiều lần và thống nhất trong các tài liệu
do triều Nguyễn ban hành, điều đó cho thấy muộn nhất là đến thế kỉ XIX, “Thái
Cần” đã trở thành tên gọi mang tính chất “quan phương”, được nhà nước quân chủ đương thời sử dụng chính thức
trong các văn bản, thư tịch. Còn “Sa Cần”
(không rõ thời gian xuất hiện do chưa tìm thấy thư tịch cổ nào đề cập đến tên gọi
này) có lẽ là tên gọi lưu hành trong dân gian của cửa biển Thái Cần, có tính chất
phổ biến tại địa phương nhưng lại “phi
quan phương”, tức không được chính quyền quân chủ sử dụng chính thức trong
các văn bản của nhà nước.
Trong Đại Nam nhất thống
chí, tên gọi “Thái Cần” được viết dưới dạng Hán tự là “菜芹”. Khi tra cứu các từ điển tiếng
Hán hiện đại, có thể biết được, “Thái [菜]”
có nghĩa là thực phẩm, cụ thể là rau[2].
Còn “Cần [芹]” dùng để chỉ “rau Cần”[3]
mà chúng ta biết đến ngày nay và trong tiếng Hán, “Cần Thái [芹菜]” chính là rau Cần. Như vậy, dù
là “Thái Cần [菜芹]”
hay “Cần Thái [芹菜]”
thì đều có thể hiểu là rau Cần, nhưng theo suy đoán của tác giả thì “Thái Cần
[菜芹]” chính là cách gọi đã được
Việt hoá từ “Cần Thái [芹菜]”.
Vậy, có phải khu vực này trong lịch sử đã từng tồn tại loài rau có tên là Cần
và cùng với thời gian nó trở thành tên gọi của vùng đất? Nếu thực sự như vậy
thì loại rau Cần đặc biệt này vì sao đến ngày nay không còn dấu vết gì trên
vùng đất này? Nó có phải là loài rau Cần mà ngày nay vẫn được dùng làm thực phẩm
trong các gia đình Việt? Những câu hỏi trên khiến người ta hoài nghi về cách lí
giải tên gọi “Thái Cần [菜芹]”
xuất phát từ loại rau Cần nào đó từng tồn tại ở đây. Trong sách Lịch sử Đảng
bộ huyện Bình Sơn 1930-1975, các tác giả không biết dựa vào nguồn tư liệu gốc
nào đã khẳng định sự liên quan của tên gọi “Thái Cần [菜芹]” với loại “rau câu”
có nhiều trong vùng biển này và ở thời điểm Lê Thánh Tông đặt chân đến đây trong
cuộc Nam chinh 1471 đã cho quân lính thu nhặt để dự trữ làm thức ăn. Tuy nhiên,
trong tiếng Hán, rau câu (Gracilaria) lại có tên là Giang li thuộc
[江蓠属], tức là rất xa với âm đọc “Thái
Cần [菜芹]”.
Nếu như các cách tiếp cận trên
chưa thể giúp cho giới học giả có một đáp án thuyết phục về tên gọi “Thái
Cần [菜芹]”, thì cách diễn giải chữ
“Cần [芹]” trong Khang Hy tự
điển lại gợi mở cho các nhà nghiên cứu cách giải thích khác tương đối hợp
lí hơn về tên gọi “Thái Cần [菜芹]”.
Khang Hy tự điển ghi rõ, “Cần [芹]”
là một loài rau sống dưới nước [thuỷ thái: 水菜],
gọi là “Thuỷ Cần [水芹]”
và còn có tên khác là “Thuỷ Anh [水英]”[4].
Như vậy, giới nghiên cứu không có đủ cơ sở tư liệu để khẳng định “Thái Cần
[菜芹]” là “rau câu”, nhưng
“Thái Cần [菜芹]” chắc chắn là một
loài rau thuỷ sinh với tên gọi “Thuỷ Cần [水芹]”,
sinh trưởng nhiều ở vùng cửa biển ở phía đông bắc huyện Bình Sơn xưa và có lẽ
vì vậy mà hải khẩu này có tên là “Thái Cần [菜芹]”
chăng?
Đối với “Cần Áo [芹澳]”, đây là một tên gọi khác được
triều Nguyễn sử dụng để chỉ cửa biển “Thái Cần [菜芹]”.
Vì “Cần [芹]” nằm trong chữ “Thái
Cần [菜芹]”, nghĩa của nó đã được
giải thích ở trên, nên có lẽ không cần phải bàn thêm nữa. Trong khi đó, nghĩa gốc
của chữ “Áo [澳]” là khu vực trũng hoặc
lãm vào ở trên bờ biển hoặc bờ sông và từ đó được suy rộng ra là cảng loan, tức
là chỗ bờ biển uốn khúc, tạo thành vũng vịnh có thể làm nơi cập bến của thuyền
bè. Có lẽ dưới triều Nguyễn, cửa biển này với tên gọi quan phương là “Thái Cần
[菜芹]”, lại là “tấn sở”, tức
là nơi biển ăn sâu vào trong đất liền tạo thành vũng vịnh có lực lượng thuỷ
binh đồn trú, canh phòng với tàu thuyền thường xuyên ra vào neo đậu, nên nó còn
được gọi là “Cần Áo [芹澳]”
cũng là điều dễ hiểu.
Còn về tên gọi “Sa Cần
[沙芹]”, trong khi chờ đợi lời giải
đáp của các nhà ngôn ngữ học để trả lời cho câu hỏi “Sa” xuất hiện trong
tên gọi “Sa Cần [沙芹]”
cũng như một số địa danh ở Quảng Ngãi phải chăng có nguồn gốc từ tiếng Chăm, tác
giả của bài viết này xin được bước đầu giải thích ý nghĩa của Hán tự này. Trong
tiếng Hán, “Sa [沙]”
có nghĩa là cát, nhưng cũng được giải thích với nghĩa rộng là chỗ đất được hình
thành gắn với yếu tố nước (biển, sông) có thể trồng cấy được[5].
Nếu đem các hàm nghĩa trên “soi chiếu” vào điều kiện tự nhiên của cửa biển
nằm ở phía đông bắc huyện Bình Sơn trong quá khứ cũng như hiện tại, có thế thấy
rằng, nó hoàn toàn phù hợp. Trên thực tế, nói đến Sa Cần, không thể chỉ hiểu đó
là khu vực mặt nước, nơi sông Châu Tử[6]
(một nhánh của sông Trà Bồng ngày nay) chảy ra biển mà nó còn bao gồm vùng đất
ven hai bờ cửa biển mà ở đó chắc chắn không thể thiếu bờ biển dài và cát trắng.
Và như đã từng đề cập, “Sa Cần” là tên gọi không chính thức của cửa biển
Thái Cần. Nó có lẽ là cách gọi lưu hành phổ biến trong dân chúng địa phương, được
hình thành theo một tư duy và thói quen định danh rất đơn giản: cửa biển ở phía
đông nam Bình Sơn gọi là Sa Kỳ thì cửa biển phía đông bắc huyện này gọi là Sa Cần,
nghe sẽ thuận tai hơn là tên gọi Thái Cần.
Đối với “Sa Kỳ [沙圻][7]”,
các tài liệu thư tịch cổ Việt Nam từ Đại Việt sử kí toàn thư cho đến các
sử liệu chính thống của triều Nguyễn đều ghi chép thống nhất cách phát âm tiếng
Việt của địa danh này[8].
Điều đó cho thấy, đây là tên gọi mang tính chất quan phương của cửa biển nằm ở
phía đông nam huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi ngày nay và từ thế kỉ XV đến thế kỉ
XIX không hề có sự thay đổi. Trong Đại Nam nhất thống chí, “tấn Sa Kỳ”
được miêu tả “ở cách huyện Bình Sơn 37 dặm về phía đông nam, cửa biển rộng
145 trượng, thuỷ triều lên sâu 6 thước, thuỷ triều xuống sâu 3 thước, có đặt thủ
sở. Cửa biển nước sâu, ở giữa có ghềnh đá nhô lên mặt nước, đứng xa trông như
hình người đứng câu. Người sau tục vịnh bài “Thạch ki điếu tẩu” là cảnh thứ 12 ở
Quảng Ngãi. Phía nam ghềnh cửa biển rộng, tàu thuyền có thể đi lại, phía bắc ghềnh
của biển hẹp, tàu thuyền lớn không thể vào được. Phía nam có vụng An Vĩnh, bên
ngoài có trấn sơn. Lại ấp An Hải giáp bãi biển, cát đá bồi lấp thành hình tròn
như cái mâm. Tập Mười cảnh ở Quảng Ngãi có một đề là “An Hải sa bàn”, tức là chỗ
này”[9].
Vậy tên gọi “Sa Kỳ” có ý nghĩa gì? Trước khi có những nghiên cứu liên
ngành chuyên sâu về địa danh này, tác giả bài viết chỉ xin tiếp cận ở khía cạnh
ý nghĩa Hán tự của nó. Cũng giống như “Sa Cần [沙芹]”,
“Sa [沙]” trong chữ “Sa Kỳ
[沙圻]” cũng được hiểu là cát và
nghĩa rộng là chỗ đất được hình thành gắn liền với yếu tố nước (biển, sông)[10].
Chữ “Kỳ [圻]” có rất nhiều nghĩa,
trong số đó “bờ biển”[11]
uốn khúc là hàm nghĩa phù hợp nhất cho việc giải thích địa danh Sa Kỳ. Như vậy,
có lẽ cửa biển ở phía đông nam huyện Bình Sơn ngày nay đã được định danh là “Sa
Kỳ [沙圻]” gắn liền với chính
những yếu tố tự nhiên (cát, biển ăn sâu vào đất liền tạo thành vũng vịnh, chỗ đất
gắn liền với yếu tố nước) của chính nơi này.
2. Sa Kỳ trong mô hình phòng
thủ “cửa biển - hải đảo” dưới thời các chúa Nguyễn thế kỉ XVII-XVIII
Thế kỉ XVII-XVIII, các chúa
Nguyễn với tầm nhìn hướng biển, nhằm củng cố tiềm lực kinh tế, chính trị, quốc
phòng trong cuộc đối đầu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài cũng như mở rộng cương thổ về
phương Nam đã “đặt cược thể chế của mình vào sự hưng vong của kinh tế ngoại
thương”[12] gắn liền
với biển. Chính điều đó đã đưa vùng đất Đàng Trong dần dần trở thành một “thể
chế biển”, “vương quốc biển” trong giai đoạn này. Tuy nhiên, việc đẩy
mạnh hải thương đương thời cũng đặt ra với chính quyền chúa Nguyễn không ít vấn
đề, trong đó đáng nói nhất là việc phòng thủ biển, đảo. Trên thực tế, để giải
quyết vấn đề này, bên cạnh “xây dựng hệ thống phòng thủ, đồn canh và bố trí
lực lượng canh gác” và “bố trí chướng ngại vật tại các cửa biển để đề
phòng, ngăn cản sự xâm nhập của tàu thuyền các thế lực bên ngoài”[13],
các chúa Nguyễn còn nghiên cứu kĩ điều kiện tự nhiên đặc biệt của khu vực biển
đảo gần bờ thuộc một số địa phương ở miền Trung Việt Nam ngày nay, để xây dựng
mô hình phòng thủ độc đáo “cửa biển - hải đảo”. Nếu như ở Quảng Nam và
Bình Định có “Cửa Đại Chiêm - Cù lao Chàm”, “Cửa Thị Nại - Cù lao
Xanh” thì ở Quảng Ngãi lại có “Cửa Sa Kỳ - Cù lao Ré”. Nguồn sử liệu
được ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí cho biết, Sa Kỳ là hải khẩu
cách huyện Bình Sơn 37 dặm về phía đông nam, cửa biển rộng 145 trượng, thủy triều
lên sâu 6 thước, thủy triều xuống sâu 3 thước. Cửa biển nước sâu ở giữa có ghềnh
đá nhô lên mặt nước, đứng trông xa như hình người đứng câu (Thạch Ky điếu tẩu [石磯釣叟]). Phía nam ghềnh, cửa biển rộng,
tàu thuyền có thể đi lại. Phía nam có vụng An Vĩnh, bên ngoài có trấn sơn. Lại
có ấp An Hải giáp bãi biển, cát đá bồi lấp thành hình tròn như cái mâm[14].
Trong khi đó, nằm ở giữa biển cách huyện Bình Sơn 65 dặm về phía đông, “đối
ngọn với tấn Sa Kỳ”[15]
là Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn), xung quanh nổi cao, ở giữa trũng xuống ước mấy chục
mẫu. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn từng ghi chép như sau: “Phủ
Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré,
rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển 4 canh thì
đến; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những
hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần
xứ Bắc Hải”[16]. Trên
thực tế, đây là đảo tiền tiêu, “trấn sơn”, “bức bình phong” kết hợp
với cửa biển Sa Kỳ tạo thành một mô hình điển hình trong phòng thủ và bảo vệ chủ
quyền lãnh hải của thủy quân chúa Nguyễn trên vùng biển Quảng Ngãi nói riêng và
Đàng Trong nói chung. Sa Kỳ, Cù lao Ré cũng chính là “phát nguyên địa” của
đội Hoàng Sa, chuyên trách nhiệm vụ quản lí, khai thác hai quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa và làm nhiệm vụ tuần tra, thám sát vùng biển đảo của tổ quốc ta dưới
thời chúa Nguyễn cũng như triều Nguyễn sau này.
3. Từ hoạt động cướp biển và
chống cướp biển của triều Nguyễn tại Thái Cần và Sa Kỳ nghĩ về vai trò kinh tế -
quốc phòng của các cửa biển này trong thế kỉ XIX
Các sử liệu ghi chép trong Đại
Nam thực lục cho biết, từ năm 1834 đến năm 1874 đã có 08 lần cướp biển
hoành hành ở hải phận Quảng Ngãi. Trong đó có 05 lần tài liệu ghi rõ là cướp biển
Trung Quốc, 03 lần còn lại không rõ nguồn gốc xuất xứ của chúng. Địa điểm cướp
bóc của hải tặc chủ yếu là hai cửa biển Thái Cần và Sa Kỳ. Cụ thể, cướp biển
Trung Quốc lợi dụng sự sơ hở trong tuần tra, kiểm soát của lực lượng tuần dương
đã cướp bóc tài sản, hàng hoá của thuyền buôn ở cửa biển Thái Cần vào tháng 03
năm 1834, tháng 01 năm 1835 và tháng 02 năm 1874. Trong khi đó, chúng cũng tiến
hành các hành động tương tự tại cửa biển Sa Kỳ ở các thời điểm tháng 03 năm 1935,
tháng 03 năm 1836 và tháng 03 năm 1855. Có lần chúng liều lĩnh, táo tợn cướp vũ
khí của lực lượng tuần dương ở Sa Kỳ và đốt phá nhà cửa của dân chúng trên đảo
Lý Sơn (04/1843) hoặc tràn lên cả trên bờ biển Sa Kỳ để cướp bóc (06/1867). Trước
tình hình cướp biển lộng hành như vậy, triều Nguyễn ngay từ đầu đã có những biện
pháp quyết liệt để ngăn chặn, truy bắt, tiêu diệt chúng. Các thông tin trong bảng
dưới đây sẽ cho giới nghiên cứu có được cái nhìn tổng quan về hoạt động của cướp
biển trên vùng biển Thái Cần, Sa Kỳ cũng như đối sách của triều Nguyễn để giải
quyết vấn nạn này.
Bảng
1: Cướp biển trên vùng biển Thái Cần, Sa Kỳ và biện pháp phòng chống của triều
Nguyễn
|
Thời gian |
Xuất xứ của cướp biển |
Địa điểm cướp bóc |
Biện pháp của triều Nguyễn |
|
03/1834[17] |
Cướp biển Trung Quốc |
Cửa biển Thái Cần |
Lực lượng tuần dương ở địa
phương truy bắt được chiếc thuyền lạ của người Trung Quốc ở vũng An Vĩnh thuộc
Sa Kỳ. Minh Mệnh hạ lệnh cho Bộ
Binh phải nghiêm túc đôn đốc các bộ biền tuần dương tấn sở thủ sở ở vùng Nam -
Ngãi, trong đó có Thái Cần, Sa Kỳ phải ngày đêm đi lại tuần tra, nếu gặp thuyền
lạ của người Trung Quốc, có vẻ khả nghi, xét không phải là thuyền buôn thì lập
tức bắt giải để xét trị. |
|
01/1835[18] |
Cướp biển Trung Quốc |
Cửa biển Thái Cần |
Minh Mệnh hạ lệnh giáng chức
viên tấn thử sở tại. Minh Mệnh truyền lệnh cho
quan tỉnh gấp rút sai phái binh lính đuổi bắt giặc biển. |
|
03/1835[19] |
Cướp biển không rõ nguồn gốc |
Cửa biển Sa Kỳ và Đại Cổ Luỹ |
Minh Mệnh truyền dụ cách chức
Phó lãnh binh Trần Hữu Di, giáng cấp đối với Bố chính Trương Văn Uyển và Án
sát Nguyễn Thế Đạo vì đã không làm tròn nhiệm vụ trấn giữ tại các cửa biển
này, đồng thời phải khẩn trương truy bắt giặc biển. |
|
03/1836[20] |
Cướp biển Trung Quốc |
Cửa biển Sa Kỳ |
Minh Mệnh truyền lệnh giáng
chức Phó vệ uý tuần dương Nguyễn Văn Khách vì binh thuyền đến tấn phận Sa Kỳ
neo đậu nhiều ngày mà không thể ngăn chặn và truy bắt được giặc biển. |
|
04/1843[21] |
Cướp biển Trung Quốc |
Cửa biển Sa Kỳ và đảo Lý Sơn
|
Thự Vệ uý Vệ Loan giá Tôn Thất
Năng, Thự Lang trung bộ Binh Lê Quốc Hương đi thuyền Thanh Loan truy đuổi,
đánh vỡ và chìm toàn bộ thuyền của giặc biển. Thiệu Trị có lời khen và ban
thưởng cho Tôn Thất Năng, Lê Quốc Hương và quân binh tham gia. |
|
03/1855[22] |
Cướp biển không rõ nguồn gốc |
Cửa biển Sa Kỳ và Đại Cổ Luỹ |
Các viên quản đốc ba hiệu
thuyền Tỉnh Dương, Điệu Phi, Bằng Đoàn do triều đình phái đi tuần tiễu vùng
biển này đều bị giáng chức vì không truy bắt được giặc biển. |
|
06/1867[23] |
Cướp biển không rõ nguồn gốc |
Cửa biển Sa Kỳ và lên trên bờ
|
Tự Đức chuẩn y cho quân thứ
Tĩnh Man hội quân với quan tỉnh Quảng Ngãi cùng đánh. Tự Đức hạ lệnh cho Chưởng vệ
Đặng Văn Siêu đem bảy chiếc thuyền quân đến để cùng truy bắt giặc biển. |
|
02/1874[24]
|
Cướp biển Trung Quốc |
Cửa biển Thái Cần |
Tự Đức hại lệnh cho bộ Hình
xử tội Án sát Quảng Ngãi Lê Bảng và Lãnh binh Nguyễn Gia Trưng vì đã không
truy bắt được cướp biển mà còn bắt và giết 34 thương nhân Trung Quốc đến buôn
bán ở cửa biển này vì nhầm lẫn đó là cướp biển. |
Tuy nhiên, cướp biển và chống
cướp biển tại Thái Cần và Sa Kỳ không phải là nội dung chính cần tái hiện trong
bài viết này. Điều cốt yếu là phải làm rõ được vai trò thương mại - quốc phòng
của hai cửa biển trong thế kỉ XIX. Khi các nguồn tài liệu thư tịch cổ không có
những ghi chép trực tiếp về vấn đề này thì việc khai thác gián tiếp những thông
tin từ vấn nạn cướp biển và hoạt động chống cướp biển của triều Nguyễn tại Thái
Cần và Sa Kỳ cũng phần nào giúp giới nghiên cứu có thể hình dung được những nét
cơ bản nhất về vai trò kinh tế - quốc phòng của hai hải khẩu.
Thứ nhất, trên phương diện quốc
phòng, trong Đại Nam nhất thống
chí khi ghi chép về Thái Cần và Sa Kỳ đều gọi các nơi này là “tấn”.
Trong tiếng Hán, “Tấn [汛]”
được giải thích là nơi đồn trú của lực lượng quân đội làm nhiệm vụ tuần tra,
canh phòng[25] và trong
sử liệu triều Nguyễn, nó được dùng để chỉ đồn, trạm thuỷ quân ở cửa sông, cửa
biển. Thông qua các ghi chép về hoạt động phòng chống cướp biển của triều Nguyễn,
có thể biết được rằng, tại Thái Cần[26]
và Sa Kỳ trong thế kỉ XIX chắc chắn đã có sự hiện diện của lực lượng thuỷ quân,
đứng đầu là viên tấn thủ cùng với các thuộc binh, thường xuyên thực hiện nhiệm
vụ tuần dương, phòng chống hải tặc, đảm bảo an ninh hàng hải tại hai cửa biển
này. Phối hợp với đội thuỷ binh đồn trú tại chỗ còn có các lực lượng khác do
triều đình sai phái đến tuần tra theo định kì hoặc truy bắt giặc biển trong những
lúc cấp bách. Điều này xuất phát từ ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo của triều Nguyễn
đương thời. Đặc biệt từ năm 1834 trở đi, khi Quảng Ngãi cùng với Quảng Nam trở
thành “Nam trực” thì việc tăng cường phòng thủ các cửa biển trên khu vực
này, trong đó có Thái Cần và Sa Kỳ thuộc huyện Bình Sơn cũng là điều đương
nhiên. Và chắc chắn việc khảo sát kĩ lưỡng chiều rộng, độ sâu, chế độ thuỷ triều,
các ghềnh đá, luồng lạch của hai cửa biển[27]
được ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí cũng không nằm ngoài mục đích
phục vụ cho hoạt động phòng thủ tại nơi đây.
Thứ hai, trên phương diện
thương mại, sử liệu trong Đại Nam thực
lục của Quốc sử quán triều Nguyễn cho biết, trong 08 lần cướp biển xuất hiện
tại Thái Cần và Sa Kỳ, thì có ít nhất 04 lần chúng quấy phá, cướp bóc các thuyền
buôn ra vào hai cửa biển này[28].
Điều đó cho thấy, đương thời hoạt động hải thương diễn ra trên hải phận Thái Cần
và Sa Kỳ tương đối sầm uất. Tác động tích cực từ hoạt động thương mại biển cũng
dần dần đưa Thái Cần và Sa Kỳ trở thành nơi tụ cư đông đúc của cư dân, đồng thời
cũng là địa điểm tập trung và trung chuyển hàng hoá, sản vật của đất Quảng Ngãi
đến các địa phương khác và ngược lại. Chắc cùng vì lẽ đó mà tháng 06 năm 1867,
22 chiếc thuyền của cướp biển với hơn 300 tên đã tiến vào cửa biển Sa Kỳ và
tràn lên bờ để cướp bóc[29].
Nếu không phải là một nơi giàu có, kinh tế phát triển, của cải, sản vật dồi dào
thì cướp biển đổ bộ vào khu vực này để làm gì? Trong tài liệu của triều Nguyễn
cũng vài lần đề cập đến việc thuyền buôn của người Thanh đến Thái Cần[30]
và Sa Kỳ[31] trao đổi
hàng hoá. Số lượng thương nhân Trung Quốc mỗi lần đến đây buôn bán cũng không hề
nhỏ, có lúc lên đến 38 người[32].
Như vậy, hai cửa biển này không chỉ giữ vai trò quan trọng trong thương mại nội
vùng (Quảng Ngãi) và liên vùng (Nam-Ngãi) thời bấy giờ mà còn có đóng góp nhất
định trong nền ngoại thương của nước ta dưới triều Nguyễn. Ngay cả thuyền công
của triều Thanh trong lúc đi qua biển Đông gặp sóng to gió lớn cũng giạt vào Sa
Kỳ để mua lương thực, thực phẩm. Sự việc này diễn ra vào tháng 02 năm 1855[33].
*
* *
Trên cơ sở xâu chuỗi, nối kết
các ghi chép có phần tản mạn, rời rạc và thiếu tính hệ thống từ nguồn thư tịch
cổ Việt Nam thế kỉ XV-XIX, bài viết đã gợi mở và phân tích các cách tiếp cận
khác nhau khi giải thích về tên gọi Thái Cần và Sa Kỳ. Đồng thời, thông qua việc
khai thác các tư liệu có nội dung liên quan gián tiếp đến hai cửa biển này, tác
giả bài viết cũng đã bước đầu làm rõ vai trò của Thái Cần và Sa Kỳ trong lĩnh vực
quốc phòng và kinh tế thế kỉ XVII-XIX. Trên thực tế, với tư cách là một trong 3
địa phương trên vùng đất Đàng Trong xưa có thể xây dựng mô hình phòng thủ điển
hình “cửa biển - hải đảo” dưới thời các chúa Nguyễn thế kỉ XVII-XVIII, đến
thế kỉ XIX, Sa Kỳ và Thái Cần đã được ghi vào sử sách dân tộc ở vị trí số 01 và
số 02 trong số 05 cửa biển lớn trên đất Quảng Ngãi được bố trí lực lượng thuỷ
quân trấn giữ dưới triều Nguyễn, đã góp phần đáng kể trong việc bảo đảm an ninh
hàng hải cũng như khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam trong giai
đoạn này. Bên cạnh đó, Thái Cần và Sa Kỳ còn nổi lên với tư cách là hai trong số
ít cửa biển ở miền Trung ở thế kỉ XIX có hoạt động thương mại biển tương đối nhộn
nhịp, giữ vai trò quan trọng trong thương mại nội vùng và liên vùng, cũng như
góp phần thúc đẩy hoạt động buôn bán với nước ngoài lúc bấy giờ. Trong khi đó,
các phát hiện của phân ngành khảo cổ học dưới nước trong những năm gần đây với
xác tàu đắm, hàng hoá, đồ gốm và dụng cụ hàng hải ở Bình Thuận, Bình Châu, Bình
Hải[34]
đã khiến cho giới nghiên cứu càng có cơ sở để khẳng định về một thời kì sầm uất
trong nội thương và ngoại thương trên hải phận Thái Cần và Sa Kỳ xưa. Ngày nay,
vị thế của Thái Cần và Sa Kỳ đối với Bình Sơn nói riêng và Quảng Ngãi nói chung
là không cần phải bàn luận thêm nữa. Điều đó phải chăng chính là sự kế thừa và
phát huy mạnh mẽ vai trò kinh tế - quốc phòng mà hai cửa biển này đã từng khẳng
định trong lịch sử dân tộc thế kỉ XVII-XIX? Đồng thời, thông tin từ các nguồn
tư liệu thư tịch cổ về vai trò kinh tế - quốc phòng của Thái Cần và Sa Kỳ trong
quá khứ hy vọng sẽ trở thành cơ sở gợi mở, giúp Quảng Ngãi kiến thiết lại nền
kinh tế xanh, bền vững theo tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22 tháng 10
năm 2018“Về chiến lược phát triển bền vững
kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” của Hội nghị
Trung ương 8 khóa XII.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, NXB Văn hóa
Thông tin, Hà Nội.
2. Nguyễn Văn Kim (2006), “Xứ đàng trong trong các mối quan
hệ và tương tác quyền lực khu vực”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6
(2006), tr. 19-35.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn
(2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, NXB Thuận Hoá, Huế.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn
(2006), Đại Nam thực lục, tập 4, NXB Giáo dục, Hà Nội.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn
(2006), Đại Nam thực lục, tập 6, NXB Giáo dục, Hà Nội.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn
(2006), Đại Nam thực lục, tập 7, NXB Giáo dục, Hà Nội.
7. Quốc sử quán triều Nguyễn
(2006), Đại Nam thực lục, tập 8, NXB Giáo dục, Hà Nội.
8. Tấn Thành, Chí Đại (2023), Xuất lộ vô số cổ vật trong
các con tàu đắm ở biển Quảng Ngãi, Quảng Nam, đồ gốm sứ quý giá nằm xếp lớp,
trên trang
https://danviet.vn/xuat-lo-vo-so-co-vat-trong-cac-con-tau-dam-o-bien-quang-ngai-quang-nam-do-gom-co-la-liet-20230713091541918.htm
(truy cập ngày 14/07/2023).
9. Lưu Trang, Trương Anh Thuận (2018), “Các biện pháp khẳng định
và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn
(1558-1777)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 07 (507), tr. 3-12+36.
漢典, trên trang https://www.zdic.net (truy cập ngày 08/07/2023).
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam nhất thống chí, tập 2, NXB Thuận Hoá, Huế, tr. 503.
[2] 漢典,
trên trang https://www.zdic.net/hans/菜 (truy cập ngày 08/07/2023).
[3] 漢典,
trên trang https://www.zdic.net/hans/芹 (truy cập ngày 08/07/2023).
[4] 漢典,
trên trang https://www.zdic.net/hans/芹 (truy cập ngày 08/07/2023).
[5] 漢典,
trên trang https://www.zdic.net/hans/沙
(truy cập ngày
08/07/2023).
[6] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam nhất thống chí, tập 2, NXB Thuận Hoá, Huế, tr. 494.
[7] Trong sách Địa chí huyện Bình Sơn, không
biết các tác giả đã dựa vào tài liệu thư tịch cổ nào mà viết tên gọi “Sa Kỳ”
dưới dạng Hán tự là “沙祈”, trong khi đó trong Đại
Nam nhất thống chí lại viết là “沙圻”.
Hơn nữa, cách giải thích chuyết tự Sa kỳ [沙祈]
trong công trình này cũng rời rạc, thiếu tính lôgic và sự hợp lí. (Xem Huyện uỷ
- Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện
Bình Sơn (2021), Địa chí huyện Bình Sơn, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
tr. 90).
[8] Trong Đại Việt sử kí toàn thư, “Sa Kỳ”
được viết dưới dạng Hán tự là “沙奇”, còn trong Đại Nam nhất
thống chí lại viết là “沙圻”.
Hai từ ngữ này âm Hán-Việt đều là Sa Kỳ, nhưng về Hán tự lại có sự khác nhau ở
chữ “Kỳ”. Tác giả bài viết vẫn chưa thể lí giải được vì sao lại có sự
khác biệt trong cách dùng chữ “奇” ở thế kỉ XV và chữ “圻” ở thế kỉ XIX.
[9] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam nhất thống chí, tập 2, NXB Thuận Hoá, Huế, tr. 494.
[10] 漢典,
trên trang https://www.zdic.net/hans/沙
(truy cập ngày
08/07/2023).
[11] 漢典,
trên trang https://www.zdic.net/hans/圻
(truy cập ngày
08/07/2023).
[12] Nguyễn Văn Kim (2006), “Xứ đàng trong trong các mối
quan hệ và tương tác quyền lực khu vực”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số
6 (2006), tr. 22.
[13] Lưu Trang, Trương Anh Thuận (2018), “Các
biện pháp khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Đàng Trong dưới thời các
chúa Nguyễn (1558-1777)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 07 (507), tr. 4-5.
[14] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam nhất thống chí, tập 2, NXB Thuận Hoá, Huế, tr. 494.
[15] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống
chí, tập 2, NXB Thuận Hóa, Huế, tr. 505.
[16] Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, NXB
Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 150-151.
[17] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực
lục, tập 4, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 95.
[18] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 4, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 513.
[19] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 4, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 569-570.
[20] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 4, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 913-914.
[21] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 6, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 487.
[22] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 7, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 370.
[23] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 7, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 1059.
[24] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 8, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 233.
[25] 漢典,
trên trang https://www.zdic.net/hans/汛
(truy cập ngày
08/07/2023).
[26] Tháng 12 năm 1827, Minh Mệnh hạ lệnh chế kiềm gỗ
cấp cho các sở giữ của biển các trấn, trong đó có nhắc đến của Thái Cần và Đại
Cổ Luỹ ở Quảng Ngãi (Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục,
tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 698).
[27] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam nhất thống chí, tập 2, NXB Thuận Hoá, Huế, tr. 494, tr. 503.
[28] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 4, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 95, tr. 513, tr. 569-570, tr.
913-914.
[29] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 7, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 1059.
[30] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 8, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 233.
[31] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 4, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 215.
[32] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 8, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 233.
[33] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại
Nam thực lục, tập 7, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 192.
[34] Tấn Thành, Chí Đại (2023), Xuất lộ vô số
cổ vật trong các con tàu đắm ở biển Quảng Ngãi, Quảng Nam, đồ gốm sứ quý giá nằm
xếp lớp, trên trang
https://danviet.vn/xuat-lo-vo-so-co-vat-trong-cac-con-tau-dam-o-bien-quang-ngai-quang-nam-do-gom-co-la-liet-20230713091541918.htm
(truy cập ngày 14/07/2023).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét