* Hầu hết các "Họ" của người Việt đều dùng âm Hán-Việt, mà các "Họ" đó ở bên Tàu cũng đều có. Thành thử rất nhiều người bị đám "xác Việt hồn ... lạ" múa chữ Hán rồi NGỘ NHẬN gốc gác người Việt là từ bên Tàu. Vì sao, bị ngộ nhận quá lâu?
* Xin giới thiệu quí bạn một phương pháp, tạm gọi là phương pháp "TỌA ĐỘ NAM Á". Phương pháp này sẽ giúp quí bạn "soi chiếu", "giải ảo" một cách thong dong giữa mê hồn trận của "lệch sử" chen vô lịch sử!
&1&
Trước hết, xin kể chuyện này cái đã.
Hồi giữa thế kỷ 19, vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, nhiều cư dân nơi đây mang "Họ" như Châu (珠), Lâm (林), Dương (揚 ), Tưởng (蔣), Lư (廬), Hứa (許), Lưu (劉), Tạ (藉), Trượng (丈), Đàng (堂)... "Họ" được đọc theo âm Hán-Việt, và ghi bằng chữ Hán ráo trọi.
Mà những "Họ" này, đều có ở bên Tàu, có họ phổ biến (như họ Lâm, họ Dương, họ Châu, họ Hứa), có họ ít phổ biến (như họ Trượng, họ Đàng). Vậy, cư dân ở Ninh Thuận, Bình Thuận có gốc xa lắc xa lơ ở Tàu?
Trật lất rồi đa! Họ là NGƯỜI CHĂM.
Ồ, tiếng Chăm đâu phát âm như rứa. Lý do? Vào năm 1837, vua Minh Mạng xuống chiếu buộc người Chăm phải chọn lấy một trong những "Họ" (vừa dẫn), ghi bằng chữ Hán.
&2&
Kế tiếp, lại xin kể chuyện NGƯỜI KHMER.
Bây giờ về miền Tây, bạn sẽ nghe một số "Họ" bằng tiếng Khmer, và... khá phổ biến là "Họ" được phát âm theo tiếng Việt, nói rõ hơn là âm Hán-Việt.
Như họ Thạch (石), họ Sơn (山), họ Kim (金), họ Lâm (林), họ Kiên (堅)... Những "Họ" này, quí bạn chú ý, ở bên Tàu cũng đều có.
Mắc gì người Khmer xưng "Họ" như rứa? Triều Nguyễn có đặt ra các Họ (vừa dẫn), ghi bằng chữ Hán (dĩ nhiên rồi, lúc đó không ghi bằng chữ Hán thì biết ghi bằng thứ chữ gì?), và khuyến khích người Khmer đổi "Họ".
* Thấy gì? Ít nhứt, để chúng ta hiểu rằng:
Mỗi khi thấy những ai đó mà mang "Họ" bằng âm Hán-Việt, hãy tỉnh táo: đừng vội "phán" mang "Họ" như vậy là... có gốc gác người Tàu xa lắc xa lơ.
SAI, QUÁ SAI!
Đó, dù mang "Họ" đọc theo âm Hán-Việt rõ rành, như họ Châu, họ Dương... thì vẫn cứ là người Chăm, mang họ Kim, họ Lâm ... thì vẫn là người Khmer.
&3&
Đi vào câu chuyện chánh về các "Họ" của tộc Việt.
3.1) Cách đây hơn 2.000 năm và xa hơn nữa, nhiều tộc người thuộc "Bǎi Yuè" tràn xuống phía Nam.
Nơi đây, vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã ... đã có một số tộc người bổn xứ sanh sống.
Tiếng nói của người bổn xứ thuộc Ngữ hệ Nam Á (Austro-Asiatic languages).
Trong khi đó, tiếng nói của khá nhiều tộc người trong "Bǎi Yuè", cùng với Hán tộc tràn xuống sau đó, dù họ nói có khác biệt nhau nhưng bọn họ đều chung Ngữ hệ Hán-Tạng (Sino-Tibetan languages).
3.2) Do bị cai trị trong thời Bắc thuộc, văn tự của tộc bổn xứ đã bị "bức tử", thay bằng Hán tự.
Danh tánh trong tộc bản địa cũng buộc đổi sang các "Họ" của những tộc bên kia biên giới phía bắc tràn xuống.
Đó, người Chăm mới khoảng 200 năm đổi "Họ" mà nay cũng đã có những người không còn nhớ tên gốc Chăm của họ; huống hồ thời Bắc thuộc dài những một ngàn năm, các "Họ" đọc theo âm Hán-Việt thâm nhiễm, rồi trở thành phổ biến, quen thuộc đối với chúng ta.
3.3) Cần phân định sự khác biệt, không nhập nhằng:
(a) "Họ" theo âm Hán-Việt, vì viết bằng chữ Hán (chữ Tàu) đương nhiên là xuất phát từ bên Tàu (hầu hết).
Một ngàn năm Bắc thuộc, quá lâu dài, chúng ta bị ép đổi theo những "Họ" từ Tàu, trục xuất ký ức...
(b) NHƯNG, tộc người mang "Họ" theo âm Hán-Việt KHÔNG đồng nhứt với người Tàu, cũng không buộc đều phải có gốc gác huyết thống Tàu.
"Họ" (danh xưng) thì xuất phát bên Tàu (do áp đặt cả ngàn năm nên các "Họ" gốc của người bản địa đã xóa sạch), nhưng TỘC NGƯỜI thì không hẳn...
Đó, câu chuyện của người Chăm, người Khmer cung cấp cho quí bạn một sự liên tưởng dễ dàng hơn trước vấn đề này. Mang "Họ" (âm Hán-Việt) một đàng, còn huyết thống tộc người một nẻo!
* Xin nhắc lại, nhấn mạnh: "TỌA ĐỘ NAM Á" là nền tảng phân định sự khác biệt về TỘC NGƯỜI.
Ngôn ngữ của chúng ta thuộc Ngữ hệ Nam Á, KHÁC với ngôn ngữ của Hán tộc và nhiều tộc thuộc "Bài Yuè" ("bách việt") ở bên Tàu thuộc Ngữ hệ Hán-Tạng.
3.3) Tiếng Việt luôn tồn tại kho tàng chữ nghĩa đọc theo NAM ÂM hết sức phong phú, theo cú pháp Việt ngữ (khác cú pháp Hán ngữ), tạo nên bản sắc thuộc về Ngữ hệ NAM Á, không bị đồng hóa theo tiếng nói của những tộc thuộc Ngữ hệ Hán-Tạng.
=> Đây chính là "TỌA ĐỘ NAM Á" để chúng ta kinh ngạc, hãnh diện về Tiếng Việt, nhờ vậy sẽ không bị dẫn dắt bởi "lệch sử"!
THAY LỜI KẾT
Đây, chuyện này kể cũng thú vị:
Ở miền Nam, hồi giữa thập niên 50 đến 60, hễ người Tàu nào vẫn ghi các "Họ" là "Wong", "Cheung", "Lin", "Chow", "Wu", "Chen"... thì cứ giữ "thân phận" Hoa kiều.
Nhưng, nếu muốn nhập quốc tịch Việt, chính quyền hồi đó (Đệ nhứt Việt Nam cộng hòa) buộc họ phải đổi sang cách đọc BẰNG TIẾNG VIỆT! (theo tuần tự dẫn trên là "Huỳnh", "Trương", "Lâm", "Châu", "Ngô" (hoặc Vũ), "Trần"...)
Hết thảy các "Họ" (xem trên sơ đồ đính kèm), hễ đọc đúng như rứa, tức là NGƯỜI VIỆT, TIẾNG VIỆT.
Nếu quí bạn gặp ai viết tiếng Việt nhưng lại ghi họ "Wu", "Chen", "Lin", "Wong", "Cheung", "Chow"... =>
a) Hoặc những người đó, kỳ thực, là NGƯỜI TÀU (mà có biết tiếng Việt);
b) Hoặc đó là người Việt, nhưng vì lý do nào đó (chưa rõ), lại thích mang HỌ theo lối nói của người TÀU.
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét