Thứ Hai, 23 tháng 9, 2024

NGUỒN GỐC THỰC SỰ CỦA "CHỆT" (Nhà nghiên cứu Nguyên Chương)

ĐÀNG NGOÀI: XIN "CHỆT" PHONG VƯƠNG, CẦU VIỆN "CHỆT"!

ĐÀNG TRONG: NGƯỜI CHỐNG "CHỆT" ĐƯỢC ĐÓN NHẬN!

* "Chệt" là gì? Nhìn ra một giai đoạn thời Đàng Trong, Đàng Ngoài, rất hay!

Tìm kiếm trên mạng, buồn cười lắm. Có giải thích rằng "Chệt" là cách nói của người miền Nam để chỉ người Tàu, ồ, nói vậy cầm bằng không giải nghĩa gì được hết trơn: vì sao không gọi người Tàu mà gọi "Chệt"? "Chệt" từ cứ liệu ngôn ngữ nào mà thành?

Rồi, "Chệt" là cách nói có ý miệt thị, chê bai. Ồ, "chê bai"? Quả là có như vậy, nhưng "chệt" từ gốc-ban-đầu lại là cách gọi chê bai của chính người Tàu dành cho loại người, cũng Tàu, mà "ăn ở hai lòng"!

&1&
Đây không bàn “Chệt”, “Chệc”, hay “Chệch”, đều là những biến âm, nói trại; vấn đề nằm ở nguồn gốc của cách nói này, từ đâu?
Có người cho rằng bắt nguồn từ tiếng Tiều (Triều Châu), họ gọi “Chệc”, đây là âm Tiều của chữ 叔 (“thúc”), nghĩa là “em trai của cha” (“chú”). Ồ, vậy người miền Nam thay vì gọi “người Tàu” thì tôn họ lên hàng tiền bối (“thúc”). Mà tôn xưng lên tiền bối, sao mang ý miệt thị, chê bai được?

&2&
Tôi không khỏi ngạc nhiên khi đọc một số website trên mạng, giải thích "CHỆT" chẳng đâu vào đâu, không đủ khả tín.
Không lẽ trí tuệ bỗng dưng "bốc hơi" hay sao? Tôi ngờ rằng có những người biết, hiểu, nhưng họ mang lấy "tâm địa" gì đó nên nhắm mắt giải thích qua quít, nói lấp liếm cho xong!

&3&
Đây, phải nhắc đến Trần Thượng Xuyên (陳上川), Dương Ngạn Địch (楊彥迪) với hơn 50 tàu chở thuộc hạ, gia quyến (3.000 người) rời khỏi vùng Quảng Đông giong buồm xuống tận phía Nam, xin chúa Nguyễn của ĐÀNG TRONG cho tị nạn, định cư - vào năm 1679.

Sao họ Trần, họ Dương không tấp vào bến cảng nào đó ở Đàng Ngoài, gần hơn nhiều, xin vua Lê - chúa Trịnh cho tá túc, định cư?
Họ Dương, họ Trần đều theo phong trào “phản Thanh phục Minh”, chống lại Mãn Thanh lúc bấy giờ đang cai trị Trung Hoa. Trong khi đó, vua Lê (thời Lê trung hưng) lại "hữu hảo" với Đại Thanh, lấy làm vinh hạnh được nhà Thanh sắc phong "An Nam quốc vương".
Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch thừa hiểu ắt gặp bất trắc khó lường nếu đâm đầu xin định cư dưới trướng một triều đình như rứa!

&4&
Quí bạn có biết người Quảng Đông, "phản Thanh phục Minh", họ gọi Mãn Thanh là gì không? Họ gọi là /biên chêt/, 辮 織 (âm Hán-Việt “biện chức”), nghĩa là “bím tóc đuôi sam”!
Âm /chêt/ nghiêng về dấu nặng, đọc giống hệt với “chệt”. Người nước Nam nghe vậy, mà gọi thành “CHỆT".
"Chệt”, như vậy, là cách mà người Tàu - “phản Thanh phục Minh” - dùng chê bai nhà Thanh, dè bĩu người Mãn Thanh! Bởi "bím tóc đuôi sam" do người Mãn Thanh đem vào Trung Hoa khi xâm lược Hoa lục.
“Chệt” cũng được họ dùng để khinh miệt những người Tàu nào chạy theo ngoại tộc Mãn Thanh mà thắt tóc bím đuôi sam, tức bội phản, "ăn ở hai lòng".

&5&
5a) Chúa Nguyễn (ĐÀNG TRONG) sẵn lòng cho họ, là những người chống đối “Chệt” (“tóc đuôi sam”, tức nhà Thanh), được tị nạn, định cư.
Lưu dân đi theo Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch (và Mạc Cửu ở Hà Tiên) được gọi là “người Minh hương”, lần hồi họ trở thành người nước Nam (theo phong hóa và ngôn ngữ người Nam).

5b) Trong khi đó, vua Lê cùng triều thần ở kinh đô ĐÀNG NGOÀI kết giao với “CHỆT” (xin mượn tiếng Quảng Đông nói về người Mãn Thanh), lấy làm vinh hạnh được "CHỆT" phong làm An Nam quốc vương, rồi cầu viện “CHỆT” (như Lê Chiêu Thống).

&6&
Giải thích đúng gốc cách gọi "CHỆT" là phải như vậy!
Hiểu "CHỆT" cho tỏ tường, cách nào đó, giúp làm rõ thêm một giai đoạn lịch sử giữa ĐÀNG TRONG với ĐÀNG NGOÀI.
Người trong Nam, thời bấy giờ, đồng cảm với người Minh hương, cũng gọi “CHỆT” với hàm ý chê bai những kẻ ăn-ở-hai-lòng.

*&*
Đừng gọi "chệt" lung tung, tưới xượi. Tôi thấy có những người không hiểu, gọi Minh hương là "chệt", ồ, SAI TRẬT hoàn toàn!
Hãy mượn cách gọi "CHỆT" (tiếng Quảng) dành cho những kẻ mang tâm địa "trở cờ đón gió"./.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...