Thứ Ba, 10 tháng 9, 2024

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC MIỀN NÚI TẠI HỆ THỐNG BẢO TÀNG TỈNH (ThS. Phan Thị Nữ)


Tóm tắt: Văn hóa của các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ là một phần quan trọng và đặc sắc trong bức tranh văn hóa đa dạng của Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa, việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa này đang gặp nhiều thách thức. Bảo tàng tỉnh, với chức năng của mình, không chỉ cần thực hiện các biện pháp bảo tồn hiện đại mà còn phải trở thành cầu nối quan trọng giữa di sản và công chúng. Điều này đảm bảo rằng các giá trị văn hóa truyền thống không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành một phần sống động và hữu ích trong đời sống hiện đại, đồng thời mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng.

Từ khóa: Bảo tồn di sản văn hóa, Phát huy di sản văn hóa, Dân tộc miền núi, Hệ thống Bảo tàng tỉnh.

I. Mở đầu

Tỉnh Quảng Ngãi và khu vực Nam Trung Bộ là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, với nền văn hóa đa dạng và phong phú, phản ánh sâu sắc đời sống, tâm hồn và tri thức của cộng đồng các dân tộc. Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì bản sắc văn hóa, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam. Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng, nguy cơ mai một và xói mòn các giá trị văn hóa truyền thống ngày càng hiện hữu, việc bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số trở thành vấn đề cấp thiết cần được quan tâm.

Bảo tàng tỉnh, thành phố cả nước nói chung và Bảo tàng tỉnh ở Quảng Ngãi và các tỉnh Nam Trung Bộ nói riêng (sau đây gọi là hệ thống Bảo tàng tỉnh), đóng vai trò thiết chế văn hóa quan trọng trong việc nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, trưng bày và giáo dục về di sản văn hóa[1], theo đó văn hóa các dân tộc miền núi thuộc đối tượng nghiên cứu. Bài viết này trình bày những thành tựu, thách thức công tác bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc miền núi tại hệ thống Bảo tàng tỉnh (dựa trên số liệu cụ thể từ đợt khảo sát, điều tra năm 2024 của cán bộ Bảo tàng tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi) và đề xuất một số giải pháp với mong muốn nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc miền núi tại trong giai đoạn hiện nay tại hệ thống Bảo tàng tỉnh, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Bảo tàng tỉnh trong cộng đồng.

II. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc miền núi của địa phương tại hệ thống Bảo tàng tỉnh, thành phố
1. Vai trò của hệ thống Bảo tàng tỉnh trong bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc miền núi

Nổi bật trong bức tranh văn hóa đa sắc tộc của Nam Trung Bộ, hệ thống Bảo tàng tỉnh đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa độc đáo của các dân tộc thiểu số. Hệ thống này như những ngôi nhà chung, lưu giữ các hiện vật văn hóa tiêu biểu, phản ánh đời sống văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng dân tộc miền núi, trở thành nguồn tài liệu quý giá cho nghiên cứu văn hóa và giáo dục thế hệ trẻ.

Để phát huy hiệu quả sứ mệnh này, hệ thống Bảo tàng tỉnh cần nhận diện rõ ràng vai trò, trách nhiệm và tầm quan trọng của công tác bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc của địa phương. Với đội ngũ cán bộ khoa học được đào tạo bài bản, hệ thống bảo tàng có chức năng và trách nhiệm nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản và trưng bày hiện vật một cách khoa học, chính xác. Nhờ vậy, giá trị của các hiện vật được nâng cao, giúp công chúng hiểu rõ hơn về văn hóa của các dân tộc miền núi.

Hệ thống Bảo tàng tỉnh tổ chức các hoạt động giáo dục và tuyên truyền về văn hóa các dân tộc. Thông qua các hoạt động này, hệ thống Bảo tàng tỉnh góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa, đồng thời khuyến khích họ tham gia vào công tác bảo tồn và phát huy. Hợp tác với địa phương, với các bảo tàng khác, tổ chức giao lưu, triển lãm về văn hóa các dân tộc miền núi là hướng đi hiệu quả mà hệ thống Bảo tàng tỉnh đã, đang và cần hướng đến. Nhờ vậy, văn hóa của các dân tộc miền núi được giới thiệu rộng rãi, thu hút du khách, đồng thời học hỏi kinh nghiệm bảo tồn và phát huy văn hóa từ các địa phương khác kể cả quốc tế.

Hệ thống bảo tàng tỉnh còn đóng vai trò là cầu nối quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa bảo tàng và cộng đồng các dân tộc miền núi. Đồng thời, bảo tàng cũng kết nối với các công ty lữ hành du lịch của tỉnh, hỗ trợ thiết lập các tuyến du lịch văn hóa, liên kết bảo tàng với các điểm đến văn hóa tại địa phương. Điều này không chỉ giúp tạo ra nguồn thu nhập bền vững mà còn bảo tồn và phát huy di sản văn hóa một cách bền vững, hiệu quả hơn.

Với nhận thức sâu sắc về vai trò quan trọng của mình, hệ thống Bảo tàng tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong những năm qua. Nơi đây đã và đang góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc miền núi, làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam.

2. Thành tựu

2.1. Hoạt động nghiên cứu sưu tầm

Nhờ sự nỗ lực không ngừng trong công tác sưu tầm, kho tàng hiện vật của hệ thống Bảo tàng tỉnh về văn hóa dân tộc miền núi ngày càng phong phú và đa dạng, bao gồm: Dụng cụ và sản phẩm nghề thủ công truyền thống: phản ánh kỹ thuật sản xuất và đời sống lao động của người dân. Trang phục truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc. Dụng cụ cúng tế, trang phục lễ hội, nhạc cụ truyền thống,… gắn liền với đời sống tinh thần và tín ngưỡng của cộng đồng. Theo số liệu thống kê đến năm 2024, hệ thống Bảo tàng tỉnh hiện lưu giữ một số lượng hiện vật văn hóa dân tộc miền núi đáng kể, cụ thể như: Bảo tàng Quảng Nam: 784 hiện vật văn hóa của các dân tộc Co, Xê Đăng, Cơ Tu, Gié-Triêng. Bảo tàng Quảng Ngãi: 266 hiện vật văn hóa của các dân tộc Hrê, Co, Cadong. Bảo tàng Ninh Thuận: hơn 44.000 hiện vật văn hóa của các dân tộc Chăm, Ra Glai, Cơ Ho, Chu Ru. Bảo tàng Đà Nẵng: gần 400 hiện vật văn hóa của các dân tộc Co, Xê Đăng, Cơ Tu, Gié-Triêng.

2.2. Hoạt động số hóa và lưu trữ tư liệu

Ngoài việc sưu tầm, lưu giữ hiện vật, hệ thống Bảo tàng tỉnh còn đóng vai trò quan trọng trong việc tư liệu hóa các yếu tố văn hóa phi vật thể như phong tục, tập quán, lễ hội, các bài hát, điệu múa và nghệ thuật biểu diễn dân gian,.. Trong kỷ nguyên số, việc số hóa di sản văn hóa là một bước quan trọng trong công tác bảo tồn.

Một số bảo tàng trong hệ thống Bảo tàng tỉnh đã thành công trong việc số hóa các tư liệu quan trọng về văn hóa, văn nghệ dân gian bao gồm hiện vật, tài liệu, hình ảnh và âm thanh. Điều này không chỉ giúp bảo tồn lâu dài các giá trị văn hóa mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và tổ chức các chương trình giáo dục, trải nghiệm cho khách tham quan. Các bảo tàng đã áp dụng công nghệ thông tin trong việc lưu trữ và quản lý dữ liệu văn hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu và trang web để giới thiệu và chia sẻ thông tin về văn hóa phi vật thể của các dân tộc miền núi. Một số bảo tàng điển hình trong việc này là Bảo tàng Đà Nẵng, Bảo tàng Quảng Nam và Bảo tàng Phú Yên.

Qua khảo sát, mặc dù việc triển khai số hóa chưa đồng bộ tại một số bảo tàng, nhưng đã có những bước đầu tiên trong việc thực hiện các dự án số hóa văn hóa phi vật thể. Những dự án này bao gồm số hóa các hiện vật, tư liệu và ghi chép các lễ hội, phong tục, và nghệ thuật dân gian, tạo ra một kho dữ liệu quý giá phục vụ cho nghiên cứu và giáo dục. Nhờ đó, văn hóa dân gian được bảo tồn và quảng bá rộng rãi hơn.

2.3. Hoạt động nghiên cứu và xuất bản

Các bảo tàng đã sưu tầm và ghi chép tư liệu về văn hóa dân gian các dân tộc miền núi, bao gồm hiện vật, câu chuyện dân gian, bài hát, điệu múa và các phong tục tập quán. Từ kết quả nghiên cứu, các Bảo tàng đã xuất bản nhiều ấn phẩm về văn hóa các dân tộc miền núi, bao gồm catalogue, tập gấp và nhiều tài liệu khác nhằm phổ biến rộng rãi kiến thức và giá trị văn hóa đến cộng đồng. Tiêu biểu là Bảo tàng Đà Nẵng với catalogue chuyên đề về trang phục và nghi lễ của người Cơ Tu, Bảo tàng Quảng Ngãi với catalogue giới thiệu các mảng trưng bày văn hóa tiêu biểu của các dân tộc Hrê, Co, Ca Dong, và Bảo tàng Phú Yên với tập gấp chuyên đề về trang phục các dân tộc thiểu số ở Phú Yên,.. Bên cạnh các ấn phẩm truyền thống, toàn bộ hệ thống Bảo tàng tỉnh còn sử dụng phương tiện truyền thông như website, mạng xã hội và video để quảng bá văn hóa dân gian của các dân tộc miền núi của địa phương.

Một số Bảo tàng trong Hệ thống Bảo tàng tỉnh còn tiến hành nghiên cứu và lập hồ sơ khoa học về các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của các dân tộc miền núi trong tỉnh, đề xuất đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, như: Tết Ngã rạ, Nghệ thuật trình diễn dân gian cà đáo, Nghệ thuật trang trí cây nêu của dân tộc Co tại tỉnh Quảng Ngãi, Lễ ăn mừng đầu lúa mới của người Raglai tại xã Phước Hà, huyện Thuận Nam, tỉnh Phú Yên, và nghề dệt thổ cẩm của người Cơ Tu tại tỉnh Quảng Nam,…

2.4. Hoạt động trưng bày và triển lãm

Hiện nay, toàn bộ hệ thống Bảo tàng tỉnh đều có các khu trưng bày cố định giới thiệu văn hóa của các dân tộc miền núi địa phương với hình thức sinh động và thu hút. Các tổ hợp trưng bày về trang phục, nhạc cụ, đồ dùng sinh hoạt, sản phẩm thủ công truyền thống và lễ hội của các dân tộc miền núi đã thu hút được sự quan tâm của khách tham quan, đặc biệt là học sinh, sinh viên và du khách ngoài tỉnh. Tiêu biểu trong số này có Bảo tàng Đà Nẵng, Bảo tàng tỉnh Phú Yên, Bảo tàng tỉnh Ninh Thuận, và Bảo tàng tỉnh Bình Thuận.

Bên cạnh đó, các bảo tàng còn tổ chức các trưng bày chuyên đề và triển lãm lưu động đến các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, giúp người dân địa phương có cơ hội tiếp cận và tìm hiểu về văn hóa dân gian. Tiêu biểu như: trong các năm 2015, 2017 và 2020, Bảo tàng Quảng Ngãi đã tổ chức trưng bày chuyên đề “Nghề dệt thổ cẩm, rượu cần”, “Nghề đan lát”, trình diễn chiêng 3 của người Hrê tại huyện Ba Tơ và chương trình giáo dục làm các loại bánh truyền thống của các dân tộc miền núi. Trong các năm 2016, 2022 và 2023, Bảo tàng tỉnh Ninh Thuận đã triển lãm lưu động các chuyên đề như “Văn hóa Chăm Ninh Thuận - An Giang” và “Đặc trưng Văn hóa Chăm và Cồng chiêng Tây Nguyên”, “Nhạc cụ truyền thống của các dân tộc thiểu số Ninh Thuận”. Từ năm 2017 đến 2019, Bảo tàng tỉnh Phú Yên phối hợp với nhiều huyện miền núi của tỉnh trưng bày chuyên đề “Sắc màu văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Yên”. Từ năm 2016, 2017, 2018, Bảo tàng tỉnh Quảng Nam tổ chức các trưng bày các chuyên đề “Di sản văn hóa đồng bào Co ở huyện Bắc Trà My”, “nghi thức dựng nêu và Gubla của dân tộc Co”, “Văn hóa đồng bào thiểu số tỉnh Quảng Nam”,…

Những triển lãm này không chỉ giúp công chúng tiếp cận trực tiếp với các hiện vật, tư liệu và nghệ thuật biểu diễn mà còn tạo ra không gian giao lưu, học hỏi và nâng cao hiểu biết về các giá trị văn hóa độc đáo của các dân tộc miền núi của địa phương. Các hoạt động này cũng góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, đồng thời khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

2.5. Hoạt động giáo dục và truyền thông

Hệ thống các bảo tàng đã phối hợp với các trường học tại địa phương để tổ chức các chương trình giáo dục văn hóa các dân tộc miền núi của địa phương, như đưa học sinh đến tham quan và trải nghiệm tại bảo tàng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế như: trải nghiệm làm đồ đan lát, làm bánh, đánh chiêng, giúp học sinh và du khách trực tiếp tham gia vào các hoạt động văn hóa như cùng làm đồ thủ công với nghệ nhân, diễn xướng dân gian,...

Các bảo tàng thường xuyên tổ chức các lễ hội văn hóa dân gian, tái hiện các nghi lễ, lễ hội truyền thống của các dân tộc miền núi. Một số bảo tàng đã số hóa các tư liệu văn hóa, xây dựng các trang web và ứng dụng di động để giới thiệu và truyền bá văn hóa dân gian đến công chúng rộng rãi.

III. Thách thức và giải pháp

1. Hoạt động nghiên cứu sưu tầm, bảo quản hiện vật

1.1.Thách thức

Bên cạnh những nỗ lực đáng ghi nhận, công tác sưu tầm và bảo tồn hiện vật văn hóa miền núi tại hệ thống Bảo tàng tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức: nguồn kinh phí hoạt động chuyên môn dành cho công tác sưu tầm hạn chế…, đã ảnh hưởng lớn đến khả năng triển khai các hoạt động nghiên cứu, thu thập tư liệu và bảo tồn hiện vật một cách có hệ thống, bền vững. Hệ thống bảo tàng chưa được trang bị trang thiết bị hiện đại ảnh hưởng đến công tác ghi âm, ghi hình, lưu trữ tư liệu và bảo quản hiện vật.

Sự hợp tác chưa mạnh mẽ giữa các bảo tàng, tổ chức văn hóa và cộng đồng địa phương cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến công tác nghiên cứu sưu tầm của hệ thống Bảo tàng. Một số người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa, dẫn đến sự tham gia hạn chế vào công tác sưu tầm.

Tác động của đô thị hóa và hiện đại hóa làm mai một nhiều giá trị văn hóa truyền thống, nhiều loại hình di sản như lễ hội, nghề thủ công đang ngày một biến mất, thêm vào đó, thế hệ trẻ ngày càng ít quan tâm đến các giá trị văn hóa truyền thống, tác động không nhỏ đến việc nghiên cứu sưu tầm của tổ chức. Chiến lược dài hạn cho công tác sưu tầm và bảo tồn văn hóa dân gian về dân tộc miền núi cũng chưa được một số Bảo tàng trong Hệ thống Bảo tàng triển khai đồng bộ cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến công tác nghiên cứu sưu tầm của hệ thống bảo tàng hiện nay.

1.2. Đề xuất giải pháp

Hệ thống bảo tàng cần xây dựng chiến lược dài hạn, có hệ thống cho công tác nghiên cứu và sưu tầm hiện vật văn hóa, văn nghệ dân gian của các dân tộc miền núi. Chính quyền và cơ quan quản lý văn hóa địa phương cần quan tâm tăng cường đầu tư tài chính và nguồn nhân lực cho các dự án sưu tầm văn hóa văn nghệ dân gian cho hệ thống bảo tàng tỉnh.

Việc sử dụng công nghệ số hóa và các thiết bị hiện đại để ghi âm, ghi hình và lưu trữ tư liệu là cần thiết. Đồng thời, cần phát triển các chính sách hỗ trợ và định hướng chiến lược rõ ràng từ cấp có thẩm quyền cho hệ thống Bảo tàng tỉnh.

Ngoài ra, hệ thống Bảo tàng tỉnh cần tổ chức các chương trình và hoạt động nhằm khuyến khích sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương vào quá trình sưu tầm và bảo tồn văn hóa địa phương. Những giải pháp này không chỉ giúp khắc phục các hạn chế hiện tại mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa văn nghệ dân gian của các dân tộc miền núi, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của văn hóa Việt Nam trong tương lai.

2. Công tác số hóa và lưu trữ tư liệu

2.1. Thách thức

Nguồn kinh phí hạn chế là một trong những thách thức lớn nhất đối với công tác số hóa và lưu trữ tư liệu về văn hóa các dân tộc miền núi tại hệ thống Bảo tàng tỉnh. Việc thiếu tài chính làm giảm khả năng đầu tư vào công nghệ hiện đại và các dự án số hóa lớn. Chỉ một số ít bảo tàng đã triển khai bước đầu trong công tác số hóa và lưu trữ tư liệu do được sự hỗ trợ tài chính của dự án quốc gia về bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, còn nhiều bảo tàng tỉnh ở Nam Trung Bộ, thiếu nguồn tài chính, ảnh hưởng lớn đến khả năng cung cấp tài nguyên và kinh nghiệm cần thiết để thực hiện các dự án số hóa. Việc tổ chức các triển lãm số, sử dụng công nghệ thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR) để giới thiệu các giá trị văn hóa dân gian một cách sinh động và hấp dẫn vẫn chưa thể tiến hành. Trong xu thế hiện nay, những triển lãm này không chỉ thu hút đông đảo khách tham quan mà còn tạo cơ hội tiếp cận văn hóa cho những người không thể đến trực tiếp.

Nhiều bảo tàng trong hệ thống Bảo tàng tỉnh không đủ trang thiết bị hiện đại để thực hiện các công tác số hóa một cách hiệu quả. Thiết bị ghi âm, ghi hình và phần mềm quản lý hiện vật chưa đáp ứng đủ yêu cầu. Việc sử dụng công nghệ lạc hậu làm giảm chất lượng và hiệu quả của quá trình số hóa, ảnh hưởng đến khả năng lưu trữ và bảo quản các tư liệu văn hóa một cách lâu dài. Sự tham gia của cộng đồng cũng chưa được đầy đủ do thiếu sự hỗ trợ và khuyến khích. Quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa đang làm cho nhiều giá trị văn hóa truyền thống dần bị mai một, dẫn đến việc thu thập và bảo tồn những giá trị này trở nên khó khăn hơn khi nhiều phong tục, tập quán và nghệ thuật dân gian đang đứng trước nguy cơ biến mất.

2.2. Đề xuất giải pháp

Hệ thống Bảo tàng tỉnh cần chủ động tranh thủ nguồn kinh phí từ các dự án bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số của Trung ương và địa phương để triển khai đồng bộ các biện pháp toàn diện nhằm thu thập, số hóa và lưu trữ tư liệu về văn hóa, bao gồm video, âm thanh, hình ảnh và tài liệu văn bản. Điều này không chỉ giúp bảo tồn thông tin lâu dài mà còn tạo điều kiện dễ dàng truy cập và chia sẻ. Xây dựng cơ sở dữ liệu trực tuyến là một phần không thể thiếu trong việc số hóa di sản văn hóa. Các cơ sở dữ liệu này cho phép công chúng và các nhà nghiên cứu dễ dàng truy cập, tìm hiểu về văn hóa, văn nghệ dân gian. Đây cũng là một công cụ hữu hiệu để quảng bá văn hóa dân gian các dân tộc miền núi hiệu quả trên các nền tảng số tại hệ thống Bảo tàng tỉnh.

Hệ thống Bảo tàng tỉnh cần chủ động phối hợp với các tổ chức, cá nhân có kinh nghiệm về nghiên cứu văn hóa dân tộc, công nghệ số,.. tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu cho nhân viên bảo tàng về kỹ năng số hóa, sử dụng công nghệ và phương pháp nghiên cứu văn hóa. Đồng thời, việc thu hút và đào tạo các chuyên gia, nhà nghiên cứu có chuyên môn cao trong lĩnh vực văn hóa dân gian và nhân học cho bảo tàng là cần thiết. Sử dụng công nghệ số hóa tiên tiến, như máy quét 3D, phần mềm quản lý hiện vật và nền tảng lưu trữ đám mây, để bảo quản và chia sẻ thông tin, cũng là một giải pháp quan trọng.

Các bảo tàng tỉnh cần chủ động liên kết và hợp tác với các bảo tàng đầu ngành về văn hóa dân tộc như Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam, và các bảo tàng khác để tham khảo cách thức quản lý và vận hành hiệu quả công tác trên. Tổ chức giao lưu văn hóa với cộng đồng địa phương, cũng như các cuộc hội thảo, tọa đàm và buổi nói chuyện chuyên đề từ các dự án cộng đồng, sẽ khuyến khích sự tham gia của người dân vào quá trình thu thập và số hóa thông tin.

Cuối cùng, cần phát động các chương trình giáo dục và truyền thông để nâng cao nhận thức của công chúng về tầm quan trọng của việc số hóa và lưu trữ văn hóa dân gian. Đồng thời, hệ thống Bảo tàng tỉnh cần phối hợp với nhà quản lý địa phương để tổ chức các chương trình hỗ trợ và khuyến khích người dân duy trì và phát triển các phong tục, tập quán và nghệ thuật dân gian của họ.

Công tác số hóa và lưu trữ tư liệu văn hóa dân gian của các dân tộc miền núi tại hệ thống Bảo tàng tỉnh là một quá trình dài hạn, đòi hỏi đầu tư lớn về tài chính, nguồn lực và công nghệ. Việc thực hiện các giải pháp nêu trên sẽ nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác này tại hệ thống Bảo tàng tỉnh, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian của các dân tộc miền núi ở Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ.

3. Hoạt động nghiên cứu và xuất bản

3.1. Thách thức

Nguồn kinh phí dành cho công tác nghiên cứu và xuất bản về văn hóa các dân tộc miền núi hệ thống Bảo tàng tỉnh hiện nay trong nhiều năm qua còn hạn chế đã cản trở việc xây dựng các chương trình, kế hoạch ngắn hạn, dài hạn cho việc tổ chức thực hiện công tác này. Hệ thống Bảo tàng tỉnh chưa có chiến lược kết nối sâu rộng với các tổ chức nghiên cứu trung ương và các nhà nghiên cứu địa phương triển khai các dự án trong lĩnh này. Nên hiện nay, các sản phẩm về nghiên cứu và xuất bản về văn hóa văn nghệ dân gian các dân tộc miền núi tại hệ thống Bảo tàng tỉnh còn hạn chế.

3.2. Đề xuất giải pháp

Nhà nước cần xây dựng các chính sách hỗ trợ đặc biệt nhằm nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu và xuất bản văn hóa các dân tộc miền núi cho hệ thống Bảo tàng tỉnh. Những chính sách này nên bao gồm các chương trình tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp các nguồn lực cần thiết cho việc nghiên cứu và bảo tồn văn hóa dân gian.

Chính quyền địa phương cần tận dụng tối đa các nguồn lực hiện có trong hệ thống Bảo tàng tỉnh, đồng thời ưu tiên công tác nghiên cứu và xuất bản về văn hóa, văn nghệ dân gian của các dân tộc miền núi. Việc này sẽ giúp hệ thống Bảo tàng tỉnh triển khai và thực hiện các dự án hiệu quả, đồng thời phát huy giá trị văn hóa dân gian một cách bền vững.

Các nhà quản lý bảo tàng cần chủ động xây dựng chiến lược dài hạn và kế hoạch cụ thể cho công tác nghiên cứu và xuất bản, đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của các hoạt động này. Tìm kiếm và huy động nguồn tài trợ từ các quỹ văn hóa và doanh nghiệp để hỗ trợ tài chính cho công tác nghiên cứu và xuất bản. Đặc biệt, cần triển khai các nghiên cứu chuyên đề về văn hóa của các dân tộc miền núi, bao gồm trang phục dân tộc, nghề thủ công truyền thống, lễ hội tiêu biểu, tiếng nói và chữ viết,... Những nghiên cứu này không chỉ làm rõ giá trị văn hóa mà còn cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị đó.

Công tác nghiên cứu và xuất bản văn hóa các dân tộc miền núi là nhiệm vụ quan trọng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Việc thực hiện các giải pháp trên sẽ nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác này, đồng thời góp phần bảo tồn và phát triển bền vững văn hóa của các dân tộc miền núi tại Quảng Ngãi và khu vực Nam Trung Bộ.

4. Hoạt động Trưng bày và triển lãm

4.1. Thách thức

Bên cạnh một số Bảo tàng trong hệ thống Bảo tàng tỉnh có hệ thống trưng bày cố định về văn hóa các dân tộc miền núi thu hút, hấp dẫn, thì vẫn còn một số Bảo tàng trong hệ thống này với hệ thống trưng bày cố định hiện đang gặp một số vấn đề. Nhiều trưng bày đã trở nên cũ kỹ và lạc hậu, xuống cấp cùng với diện tích trưng bày hạn chế và thiếu trang thiết bị hiện đại. Hệ thống chiếu sáng chưa được tối ưu hóa và thiếu tính hệ thống, dẫn đến việc du khách khó tiếp cận và hiểu rõ giá trị văn hóa của các hiện vật. Các hình thức trưng bày truyền thống như tủ kính và bảng chú thích vẫn chiếm ưu thế, trong khi các phương pháp trưng bày hiện đại và tương tác như màn hình cảm ứng, phim ảnh và âm thanh chưa được áp dụng rộng rãi. Điều này khiến việc tham quan bảo tàng trở nên thụ động và kém hấp dẫn, làm giảm hiệu quả trong việc phát huy giá trị văn hóa dân gian của các dân tộc miền núi.

Nguồn kinh phí hạn chế trong nhiều năm, thiếu những dự án chỉnh lý quy mô lớn mang tính tổng thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tổ chức lại trưng bày cố định và các triển lãm chuyên đề và lưu động chất lượng cao cũng như duy trì hoạt động này thường xuyên. Việc ứng dụng công nghệ mới như thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) và số hóa trong trưng bày còn hạn chế, làm giảm khả năng thu hút và tương tác với người xem. Nhiều bảo tàng chưa có chiến lược quảng bá hiệu quả, dẫn đến việc triển lãm chưa thu hút được đông đảo công chúng. Hơn nữa, việc tổ chức triển lãm lưu động và tiếp cận cộng đồng vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện giao thông và nguồn kinh phí hạn chế.

4.2. Đề xuất giải pháp

Chính quyền địa phương cần quan tâm, có chính sách hỗ trợ đặc biệt cho công tác trưng bày cố định cho hệ thống Bảo tàng tỉnh, bao gồm các dự án đầu tư, chương trình tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật,…

Các nhà quản lý Bảo tàng tỉnh cần xây dựng chiến lược dài hạn và kế hoạch cụ thể cho công tác trưng bày và triển lãm, đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của các hoạt động này, mở rộng mối quan hệ, tìm kiếm và huy động nguồn tài trợ từ các tổ chức trong và nước ngoài, các quỹ văn hóa và các doanh nghiệp để hỗ trợ tài chính cho công tác trưng bày và triển lãm đảm bảo tính hiện đại, thu hút công chúng. Tạo điều kiện và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc tổ chức và tham gia triển lãm. Các nghệ nhân và người dân có thể tham gia vào các hoạt động như triển lãm, hội thảo và các sự kiện văn hóa tại bảo tàng.

Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho nhân viên bảo tàng về kỹ năng tổ chức triển lãm hiện đại. Đầu tư vào các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác trưng bày. Sử dụng công nghệ số hóa để tạo ra các triển lãm ảo, cho phép người xem có thể truy cập và trải nghiệm triển lãm từ xa thông qua internet. Các bảo tàng cần ứng dụng công nghệ VR và AR để tạo ra các trải nghiệm trưng bày sinh động và tương tác, giúp người xem cảm nhận sâu hơn về văn hóa các dân tộc miền núi.

Công tác trưng bày và triển lãm là một nhiệm vụ quan trọng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc miền núi. Việc thực hiện các giải pháp trên sẽ giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác này, đồng thời góp phần bảo tồn và phát triển bền vững văn hóa, văn nghệ dân gian của các dân tộc miền núi.

5. Hoạt động giáo dục và truyền thông

5.1. Thách thức

Nguồn kinh phí hạn chế khiến nhiều bảo tàng gặp khó khăn trong việc tổ chức các chương trình giáo dục và truyền bá văn hóa một cách có hệ thống theo một chiến lược dài hạn, bài bản. Thiếu đội ngũ cán bộ có chuyên môn sâu và kinh nghiệm trong công tác tổ chức các chương trình giáo dục và truyền bá văn hóa dân gian. Nhiều bảo tàng thiếu các trang thiết bị hiện đại, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của các chương trình giáo dục. Việc ứng dụng công nghệ số và các phương tiện truyền thông hiện đại trong công tác truyền bá văn hóa chưa được đầu tư đúng mức. Các chương trình giáo dục và truyền bá văn hóa chưa tiếp cận được đủ sâu vào cộng đồng, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa.

5.2. Đề xuất giải pháp

Hệ thống Bảo tàng tỉnh cần xây dựng chiến lược dài hạn và kế hoạch cụ thể cho công tác giáo dục và truyền bá văn hóa, đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của các hoạt động này. Tăng cường nguồn kinh phí cho hoạt động này, đảm bảo hoạt động hiệu quả.

Hệ thống Bảo tàng tỉnh cần được đầu tư vào các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác giáo dục và truyền bá văn hóa. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa để lưu trữ, quản lý và chia sẻ thông tin một cách hiệu quả. Tạo điều kiện và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương, nhất là đối tượng giáo viên, giảng viên chuyên ngành xã hội của các trường trên địa bàn tỉnh, thành phố trong việc tổ chức và tham gia các chương trình giáo dục và truyền bá văn hóa.

Công tác giáo dục và truyền bá văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc miền núi tại hệ thống Bảo tàng tỉnh là một nhiệm vụ quan trọng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Việc thực hiện các giải pháp trên sẽ giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác này, đồng thời góp phần bảo tồn và phát triển bền vững văn hóa dân gian của các dân tộc miền núi của địa phương.

6. Hệ thống Bảo tàng tỉnh trong kỷ nguyên công nghiệp hóa văn hóa

Công nghiệp hóa văn hóa[2] mở ra những thách thức và cơ hội mới cho lĩnh vực văn hóa, trong đó có các Bảo tàng. Trong đời sống hiện đại, văn hóa nói chung, văn hóa các dân tộc miền núi ở tỉnh Quảng Ngãi và Nam Trung bộ nói riêng không chỉ là giá trị tinh thần mà còn cần tham gia vào thị trường du lịch, tạo ra giá trị kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển xã hội. Với tài nguyên của mình, hệ thống Bảo tàng tỉnh đóng vai trò là cầu nối quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng, chính quyền địa phương và các công ty du lịch.

Bước đầu gợi mở một số hoạt động sau: Bảo tàng tỉnh cần hoàn thiện hệ thống trưng bày cố định trong đó cố mảng trưng bày giới thiệu về văn hóa dân tộc miền núi của địa phương và các sản phẩm có liên quan hiện đại, thu hút; tổ chức các chương trình giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ di sản văn hóa, bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững; cung cấp thông tin, hiện vật và hình ảnh về di sản văn hóa dân tộc miền núi cho các công ty du lịch để xây dựng các chương trình du lịch hấp dẫn; quảng bá các điểm du lịch văn hóa, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh của địa phương đến du khách; hỗ trợ tổ chức các lễ hội, tổ chức trưng bày về văn hóa dân tộc thu hút du khách đến tham quan và trải nghiệm; tư vấn cho chính quyền địa phương trong việc quy hoạch các tuyến điểm du lịch gắn liền với di sản văn hóa và thiên nhiên vùng miền núi, phát triển các loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa cộng đồng, du lịch trải nghiệm; hỗ trợ đào tạo thuyết minh viên, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch gắn liền với bản sắc văn hóa địa phương.

Với sự chung tay góp sức của các bên liên quan, hệ thống Bảo tàng tỉnh có thể phát huy hiệu quả vai trò của mình trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa, thúc đẩy du lịch bền vững, và góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương nâng cao đời sống cộng đồng một cách bền vững.

Kết luận

Hệ thống Bảo tàng tỉnh đóng vai trò trung tâm trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số tại địa phương. Nhờ áp dụng các biện pháp bảo tồn hiện đại và đổi mới phương thức hoạt động, hệ thống Bảo tàng tỉnh đang và sẽ trở thành cầu nối quan trọng trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và hỗ trợ tạo ra các hoạt động kinh tế bền vững. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số tại hệ thống Bảo tàng tỉnh cần được quan tâm hơn nữa của Chính quyền các cấp trong việc tăng cường đầu tư, cung cấp nguồn lực cho hoạt động bảo tồn, nghiên cứu và giáo dục di sản văn hóa; Hệ thống Bảo tàng tỉnh cần đổi mới sáng tạo trong việc ứng dụng công nghệ, đa dạng hóa hình thức trưng bày, tổ chức các hoạt động trải nghiệm để thu hút du khách và nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường kết nối cộng đồng, các tổ chức kinh tế, hỗ trợ địa phương, góp phần mang lại lợi ích cho xã hội.

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc miền núi ở tỉnh Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Với sự chung tay của chính quyền các cấp, hệ thống Bảo tàng tỉnh và cộng đồng, di sản văn hóa các dân tộc miền núi sẽ được gìn giữ và phát huy, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam đa dạng và bản sắc.



Tài liệu tham khảo



1. Di sản văn hóa và các vấn đề liên quan - Thuật ngữ và định nghĩa chung, Tiêu chuẩn Việt Nam 10382:2014, Hà Nội, 2014.

2. Cục Di sản văn hóa (2021), Tài liệu Tập huấn và Hội thảo khoa học ngành Di sản văn hóa năm 2021, Hải Phòng.

3. Nguyễn Thị Huệ chủ biên (2011), Giáo trình sưu tầm hiện vật Bảo tàng, Nxb. Lao động, Hà Nội.

4. Vương Hoằng Quân chủ biên (2008), Cơ sở Bảo tàng học Trung Quốc, Nguyễn Duy Chiếm, Nguyễn Thị Hường dịch, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

5. T.Imothy Ambrose và Crispin Paine (2000), Cơ sở Bảo tàng, Lê Thị Thúy Hoàn dịch, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Hà Nội.

6. Gary Edson, David Dean (2001), Cẩm nang bảo tàng, Lê Thị Thúy Hoàn dịch, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Hà Nội.




[1] Khoản 16 Điều 4 Luật di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:

Bảo tàng là thiết chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng.

- Theo André Desvallées and François Mairesse, Những khái niệm cơ bản về bảo tàng học, Nguyễn Thị Thu Hương dịch, Phạm Lan Hương hiệu đính, Cục Di sản văn hóa, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2021, tr.55, 26:

“Bảo tàng là một tổ chức phi lợi nhuận, phục vụ xã hội và sự phát triển của xã hội đó, mở cửa cho công chúng. Bảo tàng thu mua, giữ gìn, nghiên cứu, liên lạc, và trưng bày các hiện vật vì mục đích giáo dục, thưởng thức những di sản vật thể và phi vật thể của con người và môi trường xung quanh con người”.


[2] Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 tại Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã nêu ró nhiệm vụ về phát triển công nghiệp văn hóa.

Ngày 08/9/2016, Chính phủ ban hành “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030” đã thúc đẩy phát triển 12 lĩnh vực: Quảng cáo; Kiến trúc; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Thủ công mỹ nghệ; Thiết kế; Điện ảnh; Xuất bản; Thời trang; Nghệ thuật biểu diễn; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Du lịch văn hóa.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...