Thứ Ba, 10 tháng 9, 2024

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỐT LÕI TRONG LỄ CƯỚI THEO NGHI THỨC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CHĂM H’ROI Ở PHÚ YÊN (ThS. Nguyễn Hoài Sơn)


Tóm tắt: Lễ cưới theo nghi thức truyền thống của người Chăm H’roi ở Phú Yên là nghi lễ quan trọng trong các nghi lễ theo vòng đời người. Người Chăm H’roi vẫn duy trì chế độ mẫu hệ, quyền chủ động trong hôn nhân thuộc về nhà gái. Với những đặc thù mang sắc thái văn hoá tộc người nên các bước nghi lễ cưới của người Chăm H’roi ở Phú Yên phải qua đầy đủ trình tự thủ tục chặt chẽ từ nghi thức cúng Yang, cúng các thần, cúng ông bà tổ tiên, lễ hỏi, lễ rước rể, lễ cúng nhận rể, lễ cưới, lễ tạ ơn, lễ đạp nước và phần hội. 

Trong lễ cưới theo nghi thức truyền thống của người Chăm H’roi ở Phú Yên còn bảo lưu được nhiều phong tục, tập quán mang giá trị truyền thống tốt đẹp đó là sự tự do, bình đẳng trong hôn nhân nam nữ, không có việc ép duyên hoặc thách cưới, việc chung tay góp sức của cộng đồng với hạnh phúc lứa đôi thể hiện được tình làng nghĩa xóm luôn thắt chặt, keo sơn; trách nhiệm của cha mẹ trong việc truyền dạy những tri thức về quan hệ gia đình, dòng họ và xã hội cho đôi vợ chồng trẻ; đây cũng là dịp để các bộ môn nghệ thuật truyền thống, văn hoá ẩm thực của người Chăm H’roi được bảo tồn và phát huy...

Từ khóa: Lễ cưới, nghi thức truyền thống, người Chăm H’roi ở Phú Yên.

1. Các lễ cúng trước ngày hỏi, cưới

1.1. Bước chuẩn bị

Người Chăm H’roi ở Phú Yên quan niệm hôn nhân là việc hệ trọng của cuộc đời mỗi con người. Để thành vợ, thành chồng, trai gái đến tuổi trưởng thành có quyền tự do tìm hiểu, yêu đương; đặc biệt chú trọng yếu tố gia đình, tộc họ và những lễ thức cưới xin mang bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Công việc đám cưới của cô dâu, chú rể thật bận rộn. Trước một thời gian, cả nhà trai và nhà gái đều có sự chuẩn bị khá kỹ đồ ăn, thức uống, trang phục, nhạc cụ và các đồ dùng cần thiết phục vụ cho đám hỏi, đám cưới. Khác với người Kinh, việc hỏi cưới của người Chăm H’roi cùng lúc diễn ra trong một ngày, lễ cưới chỉ được tiến hành khi họ đàng trai và đàng gái hoàn tất các nghi thức cúng tế gia tộc đón dâu, bắt rể theo nghi thức truyền thống.

Trước khi diễn ra lễ hỏi một ngày, gia đình của cô dâu mổ bốn con gà, mỗi con nặng từ 1,5 - 2kg để làm bốn lễ cúng, cúng Yàng, thần núi - thần sông suối, cúng các bác, cúng ông bà tổ tiên (Roc set ket tia, giang chơ ơ, giang ca, giang san...). Trước lúc cắt tiết con gà, gia chủ có lời xin lỗi con vật (con gà) và khẩn cầu các thần linh, lời khấn vái:

- Tao xin lỗi mày, vì tao có việc cầu xin các đấng thần linh, ông bà tổ tiên về chuyện hôn sự của con... nên tao phải giết mày.

Trong tâm thức của thầy cúng, khi giết những con vật vô tội thì mình trở thành người có tội. Nhưng đây là những việc chính đáng, những việc phải làm, với quan niệm “sinh vật dưỡng nhân”. Vì thế trước lúc giết con vật, người cúng nói rõ lý do cũng như ý nghĩa việc mình phải làm, nó là vật hiến tế linh thiêng để tạ ơn “cha trời, mẹ đất”. Mong Yàng, các vị thần linh, các bác, ông bà tổ tiên phù hộ cho ngày đám hỏi, đám cưới của con... được suôn sẻ, không trắc trở gì.

1.2. Trình tự bốn lễ cúng trước ngày hỏi, cưới

a) Lễ thứ nhất

Bắt đầu lúc 19 giờ (7 giờ tối) ngày... tháng... năm..., đây là lễ cúng các Yàng, các vị thần trời, thần đất, thần núi, thần nước. Lễ vật cúng gồm:

- 1 con gà luộc đầy đủ các bộ phận, 1 ly rượu trắng, 1 khót gạo, 3 miếng trầu, cau, 1 khoanh dây đèn thắp sáng sáp ong.

Lễ vật cúng được xếp trên một chiếc mâm đồng, đặt ở vị trí gian giữa nhà. Đầu gà quay về hướng đông. Sắp xếp xong lễ vật, thầy cúng đốt khoanh đèn sáp ong đã được đặt trên một cái đĩa nhỏ. Khi ngọn đèn toả sáng thầy cúng bắt đầu các nghi lễ cúng. Trước Yàng, các vị thần trời, thần đất, thần núi, thần nước, thầy cúng nói lời cầu khẩn:

- “Theo ưng thuận của con... và thằng..., hôm nay, gia đình... (tên), cha đẻ của... (bên gái), có sắm lễ vật cúng, xin phép báo tin cho Yàng, các thần sông, thần suối, thần núi biết: nội nhật ngày mai, mồng... tháng... năm... (dương lịch) gia đình... (nhà gái) tổ chức đám hỏi, đám cưới của con... (tên) và thằng... (tên), cầu mong Yàng và các vị thần linh về chung hưởng lễ vật, chứng giám cho gia đình... (nhà gái) và phù hộ chuyện hôn nhân của đôi trẻ - con... và thằng... được suôn sẻ, hạnh phúc”.

Trong khi thực hiện nghi thức cúng, thầy cúng dùng những ngón tay nhúm một nhúm gạo trong bát gạo, vãi lên không trung cao hơn đầu người ngồi, miệng luôn cầu khấn những điều tốt lành cho đôi trai gái (cô dâu, chú rể). Sau đó xin keo rồi chuyển qua lễ cúng thứ hai.

b) Lễ thứ hai

Lễ vật cúng, vị trí đặt mâm cúng tương tự như lễ thứ nhất. Đây là lễ cúng vong hồn các bác, những vong hồn “kẻ chết sông chết suối, người chết bụi chết bờ” lưu lạc không nơi nương tựa. Theo quan niệm của người Chăm H’roi vì là vong hồn không ai giỗ chạp, thờ tự nên họ rất nghèo khổ, đói rách, mỗi khi thấy có đám giỗ, đám tiệc là thường kéo tới chờ đợi xin ăn. Nếu không được cho ăn uống tử tế, các vong hồn này thường phá phách, kêu la. Sợ hỏng việc lớn, nhất là việc hệ trọng như hôn nhân. Nên trước khi tiến hành gia chủ phải có mâm cúng âm hồn, vong hồn các bác. Trước lễ vật cúng, thầy cúng nói lời khẩn cầu:

- Sau khi cúng Yàng, các thần linh, gia đình... (nhà gái) có lễ vật cúng vong hồn các bác, xin phép báo tin cho vong hồn các bác biết, là ngày mai, ngày... tháng... năm... (dương lịch) gia đình... (nhà gái) có đám hỏi, đám cưới của con... (tên) và thằng... (tên), hôm nay mời vong hồn các bác về chứng giám lễ vật cúng của gia đình. Khi hưởng xong lễ vật cúng, các bác đi nơi khác, đừng quấy rối, phá phách gì gia đình... (nhà gái). Với lời khấn “ăn của người phù trợ cho người”, cầu mong chuyện hôn nhân của con... và thằng... được vuông tròn, hạnh phúc đến đầu bạc răng long.

Khi thực hiện nghi thức cúng, thầy cúng dùng những ngón tay nhúm một nhúm gạo, muối trong bát, vãi lên không trung cao hơn đầu người ngồi, miệng luôn cầu khấn những điều tốt lành cho đôi trai gái. Sau đó thầy cúng xin keo rồi chuyển qua lễ cúng thứ ba.

c) Lễ thứ ba

Lễ vật cúng, vị trí đặt mâm cúng cũng như lễ thứ nhất, lễ thứ hai. Đây là lễ hú hồn. Lễ thứ ba có khác hai lễ trước là khi thực hiện nghi thức cúng thì có sự hiện diện của cha mẹ ruột và người con gái chuẩn bị lấy chồng. Thầy cúng nói:

- “Trước sự chứng giám của các Yàng, các vị thần linh, về chuyện hôn nhân của con... và thằng... Hôm nay, vợ chồng... và con... đều có mặt tại đây, mọi người đều đồng ý và mong muốn cho con... và thằng... hai đứa nên vợ nên chồng. Việc này là do hai đứa tự nguyện tìm hiểu, không phải gia đình ép buộc. Khi nên vợ thành chồng thì sướng khổ có nhau, khi sung sướng cũng như lúc khổ đau, chúng nó cùng gánh vác, chia sẻ”.

Ý nghĩa lễ cúng này thể hiện sự tự do trong hôn nhân của trai gái người Chăm H’roi, rất được đề cao, sự đồng tình của cha mẹ và con gái trong việc cưới là điều kiện rất cần thiết cho hạnh phúc lâu dài của gia đình trẻ.

Tương tự như hai lễ trên, khi thực hiện nghi thức cúng, thầy cúng dùng những ngón tay nhúm một nhúm gạo, muối trong bát, vãi lên không trung cao hơn đầu người ngồi, miệng luôn cầu khấn những điều tốt lành cho đôi trai gái. Sau đó xin keo rồi chuyển qua lễ cúng thứ tư.

d) Lễ thứ tư

Lễ thứ tư là lễ cúng ông bà, tổ tiên, cúng thần nhà, thần cửa chứng giám cho việc hôn nhân của con cháu trong gia đình. Lễ vật cúng, vị trí đặt mâm cúng cũng không khác gì như ba lễ trước.

Lễ cúng này hàm chứa nhiều giá trị truyền thống văn hoá gia đình Việt Nam, đó là những giá trị tâm linh, liên quan đến cái thiêng, dùng cái thiêng để dạy dỗ con cháu, củng cố gia đình qua các nghi lễ thờ cúng ông bà, tổ tiên. Tương tự như người Kinh, người Chăm H’roi ở Phú Yên cho rằng sống với con cháu, chết về với ông bà tổ tiên (sống và chết vẫn ở trong gia đình) do đó việc cúng ông bà tổ tiên là rất hệ trọng. Mỗi khi trong gia đình có việc lớn như giỗ, tết, cưới hỏi, sửa sang nhà cửa đều phải báo cho ông bà, tổ tiên biết.

Trước vong hồn ông bà, tổ tiên, các vị thần nhà, thần cửa, thầy cúng nói lời khẩn cầu:

- “Theo ưng thuận của con... và thằng..., hôm nay, con cháu trong gia đình có sắm lễ vật cúng, xin phép báo tin cho ông bà, tổ tiên, các vị thần nhà, thần cửa biết, là ngày mai, ngày... tháng... năm... (dương lịch) gia đình có đám hỏi, đám cưới của con... và thằng..., cầu mong ông bà, tổ tiên, các vị thần nhà, thần cửa về chung hưởng, phù hộ cho chuyện hôn nhân của con... và thằng... được suôn sẻ, hạnh phúc”.

Sau đó cũng như các lễ cúng trước, thầy cúng dùng tay nhúm một nhúm gạo, muối trong bát vãi lên không trung cao hơn đầu người ngồi, miệng luôn cầu khấn những điều tốt lành cho đôi trai gái. Sau đó xin keo rồi kết thúc lễ cúng.

đ) Lễ thức xin keo

Cả 4 lễ cúng trong lễ cưới theo nghi thức truyền thống của người Chăm H’roi ở Phú Yên đều có một chi tiết khá độc đáo đó là xin keo. Đây là lễ thức không thể thiếu trong các lễ cúng việc hôn nhân của trai gái người Chăm H’roi ở Phú Yên. Chi tiết này tương tự như hình thức bói bài hoặc rút quẻ của người Kinh. Nghi thức xin keo do thầy cúng tiến hành.

Xin keo gồm có 2 đồng xu 1 mặt đen, một mặt trắng. Khi thực hiện lễ thức này, thầy cúng ngồi xếp bằng chính giữa bên mâm lễ vật, miệng đọc lời cúng, tay phải nắm 2 đồng xu tung nhẹ lên cao hơn đầu người ngồi, sau khi đồng xu rơi xuống nền chiếu được trải trên sàn nhà, thầy cúng xem kết quả xin keo.

Trong hai đồng xu xin keo, nếu ngửa lên một mặt đen, một mặt trắng (thường gọi: Đồng sấp (sắp), đồng ngửa) có nghĩa là các vị thần linh đã đồng ý chấp thuận những lời thỉnh cầu của thầy cúng và gia đình về hôn sự của con... và thằng... Ngược lại, khi cả hai đồng xu đều ngửa 2 mặt trắng hoặc 2 mặt đen, có nghĩa là các vị thần linh chưa chấp nhận lời cầu xin của thầy cúng. Trong trường hợp này, thầy cúng tiếp tục xin keo lần hai, lần ba hoặc nhiều hơn cho đến khi được thì thôi.

Mỗi lần cúng kéo dài từ 30-40 phút. Một phần phụ thuộc vào kết quả xin keo. Nếu xin keo nhiều lần mới được thì lễ cúng kéo dài hơn còn thì ngược lại. Các lễ cúng liên tiếp nhau cho đến lúc kết thúc cả 4 lễ thì chấm dứt. Qua thực tế 4 lễ cúng trên thì nhiều lắm cũng đến lần thứ 3 là thầy cúng xin được keo. Do vậy thời gian mỗi lần cúng chỉ kéo dài khoảng 30 phút là kết thúc. Sau khi kết thúc cả bốn lễ cúng, gia đình bày dọn những thức cúng, mời họ hàng, làng xóm và thầy cúng cùng ăn, uống, trò chuyện vui vẻ...

2. Lễ thức ngày hỏi, cưới

a) Nhà gái làm lễ cúng ông bà, tổ tiên:

Trước 7 giờ sáng ngày... tháng... năm..., khi nhà trai chưa đến làm lễ hỏi, cũng tại nhà gái có thực hiện lễ cúng ông bà, tổ tiên.

+ Trình tự như sau:

- Lễ vật gồm cả 1 con heo khoảng 70-80kg, đã được mổ thịt, làm sạch để nguyên cả con bày ra giữa nhà. Heo được đặt nằm úp, bốn chân xoãi ra bốn bên, mõm heo được cột bằng một sợi dây rừng, đặt sát vách hướng về phía đông, đầu heo được trùm lên một tấm mỡ sa mỏng. Phía đầu heo (sát vách hướng đông) có các lễ vật sau:

- 5 xiên thịt heo nướng chả, 2 nải chuối, 2 trái đu đủ chín. Xung quanh con heo có 3 mâm cúng. Mỗi mâm có: 4 bát cơm trắng, 4 đôi đũa, 1 đĩa thịt (thịt 3 chỉ và lòng), 1 đĩa miến xào, 1 đĩa gạo, 1 dây bánh tráng (bánh đa), 1 khoanh sáp ong, 1 đĩa trầu cau, 1 chai rượu, 1 nắm lá thuốc lá, 1 bình nước trà nóng.

Đối tượng cúng của 3 mâm cúng này gồm:

- Một mâm cúng ông bà, tổ tiên phía cha (bên cha đẻ của cô dâu),

- Một mâm cúng ông bà, tổ tiên phía mẹ (bên mẹ đẻ của của cô dâu),

- Một mâm cúng các hương hồn, sau mời bà con dân làng xúm xít vui vầy cùng với gia đình. Khi lễ vật được bày biện xong, thầy cúng đốt đèn sáp ong và bắt đầu van vái.

Thầy lâm râm van vái:

- “Theo ưng thuận của con... và thằng..., hôm nay là ngày... tháng... năm... (dương lịch) gia đình... (tên) là cha đẻ của thằng... sẽ cho người qua đây hỏi con... làm vợ; con cháu trong gia đình đã sắm sửa đầy đủ lễ vật cúng, xin phép báo tin cho ông bà, tổ tiên biết hôm nay là ngày chính thức đám hỏi, đám cưới của con... và thằng...; cầu mong ông bà, tổ tiên, phù hộ cho chúng nó được thành vợ thành chồng và được hạnh phúc trăm năm”. Thời gian tiến hành lễ cúng khoảng 1 tiếng đồng hồ thì kết thúc. Sau đó gia đình nhà gái dọn dẹp tươm tất, chuẩn bị đón nhà trai đến làm lễ hỏi.

b) Lễ hỏi (Pla kon)

+ Lễ cúng tại nhà trai

Trước lúc nhà trai khởi hành đến nhà đàng gái thực hiện nghi thức lễ hỏi, thì tại nhà... (tên) là cha đẻ của chú rể... (tên) cũng đặt lễ vật làm lễ cúng ông bà tổ tiên nhà mình.

+ Lễ vật gồm: 2 chai rượu, 1 tô gạo, 1 sấp lá trầu không, 1đĩa trầu cau đã têm thành miếng, 1 khoanh đèn sáp ong, 1 nắm nhỏ thuốc lá lá đã phơi khô.

Mâm lễ vật cúng được đặt ở giữa nhà. Đây là lễ vật cúng ông bà, tổ tiên, báo tin ông bà tổ tiên biết việc hôn sự của gia đình đàng trai trước khi sang nhà gái ăn hỏi.

+ Nghi thức cúng:

Ngồi xung quanh mâm lễ vật cúng có già làng, mai dong. Sau khi ngọn đèn sáp ong được thắp sáng, già làng và Mai dong cùng van vái cúng:

- “Con cháu trong gia đình báo tin cho ông bà tổ tiên biết, hôm nay gia đình... (tên) có đi hỏi vợ cho con trai là... (tên); mong ông bà tổ tiên phù hộ cho nhà trai mọi việc đều suôn sẻ và cầu mong nhà gái chấp thuận cho thằng... và con... được nên vợ nên chồng”.

Trong thời gian thầy cúng thực hiện nghi lễ thì vợ chồng của... (tên bố ruột của chú rể) và con trai... (tên chú rể) ngồi chăm chú vào mâm cúng và cùng ước nguyện. Sau khi đọc xong lời cầu khấn, già làng rót 2 ly rượu trắng để lên một cái đĩa. Rót 2 ly rượu lần đầu, già làng đổ xuống đất, lần rót thứ hai già làng đưa cho chú rể... bưng mời từng người. Trước tiên là mời già làng, tiếp đến là Mai dong, sau đó mời cha mẹ, rồi lần lượt mời mỗi người có mặt một ly rượu.

Khi đã mời rượu khắp lượt, già làng lấy một mảnh vải dệt bằng thổ cẩm dài độ 2m, rộng khoảng 60cm, một đầu mảnh vải được gập đôi, rồi may hai mép vải lại như đáy túi, may tiếp một đường dọc theo chiều dài mảnh vải dài độ 30-40cm, tạo thành một chiếc túi nhỏ. Tất cả lễ vật được xếp vào túi, rồi cột mối tạo thành một tay nải để mang lễ vật qua nhà gái.

+ Thời gian bắt đầu khởi hành từ nhà trai sang nhà gái: 8 giờ ngày... tháng... năm (âm lịch) nhằm ngày... tháng... năm (dương lịch).

+ Thành phần nhà trai gồm: 3 Mai dong (tên từng người), 1 già làng (tên).

+ Lễ vật mang sang nhà gái gồm: 1 tô gạo (khoảng 1kg), 1 xấp lá trầu, 1 chiếc cong bằng đồng, 1 khoanh đèn sáp ong, 2 chai rượu trắng.

Từ nhà trai đi đến nhà gái, già làng và mai dong trong trang phục, trang sức truyền thống của dân tộc Chăm H’roi. Họ đi theo hàng dọc, người sau kế tiếp người trước. Lúc này tại gia đình nhà gái không khí rất nhộn nhịp chuẩn bị đón họ đàng trai. Trong nhà có các mai dong, già làng và người thân của cô dâu đang chờ đợi để đón tiếp nhà trai.

Ngoài khoảnh sân rộng trước cửa nhà cô dâu, đông đảo nam, nữ thanh, thiếu niên của buôn làng trong trang phục, trang sức truyền thống đang nhảy múa theo nhịp trống đôi, cồng 3, chinh 5 rộn rã thúc rục, mời chào.

Đứng ở cổng vào sân nhà gái, có hai người đàn ông tuổi trung niên. Trên tay mỗi người cầm một chai rượu trắng và một cái ly uống rượu loại nhỏ. Sau lời chào hỏi, mỗi mai dong và già làng bên nhà trai được mời uống hai ly rượu, trước khi bước lên cầu thang lên nhà. Mọi người ở nhà gái vui tươi niềm nở đón tiếp nhà trai.

- Sau những phút đầu tiên gặp gỡ, già làng bên nhà gái hỏi:

- Oi hai nao pơ nây, mao a der so? (Các ông đến đây để làm gì? có chuyện gì không?)

- Maidong nhà trai trả lời:

- Ka mi nao pơ nây chi no mây, pờ ra kon... (tên chàng trai) ha... (tên cô gái).

(Chúng tôi đến đây trước là thăm gia đình, sau là đi hỏi con... với thằng... có ưng nhau không?)

- Trong lúc già làng và mai dong hai bên trao đổi, già làng bên nhà gái cho gọi cô gái lên và hỏi:

- May chen chi... (tên chàng trai) so... (tên cô gái)? (mày có ưng thằng... (tên) hay không... (tên)?).

- À ná chen (con chấp nhận) - Cô gái trả lời.

- Già làng hỏi tiếp:

- May chen pi a hó, vớt vo may so chen, mớt lơn mo ngan kây? (mày ưng là ưng thiệt hay chưa, nếu mà mày nói dối thì mày phải chịu mất bò, mất heo để trả lễ đó).

- Sau khi hỏi xong, già làng đưa tay ra cho cô gái cùng ngoéo tay cử chỉ này thay cho lời hứa chắc chắn và đã có sự suy nghĩ kỹ lưỡng.

Sự việc trên thể hiện nhà gái và cô gái đã đồng ý chấp thuận việc hôn nhân giữa hai gia đình, lúc này nhà trai trình lễ vật ra trước hai họ, số lễ vật mang theo gồm: 1 tô gạo (khoảng 1kg), 1 xấp lá trầu, 1 chiếc cong bằng đồng, 1 khoanh đèn sáp ong, 2 chai rượu trắng.

Khi lễ vật của nhà trai đã được xếp đặt ngay ngắn, thì nhà gái cũng đem số lễ vật y như nhà trai trình ra trước hai họ.

Lễ vật của nhà trai và nhà gái được xếp ngay ngắn ở giữa nhà với sự chứng giám của hai họ tộc, già làng và mai dong của hai bên gia đình ngồi xoay quanh lễ vật cùng tiến hành cúng. Nội dung lời cúng như sau:

- Tú... u roc set ket tia, tú... u giang chơ… ớ, giang ea, tú... u giang san, giang chờ núa, ko rở vá, pa tao kin ở cha ning pun. (Vái thần trời, thần núi, thần nước, các bác, các mụ, thần nhà, thần cửa, thổ địa, ông táo mời về chứng giám cho lễ hỏi của... (tên chàng trai) và... (tên cô gái).

Thực hiện xong lễ cúng, già làng và mai dong hai bên ngồi trò chuyện vui vẻ và cùng bàn bạc thống nhất giờ giấc (thời gian cụ thể), các bước lễ bắt rể. Lúc này cô dâu lần lượt mời rượu các già làng và mai dong. Rượu rót ra một ly lớn (đầy), một ly nhỏ (vơi), 2 ly rượu được đặt lên một cái đĩa. Cô dâu bưng đĩa có hai ly rượu lần lượt mời các già làng, mai dong hai bên nhà trai, nhà gái và mời khách đến dự.

Khi mời khách uống rượu, bao giờ ly rượu lớn (đầy) cũng xoay vào phía trong (lòng) cô dâu, ly rượu nhỏ (vơi) ở phía ngoài mời khách. Người khách được mời rượu giơ 2 bàn tay nâng lên ngang ngực, lòng bàn tay hướng ra phía trước. Cử chỉ này thể hiện họ từ chối, không đồng ý uống ly rượu nhỏ lại vơi như vậy. Theo tập quán của đồng bào Chăm H’roi ở Phú Yên, nếu uống ly rượu nhỏ lại vơi kia có nghĩa là mình đối xử không hết tình, hết nghĩa với bà con, hàng xóm láng giềng. Sống không thật bụng với nhau.

Trước cử chỉ từ chối rất tế nhị của khách, cô dâu nhẹ nhàng đặt đĩa có 2 ly rượu xuống sàn nhà rồi xoay nhẹ đĩa đựng rượu để ly rượu lớn (đầy) ra ngoài, ly rượu nhỏ (vơi) vào phía mình, sau đó bưng lên mời khách, lúc này người được mời đưa 2 tay ra nhận ly rượu lớn (đầy) và uống cạn. Cứ như vậy cô dâu mời hết những người có mặt trong lễ đám hỏi. Mọi người uống rượu, trò chuyện, cười nói vui vẻ. Tiếp đó, nhà gái dọn cơm mời già làng, mai dong nhà trai và họ hàng cùng ăn uống.

Sau khi việc tiếp đãi kết thúc, nhà trai xin phép ra về. Trước khi ra về nhà trai để lại toàn bộ lễ vật mang sang cho nhà gái, chỉ trừ chiếc cong và nhận lễ vật của nhà gái đem về gồm có: 2 chai rượu, 1 tô gạo, 1 xấp lá trầu, 1 khoanh đèn sáp ong, 2 chiếc cong (có một chiếc nhà trai mang sang). Nhà gái còn tặng nhà trai 3 cây cần dùng để hút rượu cần. Nhà gái tiễn nhà trai ra về trong niềm vui quyến luyến. Già làng và 3 mai dong lại đi bộ theo hàng dọc về bên nhà trai. Họ đi trong im lặng nhưng trong mắt mỗi người đều ánh lên niềm vui và hạnh phúc vì đã làm được cái việc lớn mà họ nhà trai uỷ thác. Khi về đến nhà trai,... (tên) cha của chàng trai (chú rể) hỏi già làng và mai dong:

- À pá kon I chi... tên chàng trai (chú rể), a cu toi lon ho? (Kết quả ra sao họ có chấp nhận thằng... (tên) hay không?).

Với vẻ mặt tươi cười, phấn khởi già làng và mai dong trả lời:

- A cu toi lon ôi (Họ đã chấp nhận).

Mai dong vừa trò chuyện vui vẻ, vừa trình lễ vật và 2 chiếc cong của chú rể... (tên) cho họ hàng, cha mẹ chú rể xem. Mọi người đều mừng rỡ. Lúc này, cha của chú rể đặt một ché rượu giữa nhà, rồi lấy khoanh sáp cuốn một đầu vào cần của ống hút rượu cần, châm lửa, khi đèn sáp ong được đốt sáng, gia đình nhà trai bắt đầu tổ chức ăn mừng. Già làng và mai dong là những người vất vả và có công lớn đối với hôn nhân của con trẻ nên được mời uống trước. Tiếp theo là cha mẹ của chú rể, rồi lần lượt mọi người thay phiên nhau chúc mừng, đong đầy từng ca nước sạch đã chuẩn bị trước, đổ vào ché rượu cần, dâng mời lần lượt đến từng người và người được mời phải uống cho hết. Mọi người có mặt đều uống rượu và chuyện trò thân tình, vui vẻ...

c) Lễ rước rể (No to mo tau)

Trước lúc đi rước rể, tại nhà gái còn thực hiện một nghi thức: Cha của cô dâu, rót 2 ly rượu trắng đặt lên một cái đĩa nhỏ, trên đĩa nhỏ có đốt ngọn đèn sáp ong. Ông bưng rượu và lần lượt mời mỗi người uống một ly trước lúc đi rước rể. Khi được mời ai cũng uống, không ai từ chối. Vì là rượu vui, rượu của hạnh phúc lứa đôi làm sao từ chối được.

Sau đó, cha của cô dâu, đưa cho mai dong một chiếc khăn vải dài độ 6 tấc dùng để cột tay chú rể dẫn về. Đúng 10 giờ sáng, ngày... tháng... năm... (âm lịch) nhằm ngày... tháng... năm... (dương lịch) nhà gái khởi hành đến nhà trai để rước rể.

+ Thành phần nhà gái đi rước rể gồm: 02 mai dong là... (tên); 01 già làng là... (tên); 01 em trai của cô dâu; 05 thanh niên (chưa vợ)

+ Lễ vật mang theo là:

- 1 chiếc khăn vải dùng để cột tay chú rể dẫn về.

Già làng, mai dong và các thành phần nhà gái đều trong trang phục, trang sức truyền thống của người Chăm H’roi, họ đi bộ theo hàng dọc, già làng và mai dong đi trước, người sau tiếp theo cùng đi đến nhà trai. Lúc này không khí tại nhà trai rất tấp nập, vui nhộn. Mọi người trong trang phục, trang sức truyền thống, trò chuyện, nói, cười vui vẻ, ai cũng chờ đợi gia đình nhà gái đến bắt rể.

Khi nhà gái đến nhà trai, mai dong nhà gái trình bày:

- Ka may nao to plá kay... (tên cô dâu) viên pơ san a thiu. (Xin đàng trai cho chúng tôi được rước rể về với cô dâu).

- Mai dong nhà trai chấp thuận lời thỉnh cầu của mai dong nhà gái.

Hai bên tay bắt mặt mừng, cùng ngồi trao đổi, trò chuyện.

- Khi mai dong nhà gái trình bày xong, cha của chú rể bưng lên một mâm lễ vật gồm: 1 con gà luộc sẵn, có đầy đủ các bộ phận, 1 bát muối, 1 bát gạo, 1 đĩa trầu cau, 1 khoanh đèn sáp ong, làm lễ cúng đưa con trai về ở nhà vợ.

Lễ vật được sắp xếp xong, các mai dong hai bên đều cúng vái theo cách của mình, miệng đọc lời cầu khấn, tay nhúm nhúm gạo vãi lên khoảng không:

- Tú... u giang san, giang chơ nưa, ma tau mo oi (vái thần nhà, thần cửa, tổ tiên, ông bà chứng giám lễ tiễn con trai về ở nhà vợ. Mong sao cho con được mạnh giỏi, hạnh phúc, vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc, răng long).

Khi cúng xong, chú rể rót rượu mời cha, mẹ đẻ. Cha mẹ lần lượt uống và có lời dặn dò con trai khi về sống ở bên nhà vợ phải lễ phép với mọi người, phải chăm chỉ làm ăn, không được lười biếng bỏ bê công việc và hết lòng thương yêu vợ, quí trọng mọi người bên gia đình bên vợ. Những lời căn dặn của cha mẹ là bài học về cách ăn ở, đối nhân xử thế để gìn giữ mái ấm gia đình cho đôi vợ chồng trẻ.

Chú rể tiếp tục rót rượu mời các già làng, các mai dong và tất cả những người có mặt trong lễ rước rể. Sau khi mỗi người đã uống cạn một ly rượu trắng, nhà trai bưng lên một ché rượu cần để mời mọi người cùng uống. Các mai dong nhà gái cùng bưng tô nước chế vào ché rượu cần và mời cha chú rể là người uống đầu tiên, sau đó lần lượt các già làng, mai dong và mọi người cùng uống.

Trong lúc uống rượu Già làng và Mai dong hai bên trò chuyện vui vẻ, vừa hát đối đáp rất sôi nổi. Lời hát đối đáp là những bài dân ca của đồng bào Chăm H’roi để chúc phúc cô dâu, chú rể, chúc tình thông gia giữa hai bên gia đình được mãi bền lâu. Cầu mong cho hạnh phúc lứa đôi được bền chặt, vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc, răng long, trăm năm hạnh phúc.

Sau khi mọi người đã uống rượu tạ từ chú rể, mai dong nhà gái đưa cho em vợ chú rể (em trai ruột của cô dâu) một chiếc khăn vải và dẫn người này đến cột tay chú rể. Sau khi đã cột tay anh rể, em vợ dẫn anh rể 3 lần từ cửa vào bếp và ngược lại. Lúc này ở bếp có một nồi cơm đầy, mai dong nhà trai lấy ngọn đèn sáp ong cuốn trên cần rượu và thắp cháy sáng, rồi cuốn vào quai nồi cơm. Và mỗi lần vào bếp, chú rể lại bốc một bốc cơm bỏ vào miệng ăn. Hành động này theo tập quán của người Chăm H’roi ở Phú Yên có ý nghĩa là bữa cơm cuối cùng của người con trai với gia đình cha mẹ đẻ trước lúc tạ từ về ở bên nhà vợ. Từ đây người con trai này bắt đầu một cuộc sống mới. Sau khi đã thực hiện đầy đủ các lễ thức như trên, già làng, mai dong nhà gái xin phép già làng, mai dong bên nhà trai và cha mẹ của chú rể được rước rể về bên nhà gái. Già làng, mai dong, cha mẹ và dòng họ nhà trai cùng nhịp bước trong đoàn rước rể về nhà vợ.

+ Thứ tự hai họ từ nhà trai về nhà gái:

- 2 già làng đi trước, kế tiếp là 05 mai dong, đến em vợ dắt tay chú rể, rồi 5 thanh niên nhà gái, tiếp đến cha mẹ, anh em, bà con bên đàng trai đi sau. Già làng, mai dong và những người cùng đi rước rể trong trang phục, trang sức truyền thống, họ đi theo hàng dọc, người sau kế tiếp người trước. Vừa đi vừa chuyện trò râm ran, nói cười vui vẻ.

Lúc này tại nhà của cô dâu không khí rất nhộn nhịp. Trong nhà người thân của cô dâu đang chờ đợi để đón chàng rể. Ngoài khoảnh sân rộng trước cửa nhà, nam, nữ thanh niên của buôn làng trong trang phục, trang sức truyền thống với rất nhiều sắc màu đang nhảy múa theo nhịp trống đôi, cồng 3, chinh 5 rộn ràng. Đứng ở cổng ra vào sân nhà gái, có anh em, dòng họ, già làng bên gái đón tiếp. Già làng nhà gái rót rượu mời tất cả mọi người có mặt trong đoàn rước rể trước khi vào nhà.

Khi bước lên cầu thang vào nhà, các già làng, mai dong bước lên trước, tiếp đến là 5 thanh niên nhà gái, sau đó em vợ tay vẫn cầm khăn vải đã cột tay anh rể dắt anh rể bước lên cầu thang. Đứng trên sàn trước cửa bước vào nhà là mẹ vợ của chú rể, tay cầm một quả bầu khô bên trong đựng đầy nước, khi chú rể chuẩn bị bước lên sàn thì mẹ vợ như vô tình làm rớt/rơi trái bầu từ trên cao xuống đất, trái bầu chứa đầy nước, khá nặng khi chạm đất vỡ ra thành nhiều mảnh, nước văng tung toé. Hình ảnh thật sinh động và ấn tượng. Ý nghĩa của việc đánh rớt/rơi trái bầu nói lên sự mừng rỡ của cha mẹ vợ, mừng đến nỗi đánh rớt/rơi bể cả trái bầu. Tương tự như người Kinh vẫn hay nói là “mừng vấp té”.

Sau khi đánh rớt trái bầu, mẹ của cô dâu bước vào trong nhà ngồi bên cạnh chồng của mình. Hai vợ chồng ngồi ngay cửa bước vào trong gian nhà, họ đã trải chiếu ngồi đón rể. Khi chú rể được em vợ dắt chuẩn bị bước vào bên trong ngôi nhà, lúc này cha của cô dâu đốt một khoanh đèn sáp ong để hơ chân chú rể. Chú rể nhấc bàn chân trái lên khỏi mặt sàn khoảng 20cm, cha vợ dùng ngọn đèn sáp ong có lửa hơ rồi xoay 3 vòng dưới bàn chân chú rể.

Người cha vợ nói:

- “Đưa cái chân mày đây, tao xông chân để rửa sạch sẽ và đốt bỏ đi những gì xấu nhất đã xảy ra trước đây, từ nay mày bước vào nhà này, mày phải làm lại từ đầu cho cuộc sống mới, ở nơi gia đình mới.”

Sau đó mẹ vợ cho con rể ăn một miếng trầu, rồi bưng một tô nước cho con rể uống một ngụm, tiếp đến mẹ vợ nhúng tay vào tô nước rồi vuốt nhẹ lên mặt con rể, ngụ ý rửa mặt cho con rể sạch sẽ trước lúc già làng và mai dong làm lễ nhận rể.

d) Lễ cúng nhận rể (Goai to ma tau)

Khi tất cả mọi người đã vào bên trong nhà, cha vợ của chú rể bưng lên một con gà luộc để làm lễ cúng nhận rể. Các già làng, cô dâu và chú rể đứng giữa nhà, hướng về phía mặt trời mọc. Chi tiết này cũng rất đặc biệt. Người Chăm H’roi ở Phú Yên quan niệm, hướng đông, hướng mặt trời mọc luôn mang lại cho con người nhiều may mắn. Ánh sáng không chỉ xua tan mọi bóng tối mà chính ánh dương đó tựa như là hạnh phúc đang lên, đang nảy nở đối với đôi vợ chồng trẻ.

Mâm cúng được sắp xếp ngay ngắn. Ngồi quanh mâm cúng có cha mẹ hai bên dâu rể. Họ bắt đầu thực hiện lễ cúng.

- Lễ cúng:

Cha cô dâu và cha chú rể cùng cúng, họ vừa đọc lời cúng, tay vừa nhúm một nhúm gạo vãi lên khoảng không.

- Lời cúng:

Tú... u giang sang, giang chơ nư, giang chơ, giang prú tau mo oi, viên pân nâu, coai to pla kây... (tên cô dâu). (ý nghĩa lời cúng: Vái thần nhà, thần cửa, tổ tiên, ông bà chứng giám lễ nhận rể cho con... (tên cô dâu).

Sau khi khấn vái xong, cha vợ của chú rể bưng lên một chén tiết gà đã pha với rượu trắng, rồi từ từ đổ lên trước trán của chú rể và cô dâu; Đồng thời căn dặn các con:

- Tu tờ ru chà rac pờ nu, à na pờ táu pờ tây, la ơ chờ tia chư qua, mau tơ mau chon, kron ma, kron tiêu, kron min má, a mí mâu doa, amau mou do.

- Ý nghĩa của hành động lấy máu gà pha rượu đổ lên trán cô dâu chú rể, tượng trưng như việc hai người (vợ chồng) đã cắt máu ăn thề, đây là hành động rất thiêng liêng, muốn khẳng định đôi vợ chồng trẻ sẽ gắn bó với nhau suốt đời. Mặt khác cũng thề nguyện nếu như một trong hai đứa phản bội bỏ nhau, sẽ chịu sự trừng phạt của các đấng thần linh thiêng liêng, chịu các hình phạt theo luật tục của làng và già làng qui định. Đây cũng đồng thời là lời dặn dò, lời chúc phúc cho các con sống với nhau đến răng long đầu bạc, hạnh phúc suốt đời.

đ) Lễ cúng ông bà (Coai a tau mo oi)

Sau lễ cúng nhận rể, cha vợ của chú rể bưng lên một đầu heo để cúng ông bà nội, ngoại hai bên.

- Nội dung lời cúng:

Tú... u a tau mo oi, a tau mí ma, thua ga p’lau ga, viên hân pu nhăm mơ nâng pa pui, pơ ni xơ rơp ôn mo la né a răng cơ răng, a răng kơ răng em the pui pê khuê lêm.

- Ý nghĩa của lời cúng trên:

Hôm nay, mọi người anh em đông đủ, vái mời ông bà nội, ngoại, cha mẹ hai bên, cùng hội tụ với nhau mừng ngày cưới của con... và thằng..., mời ông bà, cha mẹ hai bên về chung vui với gia đình và chúc phúc cho con cháu.

Cúng xong hai họ cùng bà con hàng xóm láng giềng ăn mừng. Ăn mừng xong, già làng công bố nhà gái đem ra: 3 ché rượu, 1 chai rượu trắng, 1 chén gạo, 3 miếng trầu, 1 khoanh đèn sáp ong, 2 chiếc con. Tất cả lễ vật trên được trình ra trước hai họ và tiến hành làm lễ cưới chính thức.

Thực hiện lễ cưới là các mai dong. Các mai dong trong trang phục, trang sức truyền thống ngồi xoay quanh lễ vật thực hiện nghi thức cúng.

+ Lời cúng như sau:

Tu... u roc set, ket tia, mo pia pa sớ nơ na ni, a toa ôn trôn moa, nga pâng chưng ch’ra p’roa mao, ch’ưng san an a mưa, pi roi khan tia, ria khan mon, kon nau xau to, a ri pờ ni pa sop... (tên cô dâu) há chi... (tên chú rể), đi chơ răng pưa, trân e riêng răn tom, pả ngư chi côn, pả ngôn chi đác hú... ngá.

- Ý nghĩa lời cúng trên:

Hôm nay ngày lành tháng tốt, đầy đủ họ hàng cha mẹ hai bên, cô dâu, chú rể trước sự chứng giám của yàng, thần núi, các đấng thiêng liêng. Chúng tôi tiến hành làm lễ cưới cho con... cùng thằng..., cầu mong vợ chồng chúng nó sống chung thuỷ, hạnh phúc bền lâu, thương yêu nhau suốt đời.

- Sau khi lễ cúng xong, mai dong nhà gái công bố, mời mẹ vợ của chú rể ra để nhận lễ vật là 2 chiếc cong. Mai dong cầm 2 chiếc cong giơ lên cao và hỏi trước hai họ:

- Cong ni đủ đôi, đủ cặp, mau ni chi chả da sơ, mau lai mau so lai so, nếu so ka mi p’la kon?

- Ý nghĩa của câu hỏi trên là:

- Cong này có đủ đôi không? Cong này có sứt mẻ gì không? Có ai có thắc mắc gì trong ngày cưới này thì cứ nói. Có ai thắc mắc về sự trong trắng của cô dâu, chú rể? Hiện giờ có ai ngăn không thì hãy nói ngay bây giờ. Nếu có khiếu nại, thắc mắc gì thì nói lên và lấy lại chiếc cong, coi như lễ cưới chưa thành. Còn nếu không thì mai dong tuyên bố chính thức cô dâu, chú rể thành đôi vợ chồng hoàn toàn trong trắng.

Cả hai họ không có nghi vấn, tranh chấp gì nên cùng trả lời:

- So mau (không có).

Mai dong công bố lễ cưới đã được kết thúc và trao cho mẹ cô dâu nhận 2 chiếc cong. Khi nhận đôi cong do mai dong trao, mẹ cô dâu mặc áo dài trắng, tay bưng một cái bát, rồi dùng tà áo trải trên miệng bát để nhận đôi cong do mai dong trao lại. Mai dong rót rượu cho đôi vợ chồng mới uống để tạ ơn. Trong lúc hai họ mừng vui về sự thành đôi của cô dâu, chú rể, các mai dong có hát một vài bài nhằm mục đích chúc phúc cho vợ chồng cô dâu và chú rể.

Cuối lễ cưới, các mai dong dặn dò đôi vợ chồng trẻ về cách ăn ở chung thuỷ và răn đe bằng cách nêu ra luật tục, tập quán: Nếu như một trong hai người thay lòng đổi dạ về sau này thì sẽ đền bù lễ vật, đền bù gấp đôi chi phí tổ chức lễ cưới và trả lại cái duyên bị mất.

Sau lễ cưới là phần tiệc đãi khách. Thực phẩm phục vụ đãi khách trong lễ cưới theo nghi thức truyền thống của người Chăm H’roi ở Phú Yên gồm có: 1 con bò, 2 con heo, 9 con gà, rượu trắng, rượu cần. Ngoài ra còn lương thực, thực phẩm khác như rau, quả, củ để chế biến các món ăn truyền thống của đồng bào dân tộc Chăm H’roi, phục vụ đãi khách đến mừng đám cưới. Các món ăn chính trong đám cưới gồm có: Pu pin (cơm trộn mì), Nâng chi đé (thịt luộc), Nưng lụi (thịt nướng), Van pư tây (chuối cây nấu), Pơ ne (canh thập cẩm). Cách thức dọn ăn trong lễ cưới theo nghi thức truyền thống của người Chăm H’roi cũng rất đặc biệt. Để dọn ăn cho khách được mời, mấy ngày trước khi diễn ra đám cưới, dân làng đến giúp gia đình nhà gái làm một cái sạp bằng cây rừng, hình thức như kiểu nhà sàn. Mặt sàn dùng để ngồi cách mặt đất khoảng 7 tấc (70cm), chiều cao sạp 2m có lợp mái, rộng từ 2,5-3m, dài 6-8m. Khi thức ăn được nấu nướng xong, dọn lên trên sạp theo chiều dài, mọi người ngồi hai bên cùng ăn, uống rượu nói chuyện với nhau vui vẻ. Những ché rượu cần cũng được cột thẳng hàng, ai muốn uống bao nhiêu thì uống, không uống cũng chẳng hề gì, miễn sao vui là được. Cuộc vui kéo dài đến tận khuya, ai buồn ngủ cứ ngủ, ai uống rượu cứ uống, ai vui được thì cứ ngồi chơi.

Một số gia đình trong buôn làng vì bận công việc không đến dự đám cưới được, chủ nhà cho người mang thức ăn tới tận nhà hoặc gửi bà con đem phần thức ăn về cho họ. Mọi người đều được bình đẳng, tôn trọng như nhau. Đám cưới của người Chăm H’roi ở Phú Yên thể hiện sâu đậm tính chất đoàn kết cộng đồng và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

3. Phần hội

Ngoài các nghi lễ như đã đề cập trên, đám cưới theo nghi thức truyền thống của đồng bào Chăm H’roi ở tỉnh Phú Yên còn tổ chức phần hội rất đặc sắc. Phần hội trong đám cưới trở thành ngày vui của nam thanh nữ tú và bà con buôn làng. Ngay từ những ngày trước khi diễn ra đám cưới, dân trong buôn làng đã hồ hởi chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho việc tổ chức phần hội. Chọn địa điểm, chuẩn bị củi đốt, rượu cần và thức nhắm cho người dự hội. Đám thanh niên chuẩn bị cồng chiêng, chuẩn bị trang phục, trang sức thật đẹp để dự lễ cưới. Đây là dịp để nam nữ thanh niên trưng diện quần áo đẹp, khoe tài đánh cồng chiêng và nhảy múa.

Phần hội trong đêm cưới theo nghi thức truyền thống của đồng bào Chăm H’roi ở Phú Yên thật sinh động và đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc. Ở giữa sân trung tâm plây, ngọn lửa luôn ngùn ngụt cháy, ánh sáng lan toả ra xung quanh, làm sáng lên những khuôn mặt tươi xinh, rạng rỡ của nam thanh, nữ tú. Mọi người dân trong buôn làng tụ tập đông đảo, cười nói vui vẻ, cùng đến chia vui với cô dâu, chú rể và gia đình hai họ. Lễ hội cồng chiêng được tổ chức vào chiều tối cùng ngày (Chi em ching cheng a khôi). Trong tiếng trống đôi, cồng 3, chinh 5 tạo nên những âm thanh rộn rã, thúc giục nam nữ thanh niên dắt tay nhau vào hội nhảy múa say sưa. Đêm rộn ràng, tiếng cồng-chiêng âm vang cho đến sáng. Phần Hội mừng đám cưới còn là dịp để dân làng nghỉ ngơi, vui chơi giải trí; là dịp hiếm hoi để nam nữ thanh niên gặp nhau, và cũng từ đêm hội này có không ít đôi nam nữ thanh niên bén duyên để sau đó đã nên vợ thành chồng.

4. Lễ tạ ơn (Bưng nây sơ no)

Lễ tạ ơn là lễ thức không thể thiếu trong nghi thức cưới truyền thống của người Chăm H’roi Phú Yên. Thời gian tiến hành vào 8 giờ (ngày... tháng... năm...). Địa điểm: Tại nhà gái. Thành phần tham dự Lễ tạ ơn gồm: Gia đình phía trai và phía gái (phía gái chủ trì chính lễ này). Già làng, thầy cúng, mai dong, đại diện chính quyền địa phương (buôn/thôn, xã), bà con 2 họ, đội nhạc và đội múa xoang.

Lễ vật để cúng tạ ơn gồm: 1 con gà (đã luộc chín), 1 tô gạo, 1 chai rượu trắng, 3 ché rượu cần, bộ đèn sáp ong (1 bộ), trầu cau (1 đĩa).

Nội dung cúng tạ gồm: Cúng tạ ơn Yàng, tạ ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh ra và nuôi các con khôn lớn để hôm nay có ngày vui trọng đại này. Lễ cúng tạ còn có ý nghĩa để cảm ơn già làng, mai dong, hai họ, bà con buôn làng, chính quyền địa phương đã tham gia giúp đỡ gia đình hai bên tổ chức đám cưới cho cô dâu, chú rể thành công. Sau lễ cúng tạ ơn của già làng, gia đình tổ chức nấu nướng và chiêu đãi khách cùng bà con trong buôn làng.

5. Lễ đạp nước (Nao dot ea)

Lễ đạp nước là một nghi thức mang đậm nét bản sắc văn hoá của người Chăm H’roi ở Phú Yên. Đối với người Kinh, khi lễ thành hôn, tơ hồng, hợp cẩn xong xuôi, hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ ơn gia tiên, ông bà cha mẹ, đi thăm hỏi họ hàng thân nhân bên nhà gái, sau đó đón bố mẹ và một vài thân nhân sang nhà chú rể. Kể từ buổi đó, mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà rể và nhà thông gia, vì trong lễ cưới, mẹ cô dâu không đi đưa dâu. Đây gọi là lễ lại mặt. Lễ lại mặt của người Kinh thường tiến hành vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau ngày cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ) tuỳ theo khoảng cách xa gần và hoàn cảnh cụ thể mà định ngày. Thành phần chủ khách rất hẹp, chỉ gói gọn trong phạm vi hai gia đình bên nhà trai và nhà gái.

Từ nét văn hoá trong tục cưới của người Kinh đối chiếu, so sánh với đám cưới theo nghi thức truyền thống của người Chăm H’roi ở Phú Yên, bước đầu nhận thấy có những nét tương đồng mang tính nhân văn sâu sắc.

Sau 5 ngày kể từ ngày cô dâu rước chú rể về nhà mình, hai vợ chồng cô dâu và chú rể cùng cha mẹ vợ sẽ đến bên nhà trai để dự lễ “đi đạp nước”. Lễ này gọi theo tiếng người Chăm H’roi là “Nao dót ea”. Lễ thức “đi đạp nước” mang đậm nét văn hoá theo phong tục của người Chăm H’roi ở Phú Yên. Trình tự Lễ thức “đi đạp nước” diễn ra như sau:

Khi cô dâu, chú rể và cha mẹ vợ của chàng rể về đến nhà trai, hai bên thông gia tay bắt, mặt mừng, nói cười vui vẻ. Sau đó, mai dong nhà trai đưa cho cô dâu mang một chiếc gùi nhỏ (đeo phía sau lưng), đan bằng sợi mây, còn mới rồi dẫn cô dâu xuống suối để mò ốc, bắt cua. Nhà trai cho một số người đi theo để xem tài nghệ bắt ốc, mò cua của cô dâu, mặt khác để canh chừng, tránh những rủi ro xảy ra. Thời gian cô dâu bắt cua, mò ốc khoảng trên dưới một tiếng đồng hồ, sau đó tất cả những con vật bắt được đem về nhà chế biến thức ăn để cúng ông bà tổ tiên.

Lễ “đi đạp nước” với mục đích thử tài cô dâu về tính siêng năng, chịu khó làm lụng và vai trò quán xuyến của người đàn bà trong gia đình bằng cách thức mò cua, bắt ốc ở sông, suối. Ở đây cũng muốn biết khả năng nấu nướng của cô dâu, trước khi ra mắt tổ tiên, ông bà, cha mẹ bên chồng, để cha mẹ bên chồng nhận dâu. Lễ thức này tương tự như việc thử tài “nữ công gia chánh” đối với những cô dâu mới ở gia đình người Việt.

Thời gian cô dâu, chú rể về nhà chồng và thực hiện lễ “đi đạp nước” chỉ 01 ngày, nhân dịp này cha mẹ chồng cho cô dâu một số của cải như: Kiềng bạc, áo quần và một số đồ trang sức khác. Việc cho nhiều hay ít của cải không đòi hỏi, không bắt buộc mà phụ thuộc vào điều kiện, khả năng kinh tế gia đình nhà trai. Và cô dâu, chú rể cũng không đòi hỏi gì về số tài sản, trang sức của cha mẹ san sẻ cho con cái.

6. Tạm kết

Tại Phú Yên người Chăm H’roi sinh sống chủ yếu ở ba huyện miền núi là Đồng Xuân, Sơn Hoà và Sông Hinh với khoảng hơn 20.000 nhân khẩu. Cùng với người Êđê, người Bana, người Chăm H’roi được xem là những tộc người có quá trình định cư lâu dài tại Phú Yên. Trong lịch sử phát triển, người Chăm H’roi đã sáng tạo ra một nền văn hoá vật chất và tinh thần phong phú và đa dạng mang bản sắc riêng của tộc người mình. Đó là các sử thi, trống đôi, công ba, chinh 5, múa Tahara, các lễ hội... Đặc biệt lễ cưới theo nghi thức truyền thống của người Chăm H’Roi ở Phú Yên còn bảo lưu được nhiều phong tục, tập quán mang giá trị truyền thống tốt đẹp đó là sự tự do, bình đẳng trong hôn nhân nam nữ, không có việc ép duyên hoặc thách cưới, việc chung tay góp sức của cộng đồng với hạnh phúc lứa đôi thể hiện được tình làng nghĩa xóm luôn thắt chặt, keo sơn; trách nhiệm của cha mẹ trong việc truyền dạy những tri thức về quan hệ gia đình, dòng họ và xã hội cho đôi vợ chồng trẻ; đây cũng là dịp để các bộ môn nghệ thuật truyền thống, văn hoá ẩm thực của người Chăm H’roi được bảo tồn và phát huy trong xã hội đương đại... Hiện nay điều kiện kinh tế - xã hội của người Chăm H’roi ở Phú Yên đã có sự thay đổi; đời sống của nhân dân đã được nâng cao hơn trước nhiều; mặt khác quá trình chuyển đổi của nền kinh tế và sự giao lưu văn hoá giữa người Chăm H’roi với các dân tộc khác cũng diễn ra rất mạnh. Những năm gần đây, nhiều đám cưới của thanh niên nam nữ người Chăm H’roi cũng đã ảnh hưởng ít nhiều theo tập quán, văn hoá của người Kinh, từ cách trang trí, ăn mặc, những nét văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc của người Chăm H’Roi đang dần mai một. Kế thừa và phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống của dân tộc Chăm H’roi ở Phú Yên là việc làm cần thiết, kịp thời góp phần bảo tồn sự đa dạng văn hoá trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập.



Tài liệu tham khảo



1. Nguyễn Hoài Sơn (2007), Phục dựng lễ cưới theo nghi thức truyền thống của người Chăm H’roi ở Phú Yên - Dự án chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, Sở Văn hóa Thông tin Phú Yên.

2. Viện Văn hóa Thông tin, Sở Văn hóa Thông tin Phú Yên (2004), Nhận diện văn hóa người Chăm ở Phú Yên, Sở Văn hóa Thông tin Phú Yên.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...