Thứ Hai, 12 tháng 8, 2024

TƯỞNG NHỚ VỀ GIÁO SƯ NGUYỄN TÀI CẨN (GS.TS. Đoàn Thiện Thuật)

Thầy Cẩn là là một trong những người khai sáng môn Ngôn ngữ học ở nước ta. Thầy được nhà nước cử làm chuyên gia Việt ngữ tại Liên xô. Thầy là người Việt đầu tiên bảo vệ luận án Phó tiến sĩ (nay ta gọi là Tiến sĩ trong thế đối lập với Tiến sĩ Khoa học) tại ĐH Leningrad về Ngôn ngữ học, với đề tài “Từ loại Danh từ tiếng Việt".

Trong số những người học thầy về Tiếng Việt, có 1 thiếu nữ xinh đẹp yêu thầy và sau trở thành phu nhân của thầy, đó là cô Nonna Stankevich mà đã theo thầy sang VN. Ở đây bà đã viết luận án Tiến sĩ về tiếng H Mông Dao và đã cùng thầy giảng dạy tại Khoa Văn ĐHTH Hà Nội.

Khi thầy Cẩn ở Liên xô đã tìm đọc nhiều tài liệu viết về Trung quốc và 1 số nước đông – nam Á. Khi về VN thầy dạy ở Khoa Văn, làm Trưởng bộ môn Ngôn ngữ học. Cứ 1, 2 tuần lại có 1 buổi thuyết trình, trong đó thầy trình bầy các các tài liệu đã thu lượm được cho anh chị em trong Khoa. 

Hồi đó Gs Ngụy Như Kontum làm Giám đốc Trường ĐHTH. Gs tuy học ở Tây về, nhưng không khệ nệ mà xông xáo việc công. Ông đi xuống từng Khoa để kiểm tra công việc giảng dạy. Đến Khoa Văn ông được biết số giờ lên lớp và thuyết trình của thầy Cẩn, ông kết luận đây là 1 Ngành chứ không phải là 1 Bộ môn và Ngành Ngôn Ngũ học được thành lập từ đó trong Khoa Văn. Hồi đó Gs Hoàng Xuân Nhị làm Chủ nhiệm Khoa. Gs nói “Cẩn nó lừa mình".

Thầy Cẩn say mê nghiên cứu nên rất bận, tôi được cử làm trợ lý cho thầy và do đó gần gũi với thầy hơn các bạn cùng khóa. Thầy kể cho tôi nghe nhiều chuyện trong đó có 1 chuyện như sau: Khi ở Liên xô có 1 lần gia đình của vị đại sứ Liên xô từ Trung quốc về nước được người ta tặng 10 thang thuốc đông y. Gia đình nhờ thầy Cẩn xem là thuốc gì. Thầy mở ra, nhặt từng vị và nói rõ tác dụng của nó : Hà thủ ô vị ngọt đắng dành cho người thiếu máu, Đẳng sâm và Bạch truật chống đông máu. Cam thảo vị ngọt đi cùng các vị khác để cho dễ uống, vân vân ... Đến hôm sau có 1 vị dạy học ở Đại học Leningrad hỏi thầy rằng ở Khoa Văn VN người ta dạy cả Y dược à. Thầy Cẩn phải nói rõ là không phải thế, chẳng qua là VN và Trung quốc có những nét tương đồng về văn hóa nên mọi người đều biết các vị thuốc như tôi.

Trong thời gian chiến tranh trường sơ tán lên Đại từ (Thái nguyên) mọi người vào ở nhà dân, Thầy Cẩn mua 1 căn nhà nhỏ lợp tranh giá rẻ thôi để gia đình trú ngụ. Một buổi chiều gần tối cụ thân sinh ra thầy đi tè ở hàng rào. Đối với người phương Tây thì thật kỳ dị. Thầy Cẩn biết điều đó nên hôm sau thầy cũng ra tè như thế, ngầm chỉ rằng việc đó là bình thường.

Thầy Nguyền Tài Cẩn đã có công trình xuất bản về “Ngữ pháp tiếng Việt“ (trong đó những đơn vị chủ chốt là Tiếng, Từ ghép, Đoản ngữ.) Rồi sau đó đến “Cách đọc Hán Việt.” Nay thầy muốn nghiên cứu về lịch tiếng sử tiếng Việt, ngữ âm tiếng Việt. Gs Haudricourt, đảng viên Đảng Xã Hội Pháp, rất yêu mến Việt Nam và đã sang ta nhiểu lần. Gs gợi ý là ở VN có nhiều dân tộc nên căn cứ vào đó mà tìm hiểu Lịch sử tiếng Việt. Thầy Cẩn suy nghĩ và quyết định nghiên cứu tiếng Mường Thanh Hóa ( tôi đã đưa ra 2 ảnh, trong đó có thầy Cẩn cùng tôi đi nghiên cứu tiếng Mường huyện Ngọc Lặc – Thanh Hóa ) và cuối cùng đã có 1 sách xuất bản với nhan đề “ Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt (Sơ thảo ) “. Thầy đã cho biết “ Lai nguyên của hệ thống âm đầu, vần, thanh điệu tiếng Việt, quá trình biến đổi qua từng thời kỳ : Proto Việt – Chứt > Proto Việt – Mường > Tiếng Việt Sơ kỳ > Tiếng Việt hiện đại “

Thầy Cẩn là 1 người sắc xảo nhanh nhẹn và tháo vát. Trong 1 lần đi nghiên cứu ở Thanh hóa khi đi qua 1 cửa hàng lò rèn có bày bán mấy con dao thầy mua ngay một con dài chừng độ 30cm. Tôi hỏi thầy tại sao lại mua dao để làm gì. Thầy bảo dao ở đây tốt lắm vì đông bào miền núi đem về dùng, nếu sứt mẻ là họ đem trả lại. Chưa xong, Thầy cầm dao đi qua 1 bụi tre, thầy chặt 1 khúc tre non dài độ 40cm, rồi bổ dọc, quấn dây bên ngoài thành 1 cái vỏ, như vỏ kiếm và đeo ngay bên mình.

Tôi còn nhớ câu chuyện vể từ Hán Việt và từ thuần Việt. Khi chỉ 1 bộ phận của cơ thể, từ cổ trở lên ta vẫn gọi là Đầu. Thực ra đấy là từ Hán Việt, dùng lâu quen đi và tưởng là từ Việt. Từ gốc Việt là Trốc (tiếng Mường là Tlook) : Thằng bé bị bệnh trốc bôi thuốc xanh lè. Chùm chìa khóa tôi để trên trốc tủ.

Người Việt sử dụng từ của Trung quốc từ đời Đường. Sau khi ta dành được độc lập tiếng Hán của Trung quốc biến đổi theo quy luật riêng của nó, còn ở VN thì giữ lại những nét xưa và biến đôi theo quy luật riêng của mình. Vì vậy ta có những cặp từ như GÚA BỤỘ và QUẢ PHỤ, MÙI và VỊ …
Do đó mới phân chia ra những từ Tiền Hán Việt và Hán Việt, chẳng hạn BUỒNG và PHÒNG : Nhà tôi trên gác có 3 buồng. Nhưng khi nói về đơn vị hành chính thì lại nói : Anh ấy được đề bạt làm Trưởng phòng.

Thầy Cẩn công bố cuồn Ngữ pháp với nội dung : Tiếng / Từ ghép / Đoản ngữ. Đó là 3 then chốt của Ngữ pháp tiếng Việt.

Cuốn “ Ngữ Pháp tiếng Việt “ như đã nói ở trên “ cùng với “ Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt ( Sơ thảo ) và “ Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Cụm 3 công trình này đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ.

Thầy được phong học hàm Giáo sư đợt I và sau đó là danh hiệu Nhà Giáo Nhân dân

Những năm cuối đời thầy cùng vớí cô Nonna về Liên xô và mất tại Moskva. Sau hỏa táng lọ tro được con trai đưa về VN . Lễ viếng tại Hà Nội. Tôi có đến dự và trao 1 bức trướng tưởng nhớ tới người. Sau đó lọ tro được mang về quê nhà ở Nghệ An. UBND tỉnh chỉ đạo tổ chức tang ma chu đáo, nhân dân đi dự rất đông.

Viết về Thầy, tôi khâm phục một nhà nghiên cứu lỗi lạc và cũng tự hào là đã may mắn có dịp được cùng thầy đi nghiên cứu chung.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...