Tỉnh Bình Định hiện nay có nhiều tộc thiểu số anh em, trong đó có Bana, Chăm Hroi và Hrê là có số dân đông nhất. Các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định sinh sống chủ yếu ở các huyện miền núi, trung du phía tây của tỉnh, là nơi căn cứ địa cách mạng vững chắc của tỉnh Bình Định và liên khu V.
Các thế hệ của người Bana, người Chăm Hroi, người Hrê đã gắn liền với đất, với rừng, vật lộn với thú rừng hung dữ, với thiên nhiên nghiệt ngã, với giặc ngoại xâm tàn bạo và với nghèo đói, khổ đau. Từ cuộc sống khổ đau, đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định đã sáng tạo nên nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc. Trong thời kỳ đất nước mở cửa, hội nhập quốc tế, văn hóa ngoại lai tràn ngập đất nước, song văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số nói chung, tỉnh Bình Định nói riêng vẫn tồn tại, các giá trị văn hóa truyền thống vẫn không ngừng phát triển đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của đồng bào.
Từ khoá: Văn hoá truyền thống, dân tộc thiểu số, Bình Định.
Bình Định là tỉnh thuộc Nam Trung Bộ có bờ biển dài, có đồng bằng, có rừng núi, có nhiều dân tộc anh em đang sinh sống, phần đông là anh em người Kinh, ngoài ra còn có ba dân tộc Bana, Chăm Hroi và dân tộc Hrê có số dân đông nhất so với các dân tộc thiểu số trong tỉnh. Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống trải rộng trên địa bàn các huyện miền núi và trung du tây tỉnh Bình Định. Trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, các huyện miền núi và trung du là nơi căn cứ cách mạng vững chắc của tỉnh Bình Định. Các huyện Vĩnh Thạnh, An Lão, Hoài Ân và huyện Tây Sơn, là nơi sinh ra, trưởng thành và chiến đấu anh dũng của Sư đoàn Ba-Sao vàng anh hùng trong sự đùm bọc, giúp đỡ chí tình của đồng bào các dân tộc địa phương. Quê hương hoàn toàn giải phóng, đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định cùng nhau đoàn kết xung quanh Đảng ra sức xây dựng làng xã phát triển theo cùng đất nước.
Các dân tộc thiểu số Bình Định với tư cách là chủ nhân có mặt rất sớm trên bản địa các huyện miền núi của tỉnh. Đã biết bao đời nay sống bám đất, bám rừng, vật lộn với con thú dữ, với giặc ngoại xâm bạo tàn, với thiên nhiên khắc nghiệt, với cuộc sống nghèo khổ… từ cuộc sống khổ đau, đồng bào các dân tộc thiểu số Bình Định đã sản sinh ra một nền văn hóa truyền thống, phong phú về nội dung, đa dạng về các loại hình, mang đậm nét, bản sắc riêng của từng dân tộc. Nổi lên như các bài dân ca kơ chòi, kơ lêu ở người Hrê, bài múa trống Kơ toang ở người Chăm Hroi và phải nói đến những bài Sử thi Hơ’mon dài, đồ sộ hát bốn, năm buổi tối không biết hết ở người Bana Kriêm Bình Định. Đến các làng, xã, chúng ta hay dựng lại một, hai đêm để chung vui trong các lễ hội làng lớn nhỏ, thưởng thức các bài dân ca, dân vũ, dân nhạc, ngắm nghía các đường nét hoa văn trong nghề thêu dệt, đan lát mà dân tộc nào cũng có. Định kỳ hai năm một lần, từ tỉnh đến các huyện, xã đều có tổ chức lễ hội văn hóa-thể thao truyền thống là dịp đua tài khoe sắc ở từng địa phương, từng dân tộc, nhằm giới thiệu, quảng bá nét đẹp mang đầy các giá trị văn hóa truyên thống vẫn còn tồn tại cần phải được giữ gìn, phát triển và phát huy.
Ngày nay, cùng với chủ trương mở cửa, hội nhập quốc tế, nhiều loại hình: Phim ảnh, sách báo, băng hình, cái tốt, cái xấu, bằng những con đường, phương tiện kỹ thuật khác nhau xâm nhập đầy rẫy trên khắp miền, vùng sâu, vùng xa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta. Các ngày vui hội làng, các loại dân ca, dân vũ, dân nhạc truyền thống của các dân tộc thiểu số đã bị áp đảo bởi những giàn nhạc rock, organ… nổi lên inh ỏi; những điệu nhảy hiphop, lắc mông, rung ngực, làm cho một bộ phận không nhỏ nam, nữ thanh niên làng thích thú không ngần ngại, tiếp thu một cách nhanh chóng.
Các lễ hội văn hóa-thể thao truyền thống của đồng bào các dân tộc Hrê, Chăm Hroi, Bana hằng năm vẫn được các làng xã tổ chức đông vui, tuy nhiên gần như vơi dần. Hình thức và chất lượng của các đêm lễ hội không được phong phú, đa dạng như thời ông bà ngày trước. Một số nội dung và hình thức sáng tác dân ca, dân vũ bị lái lệch, bóp méo, biến dạng. Không ít nam nữ thanh niên Bana, Chăm Hroi, Hrê không muốn tham gia đánh cồng, đánh chiêng, không muốn bận đồ trang phục truyền thống của dân tộc mình. Nữ không muốn biết thêu dệt, nam không muốn đan lát, xa lánh dần các hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ truyền thống của làng, xã mình, dân tộc mình.
Từ thực trạng trên, dựa trên các chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước ta về công tác văn hóa, nghệ thuật trong tình hình hiện nay, các cấp ủy Đảng, chính quyền, cùng các ngành có liên quan từ tỉnh đến các địa phương, cùng nhau bàn bạc, tìm ra các cách làm hay, làm tốt, có hiệu quả, thiết thực trong việc giữ gìn, phát triển và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong đồng bào các dân tộc thiểu số của tỉnh. Đầu năm 2000, được sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh, Hội Văn học nghệ thuật Bình Định đã cho thành lập Chi hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, tập họp một số nghệ nhân, những người làm công tác văn hóa, văn nghệ tiêu biểu trong cộng đồng người Bana, người Chăm Hroi và người Hrê, cùng phối hợp với Phòng Văn hóa, Trung tâm Văn hóa huyện tiến hành công việc sưu tầm, nghiên cứu, tái dựng lại các lễ hội, giàn dựng các chương trình văn hóa, văn nghệ truyền thống trong đồng bào câc dân tộc Bana, Chăm Hroi và Hrê trong tỉnh. Chi hội văn học nghệ thuật tỉnh, đã phối kết hợp với phòng, trung tâm văn hóa thông tin với một số phòng ban liên quan của huyện, đặc biệt vào cuộc rất say sưa, nhiệt tình của các nghệ nhân ở các làng, xã đã giúp chúng tôi sưu tâm được nhiều bài dân ca, dân vũ, dân nhạc, về các phong tục tập quán và tái dựng được một số lễ hội truyền thống tiêu biểu như: Lễ hội đám cưới của người Hrê huyện An Lão, lễ hội cầu mưa của người Chăm Hroi và lễ hội ăn cốm lúa mới ở người Bana Kriêm Bình Định. Một số làng xã trong người Bana, người Chăm Hroi và người Hrê đã xây dựng một số câu lạc bộ, thêu dệt, đan lát, câu lạc bộ cồng, chiêng, múa hát dân ca, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa vui tươi, lành mạnh trong các ngày hội của làng, xã, đồng thời cũng nhằm góp phần gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống đậm nét của từng dân tộc. Một số hội viên, trong chi hội, kết hợp với Viện Ngôn ngữ Việt Nam đã biên soạn, hoàn thành sách: tài liệu giảng dạy chữ Bana, chữ Chăm Hroi và chữ Hrê tỉnh Bình Định, từ năm 2016 đến nay đã tiến hành bốn đợt truyền dạy cho học viên là cán bộ, công chức người Kinh đang công tác, học tập trên địa bàn các huyện miền núi của tỉnh. Nhiều học viên ở khối mặt trận, đoàn thể, ngành y tế, giáo dục đã biết sử dụng tiếng dân tộc giao dịch với cán bộ và nhân dân quanh đơn vị, cơ quan nơi mình làm việc.
Từ quan điểm: muốn bảo tồn tốt thì phải có cơ sở bảo tồn tốt, chúng tôi đã xây dựng được hai cơ sở truyền thống văn hóa ở hai đơn vị, trường phổ thông dân tộc nội trú huyện và ở một làng vùng cao của người Bana Kriêm huyện Vĩnh Thạnh. Nhà truyền thống là nơi quy tụ các hiện vật văn hóa vật thể và phi vật thể do bà con gần xa huy động, động viên, đóng góp gửi về nhà văn hóa truyền thống. Nhà văn hóa truyền thống không chỉ là cơ sở bảo tồn trưng bày về các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể, mà còn là nơi giới thiệu, tuyên truyền, giáo dục và truyền dạy cho thế hệ trẻ hiểu biết về văn hóa, văn học nghệ thuật truyền thống của dân tộc mình. Nhà văn hóa truyền thống có thể là chủ nhân văn hóa truyền thống của một dân tộc.
Văn hóa, nghệ thuật là một mặt trận hoạt động rất khó, nhằm khắc phục tình trạng khó khăn, yếu kém cũng như các mặt làm được và chưa làm được, chúng tôi xin giới thiệu một số biện pháp thực hiện để chúng ta cùng tìm hiểu và trao đổi:
Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền
Hiện nay chúng ta có nhiều chỉ thị, nghị quyết nói về công tác văn hóa, nhưng gần như chỉ dừng lại ở nơi nào đó mà rất ít đến với cơ sở, đến với người dân, những người trực tiếp thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta. Thiết nghĩ, tăng cường công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta về công tác văn hóa văn nghệ trong tình hình mới đến tận người dân, nhất là trong đội ngũ thanh, thiếu niên con em đồng bào các dân tộc thiểu số có vị trí rất quan trọng. Thực tế địa phương chúng tôi cho thấy, làng, xã nào có sự quan tâm thiết thực, cụ thể của các cấp ủy Đảng, chính quyền, thường xuyên nhắc nhở, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho ngành văn hóa, các cơ quan, đơn vị liên quan, quan tâm, chú trọng đến công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước đến người dân, thì nơi đó có phong trào hoạt động văn hóa, văn nghệ tốt.
Thứ hai, tích cực công tác truyền dạy
Nói đến bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống phải nói đến công việc truyền dạy mà chủ yếu là các nghệ nhân, là những người giữ lửa cho hồn văn hóa dân tộc. Thực tế ở địa phương chúng tôi, những nghệ nhân hiểu biết sâu sắc, tâm đắc với các hoạt động văn hóa, văn nghệ truyền thống dân tộc còn rất ít mà phần lớn là những người tuổi đã ngoài 70-80 trở lên. Các nghệ nhân là những người giữ lửa, hồn văn hóa dân tộc, là những chủ nhân, trong kho tàng văn hóa truyền trống của từng dân tộc. Qua sơ bộ khảo sát văn hóa vật thể và phi vật thể ở địa phương, các cụ ông, cụ bà rất giỏi trong lĩnh vực hát dân ca, dân vũ, dân nhạc và các ngành thêu dệt thổ cẩm, đan lát gia dụng truyền thống. Các cụ ốm yếu rồi cũng phải đi tới cõi vĩnh hằng, di sản văn hóa một kỷ vật quý hiếm của dân tộc cũng đi theo, mà họ đâu có muốn mang đi làm gì. Lâu nay, Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định chúng tôi đồng thời phải tiến hành làm hai công việc, vừa nghiên cứu, sưu tầm, vừa vận động, động viên các nghệ nhân khác cùng tham gia truyền dạy các hoạt động văn hóa, nghệ thuật truyền thống của dân tộc mình. Thiết nghĩ, đó là cách làm cần thiết để có thể nói việc giữ gìn, phát triển và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của từng dân tộc.
Thứ ba, phải có những cán bộ làm công tác văn hóa giỏi
Những người được phân công làm công tác văn hóa phải là những cán bộ đã được đào tạo cơ bản trong các trường chuyên môn, giỏi, có năng lực, nhiệt tình, trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ truyền thống. Là cán bộ có năng lực lãnh đạo, có uy tín, tập trung được lực lượng những người đam mê làm công tác văn hóa. Có khả năng nhen ngọn lửa văn hóa ở cơ sở, tạo được phong trào hoạt động văn hóa, văn nghệ ở quê hương, làng, xã mình, thực hiện tốt câu ta thường nói: cán bộ nào, phong trào ấy. Ở địa phương chúng tôi thường rất chú trọng các cán bộ câu lạc bộ: cồng, chiêng, múa, hát dân ca, đan lát, thêu dệt vải thổ cẩm trong các cơ sở làng, xã… Bên cạnh đó, chúng tôi còn rất quý trọng các cán bộ lớn tuổi, cán bộ đã có kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành văn hóa, văn nghệ truyền thống ở địa phương với các cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản trong các trường chuyên môn, nghiệp vụ ở Trung ương hay địa phương, hai thế hệ gặp nhau cùng trao đổi, bổ sung hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động văn hóa, văn nghệ ở địa phương.
Thứ tư, có chế độ, chính sách động viên
Công tác văn hóa rất quan trọng. Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nói về công tác văn hóa, văn nghệ, song về chế độ, chính sách đầu tư có thể nói còn rất hạn hẹp. Tình hình ngân sách nhà nước ta còn nhiều khó khăn, theo chúng tôi, trên lĩnh vực hoạt động văn hóa, văn nghệ, nhà nước cần có chế độ, chính sách, trước hết đối với các đối tượng:
- Các nghệ sĩ, nghệ nhân nhân dân, nghệ sĩ, nghệ nhân ưu tú, và những người mà cuộc đời gắn liền với ngành văn hóa, hoàn thành xuất sắc trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ ở địa phương. Đây là những đối tượng giữ lửa cho hồn văn hóa dân tộc được tồn tại và không ngừng phát triển, xứng đáng được thừa hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Đảng và nhà nước ta.
- Quan tâm hơn nữa về kính phí hoạt động cho các Hội văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương. Có thêm kính phí, các Hội mới có khả năng nhiều hoạt động thiết thực như, mở thêm các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và các hoạt động khác.
- Đề nghị Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tiếp tục in ấn, xuất bản các tác phẩm có giá trị của các tác giả đã đạt giải thưởng cao của Hội./.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét