Tại bên trong phủ Tiên Hương trước kia có các câu đối đã nói lên sự tích Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh sinh tại Vân Cát như sau:
1. CÂU ĐỐI 20 CHỮ Ở GIAN GIỮA PHỦ TIÊN HƯƠNG CỦA ĐỐC HỌC THANH HÓA LÊ HY VĨNH (1913)
Tại gian giữa chính điện của Phủ Tiên Hương, làng Tiên Hương, cùng xã Kim Thái cũng có đôi câu đối:
三 世 輪 迴 于 溈 汭 于 雲 葛 于 俄 山 五 百 餘 年 光 寔 錄
歷 朝 芭 袞 為 帝 女 為 大 王 為 眾 母 億 年 萬 古 奠 名 邦
龍 飛 癸 丑 秋
青 化 省 督 學 黎 希 永 奉 撰
Phiên âm là:
- Tam thế luân hồi, vu Vỉ Nhuế, vu Vân Cát, vu Nga Sơn, ngũ bách dư niên quang thực lục;
Lịch triều ba cổn, vi Đế nữ, vi Đại vương, vi chúng Mẫu, ức niên vạn cổ điện danh bang.
[Lạc khoản: Long phi Quý Sửu thu. Thanh Hóa tỉnh Đốc học Lê Hy Vĩnh phụng soạn].
Tạm dịch là:
Ba kiếp luân hồi: Ở Vỉ Nhuế, ở Vân Cát, ở Nga Sơn; hơn năm trăm năm sự tích còn rạng ngời trong sử sách.
Các triều phong sắc: Là Đế nữ (con gái của Ngọc Hoàng Thượng Đế), là Đại vương, là Mẹ dân chúng, muôn năm vạn thuở với non sông.
Đôi câu đối này còn được khắc in trong cuốn Cát Thiên tam thế thực lục, và ghi rõ đây là câu đối ở Đền Tiên Hương (Phụ lục Tiên Hương từ đối liễn), có thêm mấy chữ:
- Tam thế luân hồi, vu Vỉ Nhuế, vu Vân Cát, vu Nga Sơn, vu Sòng Lạng Tây Hồ ngũ bách dư niên quang thực lục;
Lịch triều ba cổn, vi Đế nữ, vi Đại vương, vi chúng Mẫu, vi Thánh Thần Tiên Phật ức niên vạn cổ điện danh bang.
Thực tế chính TS Chu Xuân Giao đã phát hiện và giới thiệu câu đối này trong bài viết “Quảng Cung Linh từ trong nguồn tư liệu Hán Nôm: Sơ bộ ấn tống Cát thiên tam thế thực lục (1913)” như sau:
“…2.3. Nhóm tư liệu số 4 (thế kỉ XIX): Ngược lại thế ki XIX, chúng ta thấy có không ít tư liệu (đặc biệt là hoành phi, đối liền, đại tự) ở Vân Cát đề cập đến Mẫu Liễu thời kì ở Vỉ Nhuế (Quảng Nạp), cũng như về ba lần sinh hóa của người. Ở đây, chỉ xin giới thiệu một đối liên tiêu biêu, do quan đốc học Thanh Hóa là Lê Hi Vĩnh soạn và dâng năm Long Phi Quý Sửu (1853) cho Phù Chính (Tiên Hương).
Tính khả tín về mặt văn bản của đôi liên này ở mức tương đối cao, vì vừa có thê thấy NGUYÊN VẬT hiện còn được treo tại Phủ Tiên Hương, lại vừa có thể xem bản chép năm 1913 trong ‘Cát thiên tam thế thực lục’ (ở phần 18 Phụ lục Tiên Hương từ đối liên). Đối liên trên nguyên vật như sau:
Tam thế luân hồi, vu Vỉ Nhuế, vu Vân Cát, vu Nga Sơn, ngũ bách dư niên quang thực lục;
Lịch triều ba cổn, vi Đế nữ, vi Đại vương, vi chúng Mẫu, ức niên vạn cổ điện danh bang.”
(Luân hồi ba đời, ở Vi Nhuế, ở Vân Cát, ở Nga Sơn, hơn năm trăm năm còn sáng ngời trong thực lục,
Các triều phong tặng, là vua nữ, là đại vương, là mẹ dân, muôn ngàn vạn năm hiển danh khắp nước.
Lạc khoản của đối liễn này là “Giữa mùa thu năm Long Phi Quí Sửu [1853], Đốc học Thanh Hóa là Lê Hi Vĩnh soạn “ (Long Phi Quý Sửu trọng thu, Thanh Hóa Đốc học Lê Hi Vĩnh soạn).
Qua đối chiếu với một câu đối khác mà Lê Hi Vĩnh dâng cho đền Mẫu Thượng (xóm Núi, Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản) có niên đại rõ ràng là “mùa xuân năm Đinh Tị niên hiệu Tự Đức [1857]" (Tự Đức Đinh Tị xuân) khi mà ông đã thôi không còn giữ chức Đốc học Thanh Hóa (lạc khoản ghi Nguyên Thanh Hóa tỉnh đốc học, Tiến sĩ Lê Hi Vĩnh phụng thì chúng ta biết đích xác năm “Long Phi Quí Sửu” ở đối liễn trên là năm 1853 (khi Lê Hi Vĩnh chưa về hưu, đương giữ chức Đốc học Thanh Hóa) (Hết trích phần của Chu Xuân Giao).
Hiện nay (2024) tại vị trí của đôi câu đối này được thay thế bởi đôi câu đối khác cũng là câu đối cổ, vốn trước kia được treo gian bên. Hiện không rõ đôi câu đối 20 chữ của Đốc học Lê Hy Vĩnh treo ở vị trí nào trong phủ. Câu đối hiện nay là:
信美矣龍蟠虎踞,體勢列岡巒,此地崇山,半點緇塵終不到;
堂皇哉鳥革翬飛,樓臺多氣色,仙人舊館,千秋俎豆永留芳。
Tín mỹ hĩ long bàn hổ cứ, thể thế liệt cương loan, thử địa Sùng Sơn, bán điểm truy trần chung bất đáo.
Đường hoàng tai điểu cách huy phi, lâu đài đa khí sắc, tiên nhân cựu quán, thiên thu trở đậu vĩnh lưu phương.
Sách Sở VH TT Nam Định dịch:
Đẹp đẽ thay rồng cuộn hổ ngồi, thế đât đặt bày, đây với Sòng Sơn nửa chút bụi trần không vướng phải.
Đường hoàng thật chim bay cánh vỗ, ngôi đền rực rỡ, người tiên quê cũ, ngàn thu thờ tự tiếng mãi thơm.
2. BÀI THƠ KHẮC Ở HOÀNH PHI SƠN ĐEN THẾP VÀNG TREO TẠI GIAN GIỮA TIỀN ĐƯỜNG CỦA ĐỐC HỌC TỈNH NAM ĐỊNH TAM THANH NGÔ GIÁP ĐẬU (1918)
Chữ Hán:
一道金牌下九天
南州神譜葛山仙
固傳安泰鍾靈地
猶記陽和顯聖年
經藏墨通三昧訣
慈光普作萬方煙
風聲固國崇王母
廟貌千秋享祀權
龍飛啓定戊午季春南定督學三声吳甲豆拜
福祿壽
Phiên âm:
Nhất đạo kim bài hạ cửu thiên,
Nam châu thần phả Cát sơn tiên.
Cổ truyền An Thái trung linh địa,
Do ký Dương Hoà hiển thánh niên.
Kinh tạng mặc thông tam muội quyết,
Từ quang phổ tác vạn gia yên.
Phong thanh cố quốc sùng vương mẫu,
Miếu mạo thiên thu hưởng tự quyền.
Tạm dịch:
Một thẻ vàng trao chốn cửu thiên,
Cõi nam Vân Cát một người Tiên.
Vẫn rằng Yên Thái nơi quê cũ,
Còn nhớ Dương Hoà (1642) nổi tiếng thiêng.
Tam muội làu thông kinh sách quý,
Muôn nhà nhờ cậy khói nhang tôn.
Phong thanh cố quốc nêu Vương Mẫu,
Đền miếu ngàn thu kính lễ truyền).
Bài thơ của Ngô Giáp Đậu nhắc lại tích chuyện trong tiết vạn thọ của vua cha Ngọc Hoàng, tiên chúa đánh rơi chén ngọc, vỡ mất một góc. Vua cha giận, đuổi xuống đầu thai vào nhà Lê Đức Chính, Trần Thị Phúc Thuần ở thôn Vân Cát, xã An Thái huyện Thiên Bản, sau lấy chồng có con. Niên hiệu Dương Hoà năm thứ 8 (1642), tổ chức thi bách thần, các kiệu của thần khác, từ Tản Viên đến các Thành Hoàng đều không có sự hiển dị, riêng có kiệu Mẫu thì tấm vóc đỏ phủ kiệu bay lên trên trời, rồi hoá ra đám mây năm sắc, giữa đám mây có mảnh gấm đỏ, trên có 4 chữ lớn “Thánh Thọ vô cương” hàng dưới có 6 chữ nhỏ hơn “Mã Vàng Công Chúa tạ ân”. Các chữ này tồn tại từ đầu giờ Thìn đến cuối giờ Ngọ mới tán, thì tấm gấm lại bay từ trên không bay về trùm lên kiệu như cũ.
(Theo bản dịch trong sách của Sở VN Nam Định và lời giải thích trong Giao Blog đã đăng tải)
Hiện nay trên các trang truyền thông FB của Phủ Tiên Hương bài thơ đã được sửa bản dịch thành.
Một thẻ vàng trao chốn cửu Thiên / Cõi Nam "GIÁNG TRẦN" một người Tiên
Chữ Cát Sơn bị dịch thành …. “Giáng trần” là không chính xác.
3. CÂU ĐỐI 7 CHỮ CỦA TRI HUYỆN PHÚ LƯƠNG VŨ ĐÌNH HOÁN (1929)
降生跡在雲鄉迥
不死名標泰嶺高
龍飛己巳年
富良縣知縣武廷焕拜進
GIÁNG SINH TÍCH TẠI VÂN HƯƠNG QUÝNH
BẤT TỬ DANH TIÊU THÁI LĨNH CAO
Long phi Kỷ Tỵ niên (1929)
Phú Lương huyện, tri huyện Vũ Đình Hoán bán tiến.
Bản dịch trong sách của Sở VH Nam Định dịch như sau (trang 399)
- Giáng sinh dấu vết làng Vân, đã xa rồi vậy,
Bất tử nêu tên núi Thái, cao vút còn đây.
Các nguồn tham khảo để tổng hợp:
1. Sở VHTT&DL Nam Định - Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (2019) Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt qua tư liệu Hán Nôm, Nxb. Thế Giới.
2. Chu Xuân Giao, “Quảng Cung Linh từ trong nguồn tư liệu Hán Nôm: Sơ bộ ấn tống Cát thiên tam thế thực lục (1913)” (2010)
3. Ảnh gian chính Phủ Tiên Hương.
Nguồn: LỊCH SỬ PHỦ DÀY

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét