Thứ Ba, 20 tháng 8, 2024

TƯ TƯỞNG MỸ HỌC VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH GIAO LƯU VĂN HOÁ QUỐC TẾ (PGS.TS. Nguyễn Văn Dân)


Đến thời hiện đại, tính từ đầu tk. XX, văn nghệ Việt Nam bắt đầu tiếp thu các tư tưởng mỹ học phương Tây. Các nhà văn và các nhà phê bình bắt đầu tiếp thu các tư tưởng mỹ học và phương pháp sáng tác của phương Tây. 

Xuất hiện nhu cầu đổi mới cấp bách nghệ thuật thơ ca, thể hiện qua cuộc đấu tranh của phong trào Thơ Mới diễn ra trong mười năm từ 1932 đến 1942, mở đầu với bài thơ Tình già của Phan Khôi cùng với bài giới thiệu mang tên Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ của cùng tác giả năm 1932. Bài giới thiệu này có thể được coi là một “tuyên ngôn mỹ học” của Thơ Mới, nó tuyên bố từ bỏ một loại thơ cũ gò bó của niêm luật mà điển hình là thơ Đường luật, để mở ra một lối thơ mới, tự do, phóng khoáng.

Văn xuôi hiện đại Việt Nam cùng lúc phát triển trên những phương pháp sáng tác mới tiếp thu của phương Tây: lãng mạn, hiện thực, tự nhiên. Chính kịch ra đời cũng dưới sự ảnh hưởng của kịch phương Tây. Hình thành và phát triển thể văn tiểu luận hiện đại. Cái đẹp, cái bi và cái hài được nhấn mạnh trong các bài phê bình, tiểu luận. Lần đầu tiên xuất hiện các phương pháp nghiên cứu của phương Tây một cách có ý thức: Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa với phương pháp xã hội học duy vật, Trần Thanh Mại với phương pháp tiểu sử, Hoài Thanh với phương pháp trực giác... Đặc biệt, từ năm 1935 đến 1939 đã diễn ra cuộc tranh luận bất phân thắng bại (lúc bấy giờ) trong lý luận mỹ học giữa quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” do Hoài Thanh đại diện, với quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” do Hải Triều đại diện.

Nhưng từ năm 1945, khi văn nghệ Việt Nam chịu sự quy định chặt chẽ của chính trị, thì quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” chính thức bị phê phán. Từ 1954, ở miền Bắc, các tư tưởng mỹ học của Liên Xô, và một phần của Đảng Cộng sản Trung Quốc, được tiếp thu và giữ một vai trò chỉ đạo trong sáng tác và lý luận phê bình văn nghệ. Các phạm trù cái đẹp, cái siêu phàm và cái hùng được đề cao, đặc biệt là cái siêu phàm và cái hùng; cái xấu, cái huyễn tưởng không được quan tâm (quan điểm đề cao cái thực trong cuộc sống đã loại trừ cái hoang tưởng ra khỏi đời sống sáng tác); nội dung được coi trọng hơn hình thức (chủ nghĩa hình thức bị phê phán triệt để; quan niệm đề cao nội dung là kết quả của quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”); đối tượng thẩm mỹ là cuộc sống và con người mới, là “cái tôi đại diện” cho “cái ta”, một cái tôi phi cá tính hay là “cái tôi tập thể”; hình tượng trung tâm là nhân vật chính diện, tích cực; tính đảng, tính giai cấp được đặt lên hàng đầu; phương pháp sáng tác chủ yếu là hiện thực xã hội chủ nghĩa; phương pháp phê bình là phương pháp lịch sử - xã hội; tư tưởng mỹ học chỉ đạo là đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ nghĩa hiện thực XHCN. 

Theo chủ nghĩa này, văn nghệ phải phản ánh và xây dựng “cái phải tồn tại” chứ không mô tả “cái đang tồn tại”. Tuy nhiên, trong nghệ thuật tạo hình vẫn duy trì một xu hướng phát huy quan niệm nghệ thuật dân tộc truyền thống cùng với những phương thức biểu đạt nghệ thuật của phương Tây có được từ thời Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương [thành lập từ năm 1924] (Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tư Nghiêm...). Trong khi đó ở miền Nam, các nhà lý luận văn học và các nhà văn tiếp tục truyền thống tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Cụ thể, học giả Nguyễn Văn Trung chủ trương và thực hành phương pháp “phê bình bút pháp” (mà tôi coi nó là một phương pháp nghiên cứu hình thức nghệ thuật).

Sau năm 1975, trên đất nước Việt Nam thống nhất bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu của một nhu cầu bức xúc dành cho sự đổi mới văn nghệ. Một trong những dấu hiệu này là bài báo “Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua” (báo “Văn nghệ”, số 23/1979) của Hoàng Ngọc Hiến. Ông đề xuất ý kiến phải chuyển từ phạm trù “cái cao cả” (tức “cái siêu phàm” - NVD), đặc trưng cho nền văn nghệ Việt Nam “vừa qua”, sang “cái đẹp như là lý tưởng” theo đúng quy luật phát triển thẩm mỹ của văn nghệ; và tương ứng với nó là phải chuyển từ “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” sang “chủ nghĩa hiện thực chân chính”. 

Bài báo của Hoàng Ngõ Hiến đã gây chấn động trong giới văn nghệ Việt Nam lúc bấy giờ, bởi lẽ văn nghệ Việt Nam lúc đó vẫn nằm trong không khí bao trùm của chủ nghĩa hiện thực XHCN. Trong nửa đầu thập kỷ 1980, nhu cầu đòi hỏi phải thay đổi những quan niệm mỹ học cũ càng trở nên bức thiết, với điểm đỉnh là bài báo sau ngày Đổi Mới của Nguyễn Minh Châu: “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” (báo “Văn nghệ”, số 49-50/1987). Có thể coi bài báo này của Nguyễn Minh Châu như là một bản “Tuyên ngôn mỹ học thời kỳ Đổi Mới”. Nó tuyên bố về ba vấn đề cơ bản của sáng tác: Sáng tác thế nào? Sáng tác cái gì? Và sáng tác cho ai? Cụ thể ý bài báo là: Văn nghệ phải có tự do sáng tác; văn nghệ phải phản ánh đúng bộ mặt thật của hiện thực chứ không minh hoạ cho đường lối; văn nghệ phải viết cho dân chúng chứ không viết cho người lãnh đạo chính trị. Bản “tuyên ngôn mỹ học” này đã xuất hiện đúng lúc cho không khí đổi mới sau năm 1986.

Có thể nói, từ thập kỷ 1980, tư tưởng mỹ học của Việt Nam đã có sự chuyển biến căn bản, trong đó căn bản nhất là quan niệm về quan hệ giữa văn nghệ với chính trị. Từ đó, văn nghệ và lý luận văn nghệ Việt Nam bắt đầu tiếp thu rộng rãi các nguồn mạch nghệ thuật và mỹ học của thế giới; sáng tác văn học nghệ thuật trở nên đa dạng; phương pháp nghiên cứu - phê bình trở nên phong phú; chủ nghĩa hiện thực XHCN không còn giữ địa vị độc tôn; phương pháp lịch sử - xã hội không còn giữ vai trò chi phối... Các văn nghệ sĩ đã mở rộng phương pháp sáng tác ngoài phương pháp hiện thực XHCN. 

Trong nghệ thuật tạo hình, mọi phơng pháp sáng tác hiện đại đều được tiếp thu. Đặc biệt là trong kiến trúc, các nguyên tắc mỹ học của trào lưu hiện đại “phong cách quốc tế” [tiếng Anh: “The International Style”] (các công trình cao tầng hình khối bê tông + kính + sắt thép) đã được áp dụng triệt để. Thậm chí sang thế kỷ XXI, phương pháp sáng tác hiện thực XHCN hầu như không còn được sử dụng, ngoại trừ trong một số tác phẩm văn thơ (tiểu thuyết, trường ca), phim ảnh, điêu khắc, hội hoạ, sáng tác về lãnh tụ và về cái anh hùng. Đề tài và nhân vật trung tâm trở nên đa dạng, “cái tôi cá nhân” xuất hiện với toàn bộ sự đa dạng của nó; cái bi, cái xấu với tư cách là những phạm trù mỹ học đã được quan tâm và trở thành trong số những đối tượng thẩm mỹ chủ chốt của văn học đổi mới...

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...