Thứ Hai, 12 tháng 8, 2024

KHÔNG GIAN VĂN HÓA LỄ HỘI ĐỔ GIÀN ĐẶC TRƯNG VÀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI (TS. Nguyễn Thị Thanh Xuyên - ThS. Nguyễn Thị Thanh Trà)

Giới thiệu

Với tính chất lễ hội cộng đồng có dấu ấn quan trọng trong đời sống của người dân ở thị tứ An Thái, lễ hội Đổ giàn phản ánh không gian văn hóa đa tộc người, thể hiện tinh thần đoàn kết giữa cộng đồng người Việt và người Hoa qua thời gian lịch sử lâu dài. Hiện nay, lễ hội Đổ giàn không còn được tổ chức ở An Thái, song những dư âm của lễ hội này vẫn tồn tại trong kí ức của người cao tuổi để nhắc nhở về nét đẹp văn hóa và đoàn kết tộc người. 

Do vậy, bài viết này cung cấp kết quả khảo cứu về không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn với các đặc trưng truyền thống và biến đổi. Nghiên cứu này nhận định rằng không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn là một khái niệm có tính chất bao trùm với nhiều hợp phần có tính chất liên kết như diễn trình lễ hội Đổ giàn, các hoạt động trong lễ hội, hoạt động trò chơi dân gian, hát bội, không gian văn hóa của người Hoa và người Việt gắn với thiết chế tín ngưỡng, tôn giáo, không gian văn hóa gắn với yếu tố võ thuật.

Thông qua phỏng vấn hồi cố, khảo sát cơ sở thờ cúng tại thị tứ An Thái và nghiên cứu tài liệu thứ cấp, bài viết này phân tích bối cảnh lịch sử, tộc người và không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn dưới góc nhìn truyền thống và biến đổi, nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho hoạt động phục hồi lễ hội Đổ giàn.

Bối cảnh lịch sử: địa bàn xã Nhơn Phúc gần với trung tâm của kinh đô vương quốc Champa vào thời kỳ Vijaya, sau quá trình nam tiến, người Việt đã khai phá vùng đất Nhơn Phú phì nhiêu, màu mỡ trở thành nơi sản xuất nông nghiệp trù phú. Xã Nhơn Phú có một vị thế quan trọng trên con đường giao thương Đông - Tây, đặc biệt là dòng sông Côn không những mang lại nguồn nước dồi dào cho đồng ruộng mà còn là tuyến đường thông thường giữa miền núi và đồng bằng, kết nối các dân tộc ít người với người Kinh trong quá trình trao đổi hàng hóa, nguyên liệu. Trên dòng chảy xuôi về đầm Thị Nại, sông Côn đi qua bến An Thái (thị tứ An Thái, Nhơn Phúc), rồi đến bến Đập Đá, Cảnh Hàng, Nước Mặn (Gò Bồi) tạo nên tuyến đường giao thương tấp nập. 

Như vậy, thị tứ An Thái trong lịch sử là một trong những điểm giao thương quan trọng, gần với vùng nguyên liệu ở miền núi, đồng thời, sản vật nông nghiệp và hàng hóa tiểu thủ công nghiệp qua bến An Thái cũng hòa vào dòng chảy thương mại đến những nơi khác. Vị trí đắc địa này là cơ sở để thị tứ An Thái hội tụ nhiều dòng người di dân thuộc các tộc người khác nhau trong và ngoài nước. Từ thế kỉ XVII trở đi, người Hoa di cư đến Đàng Trong để buôn bán, họ dừng chân tại Hội An, Huế, Qui Nhơn, Nha Trang và góp phần tạo nên sự phồn thịnh cho các cảng thị và thị tứ nơi đây. Người Hoa thường buôn bán và tụ cư ở các khu vực gần biển hoặc trung tâm phố thị. Ngày nay, di tích của người Hoa còn để lại ở khu vực gần cảng biển Qui Nhơn, Gò Bồi, Đề Gi, Kim Bồng, hình thành cộng đồng người Minh Hương với đặc trưng văn hóa, tín ngưỡng riêng. Đặc điểm tụ cư và hoạt động sinh kế của người Hoa Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam di cư đến Việt Nam vào các giai đoạn khác nhau (từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XX) đều liên quan đến khu vực có lợi thế về giao thương, buôn bán. 

Tuy nhiên, người Hoa di cư đến An Thái buôn bán và lập thị tứ là đặc điểm khác biệt so với nhiều điểm tụ cư khác. Điều đó cho thấy vào thời điểm người Hoa (Minh Hương) di cư đến Bình Định, dòng sông Côn là tuyến đường giao thương cực kì quan trọng bậc nhất, do đó, người Hoa ngược dòng sông Côn và dừng chân tại An Thái để phát triển thương nghiệp, hàng hóa và khai hoang đất đai trồng trọt. Như vậy, bên cạnh vị trí đắc địa của An Thái về giao thương, buôn bán, có thể phỏng đoán được khu vực này gần vùng nguyên liệu hoặc cộng đồng người Hoa đến An Thái cũng có thành phần là nông dân.

Người Việt và người Hoa di cư đến An Thái vào những thời điểm khác nhau. Người Việt thuộc các dòng họ Nguyễn, Hồ, Lê di cư đến lập nghiệp vào thế kỉ XVI, sau đó người Hoa thuộc nhiều dòng họ khác nhau như Lâm, Đường, Quách, Diệp, Lữ, Trịnh…di cư đến từ thế kỉ XVII và kéo dài đến thế kỉ XX. Lớp người Hoa đến từ thế kỉ XVII tự gọi mình là người Minh Hương. Những dòng họ người Hoa này cùng với người Việt tại đây góp phần tạo nên sự phát triển của thị tứ An Thái vào thế kỉ XVIII. Sau này, vào thế kỉ XX, một người Hoa là ông Diệp Trường Phát đã phát huy tinh thần thượng võ của vùng đất An Thái và xây dựng nên trường phái võ học độc đáo.

Sự tiếp nối không gian văn hóa Việt - Hoa: Bên cạnh sự đóng góp của người Hoa đối với phát triển giao thương, buôn bán ở thị tứ An Thái, một khía cạnh khác là văn hóa và tín ngưỡng của người Hoa cũng thể hiện giá trị đặc sắc ở vùng đất mới. Khi di cư đến vùng đất mới, thiết chế tâm linh tín ngưỡng là nền tảng nuôi dưỡng đời sống tinh thần, đồng thời là cơ sở hội tụ, tập hợp cộng đồng. Cơ sở tín ngưỡng quan trọng và phổ biến của người Hoa được gọi là chùa Bà, chùa Ông[1] và các miếu thờ thần linh. Đây là hệ thống tín ngưỡng thờ đa thần của người Hoa với một số vị thần tiêu biểu như Thiên hậu Thánh mẫu, Quan công… 

Bên cạnh đó, một số cơ sở tín ngưỡng cũng là hội quán của người Hoa, tập trung và hội họp các dòng họ người Hoa đến từ các địa phương khác nhau, vì vậy, mỗi cơ sở tín ngưỡng hoặc hội quán tương ứng với nhóm phương ngữ đặc trưng đến từ Phúc Kiến, Hải Nam, Quảng Đông, Triều Châu. Song song với hệ thống tín ngưỡng của người Hoa, người Việt cũng thiết lập các cơ sở tín ngưỡng như chùa Phổ Tịnh, miếu thờ thần linh theo tín ngưỡng dân gian. Trải qua thời gian cộng cư và giao lưu văn hóa, người Việt tiếp nhận các thành tố tín ngưỡng của người Hoa. Do đó, chúng tôi cho rằng lễ hội Đổ giàn ở An Thái là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về tiến trình giao lưu tiếp biến văn hóa Hoa - Việt. Đồng thời, lễ hội Đổ giàn cũng thể hiện sự dung hợp giữa các loại hình tôn giáo tín ngưỡng đa dạng ở An Thái.

1. Không gian văn lễ hội Đổ giàn

1.1. Không gian văn hóa của người Hoa và người Việt

Không gian văn hóa và thiết chế tín ngưỡng của người Hoa

Ngũ bang Hội quán: là nơi tập hợp của nhóm người Hoa thuộc bốn nhóm phương ngữ Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và người Minh Hương. Hội Quán được xây dựng vào năm 1873 và trùng tu, tái kiến tạo vào năm 1933 nhằm mở rộng hội quán về hướng Đông và Tây để mở lớp dạy tiếng Hoa phổ thông và tiếng Việt. Ngũ bang hội quán có kiến trúc độc đáo, vừa có dáng dấp của ngôi đình dân gian của người Việt (ngôi miếu ba gian, hàng cột gỗ và vì kèo, cửa gỗ màu nâu giản dị, không sơn son thiếp vàng) vừa có hình ảnh một ngôi đền/miếu của người Hoa. Thông thường, ngôi miếu của người Hoa có kiến trúc gồm 3 phần chính: tiền điện, hậu điện, giữa hai phần này có một khoảng trống gọi là sân thiên tỉnh. Ngũ bang hội quán cũng có thiết kế tương tự, bao gồm tiền điện (hiện nay để tượng thờ ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ), tiếp đến là sân thiên tỉnh, hai bên sân thiên tỉnh được xây kết nối tiền điện và hậu điện, ở giữa sân thiên tỉnh đặt lư hương và tảng đá quý hiếm được cho là của người Chăm để lại, từ tiền điện đi vào phía bên trái sân thiên tỉnh là nơi thờ cô hồn, phía bên phải là các phòng dạy học tiếng Hoa và tiếng Việt (hiện nay sử dụng làm kho chứa). Nội điện có ba cung thờ, trung tâm là cung thờ của Thiên hậu Thánh mẫu, hai bên là ông Tiêu và ông Bổn, cùng các gian thờ khác, phía trước là bàn thờ Hội đồng. Ngũ bang hội quán là nơi diễn ra lễ hội Đổ giàn trong quá khứ. 

Đây không chỉ là thiết chế tín ngưỡng mà còn là nơi hội họp bàn bạc công việc, dạy học, khai mở dân trí và trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống của người Hoa. Hiện nay, tại Ngũ bang hội quán chỉ còn duy trì các nghi lễ vía Thiên hậu Thánh mẫu và các vị thần khác, cùng các nghi thức tế lễ vào đầu năm, cuối năm. Lễ hội Đổ giàn được phục dựng gần đây nhất là vào năm 2005 và vắng bóng cho đến nay. Một số hoạt động như cúng dường, tu bổ miếu vẫn còn duy trì nhằm thể hiện tinh thần gắn bó và đoàn kết của cộng đồng người Việt gốc Hoa.

Chùa Bà An Hòa (chùa Bà trước, phân biệt với miếu Bà Hỏa, thường gọi là chùa Bà sau): người Minh Hương xây dựng vào năm 1760, phụng thờ Thiên hậu Thánh mẫu, Bà Chúa khai sinh bảo sản và các vị khác như ngài Quan Công, Quan Bình, Châu Thương. Các dòng họ người Hoa như Lâm, Quách, Trịnh có công lao đóng góp xây dựng ngôi miếu này. Ngôi miếu thể hiện dấu ấn giao lưu văn hóa với người Việt. Hiện nay, ngôi miếu này vẫn được bảo quản rất tốt, diễn ra hoạt động nghi thức, tế lễ quanh năm như lễ cúng giao thừa, lễ cúng xổ trường, lễ vía Thiên hậu Thánh mẫu và Cửu thiên Huyền nữ; lễ vía các vị nam thần và sự tích đào viên kết nghĩa, lễ cúng chủ thánh Triều Thiên. Các yếu tố văn hóa truyền thống của người Hoa được truyền tải thông qua các hoạt động nghi lễ, thể hiện tinh thần nhân văn và tính cố kết cộng đồng.

Chùa Ông: Xây dựng vào năm 1919 do các dòng họ người Hoa là Tạ, Thái, Diệp quyên góp xây dựng. Đây là ngôi miếu có phong cách đặc trưng của người Hoa, bao gồm tiền điện, cung thiên tỉnh và hậu điện. Trong hậu điện thờ Quan Thánh Đế Quân, hai bên tả hữu là Tả Long và Hữu Bạch Hổ, phía trước là bàn thờ Hội Đồng. Ngôi miếu lưu giữ thập bát binh khí mang tính biểu tượng của tinh thần thượng võ, được sử dụng trong các lễ rước giúp gia tăng khí thế và tính chất nghiêm trang, hoành tránh của buổi lễ.

Không gian văn hóa và thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt

Chùa Phổ Tịnh: xây dựng vào năm 1850 theo truyền thống Đại Thừa, tôn thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Tam Thế Phật, các vị Bồ Tát như Di Lặc Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng vương Bồ Tát. Phong cách tượng thờ Phật và Bồ Tát như trên thường xuất hiện ở các ngôi chùa theo Đại Thừa của người Việt. Đặc biệt vào rằm tháng 7 âm lịch, nhà chùa tổ chức nghi lễ và các hoạt động phật sự theo truyền thống. Các sư thầy chùa Phổ Tịnh có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tổ chức lễ hội Đổ giàn, điều này cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa tín ngưỡng dân gian và Phật giáo, thể hiện tinh thần giao lưu tiếp biến văn hóa và dung hợp tôn giáo của người Hoa và người Việt tại thị tứ An Thái.

Không gian văn hóa gắn với yếu tố võ thuật: Truyền thống thượng võ của người dân An Thái là một trong những nét văn hóa nổi bật, có tính kết nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa tư tưởng và tinh thần quật cường phục vụ lý tưởng bảo vệ quê hương, đất nước. Một trong những vị anh hùng đã hun đúc tinh thần thượng võ và đào tạo bậc hiền tài giúp dân cứu nước là thầy giáo Trương Văn Hiến, thầy dạy võ cho ba anh em nhà Tây Sơn. Từ đây mạch ngầm văn hóa võ thuật của người dân An Thái được phát huy và trở thành dấu ấn văn hóa riêng “Roi Thuận Truyền, quyền An Thái”. Tinh thần thượng võ của người Việt giao hòa với người Hoa di cư đến vùng đất này, để rồi tiếp tục phát triển đến đỉnh cao võ thuật, tiêu biểu là các võ đường vẫn còn tồn tại và hoạt động cho đến ngày nay.

Nhìn chung, tại thị tứ An Thái xưa và nay, không gian văn hóa, thiết chế tín ngưỡng của người Hoa và người Việt đã có sự giao thoa, cùng chung sống và phát triển. Không gian văn hóa hữu hình của lễ hội Đổ giàn được xác định là không gian liên kết giữa các thiết chế tín ngưỡng của người Hoa và người Việt, không gian gắn kết với các hoạt động rước Phật, rước nước, không gian của trò chơi dân gian, diễn xướng liên quan. Không gian văn hóa - tâm linh là không gian có tính chất lan tỏa, kết nối cộng đồng tộc người liên quan đến hoạt động lễ hội và tín ngưỡng.

Những giá trị văn hóa độc đáo của hai tộc người tích hợp trở thành lễ hội Đổ giàn độc đáo, riêng biệt và hiếm có trên nền tảng tương trợ, cộng sinh và gắn kết qua thời gian dài. Bên cạnh đó, tôn giáo và tín ngưỡng cũng có sự hỗ trợ, ảnh hưởng lẫn nhau và cùng phát triển. Vì vậy, việc khẳng định giá trị văn hóa của lễ hội Đổ Giàn có ý nghĩa soi chiếu mạch ngầm văn hóa truyền thống tộc người nhằm tôn vinh, phục dựng và quảng bá giá trị tốt đẹp đã phai tàn theo năm tháng.

1.2. Lễ hội Đổ giàn

Lễ hội Đổ giàn được tổ chức định kỳ 4 năm/ lần vào trung tuần tháng 7 âm lịch của các năm Tỵ, Dậu, Sửu tại Ngũ bang Hội quán. Giả thuyết nguồn gốc của lễ hội Đổ giàn được cho rằng có liên quan đến tiền thân của Ngũ bang Hội quán vốn là miếu thờ Tiêu Diện đại sĩ (dân gian gọi là ông Tiêu), một vị hộ pháp có công hạnh hàng phục ma quỷ và cứu độ chúng sinh. Do đó, nguồn gốc của lễ hội Đổ giàn có thể liên quan đến nghi thức phụng thờ Tiêu Diện và nghi lễ cúng cầu siêu các vong linh, cô hồn vào tháng 7 âm lịch. Sau này, đến thời Tây Sơn, tinh thần thượng võ phát huy trong lễ hội Đổ giàn thể hiện qua thi đua giật lấy cờ phướn và đầu heo. Mặc dù chỉ là giả định nhưng điều này phản ánh sự kế thừa văn hóa của người Hoa và người Việt, các tôn giáo tín ngưỡng khác nhau. Từ ngôi chùa thờ Tiêu Diện cho đến miếu thờ Thiên hậu Thánh mẫu, từ nghi lễ siêu độ vong linh vào rằm tháng 7 cho đến nghi thức “xô cổ, đổ giàn” và sau này là lễ hội Đổ giàn, thể hiện sự kế thừa và tái kiến tạo nghi thức/ nghi lễ phù hợp với đời sống và nhu cầu của cộng đồng.

Tiến trình nghi lễ/ lễ hội Đổ giàn:

Tùy từng thời điểm và khả năng kinh phí, lễ hội Đổ giàn có thể diễn ra trong thời gian 3 ngày (Đại đàn) hoặc 2 ngày (Trung đàn), do đó, cần thiết lập Ban Tổ chức và phân công nhiệm vụ, bao gồm Ban tế lễ (Chánh tế, bồi bái) và những vị trí phụ trách các hoạt động trong tiến trình nghi lễ như người trang trí và đổ giàn, hậu cần, phụ trách trai đàn, rước hương, phụ trách tài chính và tiếp tân, phụ trách đội lân… Hoạt động trang trí lễ hội diễn ra trước chánh điện Ngũ bang Hội quán, bao gồm trần thiết hương đèn và trang trí khán đài đặt giàn cỗ (bánh, gạo, muối, thịt heo) do các các gia đình dâng cúng.

Tiến trình nghi lễ Đổ giàn gồm chín giai đoạn chính và xây chầu hát bội. Chín giai đoạn chính bao gồm: Ngày đầu tiên: i) lễ cúng ngọ (cúng chay), ii) lễ rước nước, iii) lễ rước cổ, iv) rước đèn múa lân. Ngày thứ hai: v) lễ rước hương. Ngày thứ ba: vi) chưng cộ đất, vii) đăng đàn chẩn tế; viii) phóng sinh; xix) hội đổ giàn.

Một số lễ thức đặc biệt quan trọng thể hiện tính kết nối không gian văn hóa thờ cúng và cộng đồng như lễ rước nước, rước hương, xô cổ - đổ giàn... Theo lời kể của ông Lữ Văn Hữu (sinh năm 1910), lễ rước nước tiến hành vào buổi chiều của ngày đầu tiên, các cụ bô lão cùng hai hàng chiêng trống đi thuyền lên đầu nguồn sông Côn để lấy nước về dâng cúng Thiên hậu Thánh mẫu. Người dân quan niệm nước đầu nguồn sông Côn là dòng nước tinh khiết, phù hợp để dâng lên ban thờ của Thánh mẫu. Buổi sáng ngày thứ hai thực hiện nghi lễ rước hương (rước Phật), đoàn rước từ Ngũ bang hội quán đến chùa Phổ Tịnh thực hiện nghi thức rước Phật. Theo trí nhớ của ông Hữu, trong nghi thức rước Phật có sử dụng tượng Phật nhỏ để đưa vào kiệu rước về Ngũ bang Hội quán. Quan điểm khác thì cho rằng nghi thức rước Phật này chỉ thực hiện tượng trưng, không sử dụng tượng Phật. 

Sau đó, đoàn kiệu rước đi đến chùa Ông để rước thập bát binh khí, thực hiện nghi thức bái xin và thỉnh ba cây nhang để vào lư hương để mang về cắm trong tẩm thờ của Ngũ bang Hội quán. Tiếp đó, tiến hành nghi thức khai kinh tại Ngũ bang Hội quán, rồi thực hiện nghi thức thỉnh tượng Phật quay về chùa Phổ Tịnh (hồi Phật). Ngày thứ ba, tiến hành đăng đàn chẩn tế ở Ngũ bang Hội quán với các nghi thức niệm hương, treo phướn, tế bái Thiên hậu Thánh mẫu. Tiếp đó là nghi lễ khai kinh (diễn ra trong hai giờ) của các sư thầy. Buổi chiều tiến hành chẩn tế cầu an tại trai đàn, thực hiện nghi thức phóng sinh, và cuối cùng tiến hành “xô cổ, đổ giàn” (cổ bánh, cổ áo, cổ gạo…), tiếp nối với sự tham gia của các võ sư ở các võ đường trong và ngoài thị xã.

Các hoạt động thể hiện tính chất hội diễn như múa lân, diễu hành (mô tả lại hành trình đi thỉnh kinh Phật và các kiếp nạn của thầy trò Đường Tam Tạng với các chi tiết giản lược, vui nhộn), một số trò chơi dân gian như nặn tò he, biểu diễn mặt nạ thể hiện dấu ấn đặc sắc của người dân vùng quê, với sự hồn nhiên và rộn rã tiếng cười, niềm vui vào ngày lễ hội. Không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn là sự tổng hợp giữa nghi lễ, nghi thức nghiêm trang giàu ý nghĩa và các hoạt động diễu hành vui nhộn, các trò chơi dân gian, hoạt động “xô cổ - đổ giàn” giàu tính nhân văn, đề cao tinh thần bố thí, tương trợ, giúp đỡ cộng đồng. 

Đồng thời, các tuyến đường rước nước, rước sắc, thỉnh Phật, diễu hành thể hiện tính kết nối không gian lễ hội và mối liên kết gắn bó giữa các tôn giáo, tín ngưỡng cùng chung mục đích phụng sự, phục vụ cộng đồng. Không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn không chỉ giàu tính kết nối về tôn giáo - tín ngưỡng mà còn hàm chứa ý nghĩa cân bằng, hài hòa giữa đời sống tinh thần của con người và môi trường thiên nhiên thể hiện qua lễ rước nước với hàm ý tôn trọng dòng nước tinh khiết ở đầu nguồn sông Côn, bên cạnh đó, không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn cũng liên kết với yếu tổ thẩm mĩ, giải trí thể hiện trong sắc màu lễ hội rực rỡ, các trò chơi dân gian và nghệ thuật diễn xướng hát bội. Ngoài ra, không gian này cũng kết nối và đề cao tinh thần thượng võ, rèn luyện thể chất, nâng cao ý chí và nghị lực để có cuộc sống tốt đẹp hơn. Như vậy, không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn là sự tổng hợp đa thành tố của đời sống tinh thần và vật chất, chuyển tải giá trị truyền thống tốt đẹp và giá trị thời đại, đề cao giá trị nhân văn và gắn kết cộng đồng như một giá trị nền tảng đã góp phần xây dựng và kiến tạo sự phồn thịnh của thị tứ An Thái.

2. Biến đổi không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn

Lễ hội Đổ giàn đã từng hiện diện ở An Thái vào năm 1933, 1937, 1941, sau đó, lễ hội đã ngừng hẳn và cho đến năm 1989 được phục dựng và tái hiện. Vào năm 2005, lễ hội Đổ giàn một lần nữa được kiến tạo và phục dựng. Như vậy thời gian ngắt quãng của lễ hội Đổ giàn thật sự quá dài. Mặc dù kí ức của người cao tuổi có thể cung cấp các gợi ý để tổ chức lễ hội nhưng trên thực tế, bối cảnh và không gian văn hóa, cộng đồng đã biến đổi, do đó, việc phục dựng chỉ có tính chất sân khấu hóa, không phản ánh nhu cầu tinh thần của cộng đồng và sự cần thiết của lễ hội Đổ giàn đối với đời sống người dân.

Không gian văn hóa vật chất của lễ hội Đổ giàn thể hiện qua các cơ sở thờ tự như chùa Ông, chùa Bà, chùa Phổ Tịnh, miếu thờ Bà Hỏa, miếu Bạch Mã tôn thần… vẫn còn tồn tại và ngày đêm hương khói. Các lễ cúng chay vẫn diễn ra đều đặn tại Ngũ bang Hội quán phản ánh sự kế thừa phong tục của thế hệ cha ông. Theo lời kể của ông Hữu, có một số năm thực hiện lễ cúng chay rất lớn tại Ngũ bang hội quán, chẳng hạn như năm 1975, 1976, 1978 nhờ nguồn tài trợ của Hoa kiều. Tuy nhiên, không gian truyền thống của lễ hội Đổ giàn là Ngũ bang Hội quán trở nên chật hẹp hơn trước, đồng thời, sự xuống cấp là điều khó tránh khỏi. Do đó, không gian hiện tại rất khó đáp ứng sức chứa và sức tải của một lễ hội cộng đồng với các hoạt động phấn khích và sôi nổi.

Bên cạnh quá trình trao truyền văn hóa giữa các thế hệ đã đứt quãng, những biến đổi chính trị, kinh tế - xã hội diễn ra hơn 60 thập niên qua đã góp phần thay đổi quan niệm và nhận thức về lễ hội truyền thống. Do đó, sự biến đổi của không gian cơ sở thờ cúng có thể không đáng kể, nhưng sự biến động không gian văn hóa gia đình, dòng tộc, cộng đồng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trao truyền kĩ năng, kiến thức, kinh nghiệm tổ chức lễ hội. Hiện nay, các cơ sở thờ cúng là không gian văn hóa lưu giữ kí ức của cộng đồng người Hoa và người Việt, đồng thời là không gian thực hành thờ cúng trong bối cảnh mới, thu hút nhiều đối tượng khác nhau, do đó, nhu cầu tín ngưỡng thay đổi cũng là một trong những thách thức lớn đối với duy trì các hình thức tế bái truyền thống.

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy sự am hiểu về nghi lễ, tính chất và ý nghĩa của lễ hội Đổ giàn của người trung niên và trẻ tuổi ở An Thái khá mờ nhạt. Như đã nói ở trên, sự ngắt quãng về tổ chức lễ hội và sự trao truyền văn hóa truyền thống không liên tục dẫn đến sự mất mát các giá trị văn hóa truyền thống. Trong không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn, các chủ thể văn hóa của cộng đồng có vai trò rất quan trọng, không chỉ lưu giữ giá trị truyền thống mà còn thực hành nghi lễ đó như một hình thức biểu đạt phù hợp và có ý nghĩa đối với cuộc sống của bản thân và cộng đồng. Điều này đặt ra việc nhìn nhận lại ý nghĩa và giá trị của nghi lễ Đổ giàn trong bối cảnh hiện nay.

Lễ hội Đổ giàn hàm chứa một số hoạt động lễ rước như một loại không gian văn hóa mang tính chất kết nối năng động. Các tuyến đường gắn kết giữa ngôi chùa và miếu thờ thần linh, giữa các miếu thờ với nhau, tạo nên không khí nghiêm trang và sắc màu lễ hội hoành tráng. Hiện nay, sự gia tăng dân số và các hoạt động kinh doanh, buôn bán cũng như nhu cầu sử dụng đất ở, đất sản xuất gia tăng, do đó, các tuyến đường trở nên chật hẹp, thiếu không gian trình diễn những lễ rước long trọng và có quy mô lớn. Đây là một trong những biến đổi đáng kể về không gian và có thể ảnh hưởng lớn đến quá trình phục dựng lễ hội Đổ giàn.

Tính chất thiếu nhất quán về không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn với không gian văn hóa của cộng đồng, do đó, rất khó để xây dựng sự liên kết về tinh thần trách nhiệm và ủng hộ của cộng đồng đối với lễ hội Đổ giàn. Không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn chưa trở thành một phần trong không gian văn hóa cộng đồng, chưa gắn với trách nhiệm và nhu cầu của cộng đồng.

Hiện nay, nhu cầu giải trí, thẩm mĩ và tín ngưỡng khá đa dạng, dễ lan tỏa và không giới hạn về không gian vật lý, do đó, người dân dễ dàng tiếp cận các loại hình giải trí, tín ngưỡng phù hợp với nhu cầu. Điều này đặt ra thách thức đối với lễ hội Đổ giàn trong quá trình gia tăng tính độc đáo, cần thiết và lan tỏa đến cộng đồng.

3. Hoạt động phục dựng lễ hội Đổ giàn và một số vấn đề đặt ra

Lễ hội Đổ giàn được phục dựng vào các năm 1989 và 2005, đây là nỗ lực rất lớn để tái tạo giá trị văn hóa truyền thống đã phai tàn. Điều này cho thấy sự cần thiết của hoạt động phục dựng trong bảo tồn lễ hội truyền thống. Dù vậy, các hoạt động phục dựng lễ hội Đổ giàn gần như khó thoát ly tính chất sân khấu hóa, bởi vì nhu cầu của cộng đồng và sự hữu ích của lễ hội chưa liên kết với nhau. Hình thái lễ hội Đổ giàn phù hợp với nhu cầu tín ngưỡng và giải trí của người dân vào thời điểm hưng thịnh của lễ hội này. Hiện nay, nếu không lưu ý đến tính cần thiết của lễ hội và giá trị hữu ích của lễ hội (liên quan đến phát triển kinh tế, du lịch hoặc nguyện vọng của cộng đồng) thì việc phục dựng chỉ mang tính chất bảo tồn thuần túy mà không phản ánh sự khát khao thực hành lễ hội của cộng đồng.

Hoạt động quảng bá gắn với phát triển du lịch cũng nên được chú trọng. Tuyến đường dọc sông Côn cho đến đầm Thị Nại lưu giữ dấu ấn của văn hóa và tín ngưỡng dân gian của người Việt và người Hoa, cụ thể là các di tích, làng nghề, loại hình văn hóa vật thể. Do vậy, đây là tuyến đường kết nối di tích, di sản văn hóa, tạo tiền đề cho phát triển du lịch di sản. Quá trình phát triển du lịch là môi trường để bảo tồn và tái tạo lễ hội Đổ giàn. Không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn bao gồm nhiều thành tố khác nhau, mỗi thành tố trong không gian này có thể trở thành điểm nhấn trên tuyến đường du lịch di sản. Các điểm nhấn như chùa Hoa, miếu thờ thần, đầu nguồn sông Côn đều có thể trở thành điểm đến du lịch, từ đó, lễ hội Đổ Giàn được quảng bá bởi du khách và người dân. Du khách và cộng đồng phải trở thành những tác nhân quan trọng trong quảng bá và thực hành nghi lễ/lễ hội Đổ Giàn. Từ đó, lễ hội Đổ Giàn có cơ hội phát sinh những giá trị tích cực và ý nghĩa đối với cuộc sống đương đại. Quá trình phát huy những thành tố trong không gian văn hóa lễ hội Đổ Giàn góp phần bảo tồn, gìn giữ và tạo sức sống mới cho lễ hội Đổ Giàn.

Xây dựng các câu chuyện lịch sử - văn hóa về không gian văn hóa lễ hội Đổ Giàn để đưa vào bảo tàng, giảng dạy ngoại khóa nhằm tạo kênh lan tỏa lễ hội Đổ Giàn đến với người dân và du khách trong và ngoài nước. Sức hấp dẫn của lễ hội Đổ Giàn cần được truyền tải bởi những câu chuyện có tính liên kết với chủ thể và bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người dân tại thị tứ An Thái xưa và nay.

Trao quyền bảo vệ không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn và thực hành lễ hội Đổ giàn và cho cộng đồng người dân tại An Thái. Khi người dân tham gia và có tiếng nói trong hoạt động bảo tồn không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn sẽ giúp khơi gợi trách nhiệm và sáng kiến bảo vệ của cộng đồng, xa hơn nữa là gợi mở phát huy giá trị của lễ hội Đổ giàn gắn với trách nhiệm của người dân và khách du lịch.

Kết luận

Nghiên cứu không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn cung cấp kết quả mới trong nhìn nhận và tái đánh giá đặc trưng và diễn biến thay đổi của các thành tố khác nhau như cơ sở thờ tự, thực hành nghi lễ, vai trò của các chủ thể, sự đóng góp giá trị văn hóa tộc người Hoa và Việt, yếu tố võ thuật và sự tham gia của các võ đường. Những đánh giá này mang lại kết quả tích cực, nhấn mạnh tầm quan trọng của lễ hội Đổ giàn trong lịch sử và gợi mở hướng phục dựng và phát huy không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn gắn với phát triển kinh tế và trách nhiệm, quyền lợi của cộng đồng.

Lễ hội Đổ giàn và các thành tố khác trong không gian văn hóa lễ hội Đổ giàn lưu giữ ký ức truyền thống và câu chuyện lịch sử - văn hóa về quá trình lập nghiệp của cộng đồng người Hoa và người Việt, sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa hai cộng đồng tộc người này, quá trình dung hợp tôn giáo và tín ngưỡng dân gian. Đồng thời, gợi mở những thách thức và đòi hỏi sự thích ứng của lễ hội Đổ giàn trong bối cảnh mới gắn kết với vai trò, trách nhiệm và sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy lễ hội Đổ giàn./.

_________________________________



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thanh Quang (2006), Người Minh Hương ở Bình Định; Truy cập tại https://baobinhdinh.vn/baoxuan/2006/1/21421/ đăng ngày 18/01/2006.

2. Nguyễn Thanh Quang, Vĩnh Lê (2012), Dấu ấn Quy Nhơn (bài 5): Hội quán người Hoa ở Quy Nhơn; Truy cập tại https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/11344/dau-xua-quy-nhon-bai-5-hoi-quan-nguoi-hoa-o-quy-nhon.html đăng ngày 02/5/2012.

3. Bùi Việt Thanh, Nguyễn Văn Ngọc, Lâm Chí Hoàng (2005), Lễ hội Đổ Giàn ở An Thái, xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định (Báo cáo khoa học).

4. Nguyễn Văn Ngọc (2008), Phục dựng một lễ hội truyền thống - lễ hội Đổ Giàn ở An Thái, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Hà Nội.



[1] Chùa là cách gọi của người Việt dành cho các cơ sở thờ tự của người Hoa. Trong bài viết này, chúng tôi vẫn sử dụng danh từ “Chùa”, nhưng trong phần phân tích, chúng tôi sử dụng danh từ “miếu” để chỉ cho những ngôi miếu của người Hoa trên địa bàn An Thái. Điều này tương thích với các nghiên cứu trước đây của chúng tôi về miếu thờ của người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh và Nha Trang.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...