Huình Tịnh Paulus Của, trong Đại Nam quốc âm tự vị 1896, giải thích từ “truông” như sau:
“杶 Truông. n. Đàng đi qua rừng núi, nham hiểm.
[Truông] mây. id. Cũng là tên chỗ.
[Truông] ải. id.
Qua [truông]. Qua đàng hiểm trở.” (tr.502)
J.F.M. Génibrel trong Dictionnaire Annamite-Français 1898 cho biết: “杶 Truông” là: “Chemin, sentier dans la forêt. Sentier de montage)” (tr.896). Tạm dịch: Đường đi, đường mòn trong rừng. Đường mòn trên núi.
Jean Bonet trong Dictionnaire Annamite-Français 1899 cũng giảng tương tự: “杶 Truông” là: “Chemin dans la forêt. Sentier de montage” (tr.368). Tạm dịch: Đường đi trong rừng. Đường mòn trên núi. Tác giả này còn cho biết chữ Nôm cũng viết là “𣐄” (tr.368).
Như vậy, theo 3 tác giả trên, chẳng những đường đi qua RỪNG mà đường đi qua NÚI cũng gọi là truông.
Khi nói đến “truông” chúng ta thường nhớ đến “truông Nhà Hồ”. Trong sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí 1806 (Quyển 3, mục Đường trạm dinh Quảng Trị) của Lê Quang Định, Phan Đăng dịch (Nxb Thuận Hóa, 2005) có đoạn sau đây có liên quan đến truông này:
“Qua địa giới Quảng Bình, 7.381 đến trạm hành cung Phò Tông, cộng lại thành 11.009 tầm.
2.660 tầm, nơi hành cung này ngày xưa cây cối xanh tốt, trong đó có một gốc đại thụ rất cao, tục gọi là hành cung Cây Da Ngoi, từ đó trở ra là rừng cát lồi lõm, rộng rãi khoáng đãng chẳng thấy bóng người, tục gọi là truông Nhà Hồ.
Ngày xưa nơi này có nhiều bọn cướp thường lảng vảng ở chợ Hồ Xá rồi chúng cắt một tên leo lên cây cao này do thám, hễ thấy có khách đi đường một mình liền cải trang đi theo sau, đến đoạn đường này chúng báo cho đồng bọn rồi bắt họ vào rừng để cướp bóc, khách buôn chuyến rất lo sợ. Đương thời có câu ca rằng:
Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang
Nạn ấy kéo dài trong nhiều năm [10a], về sau có quan Nội tán Diên Thọ hầu ra lệnh dân chặt hết cây cối rồi cho quân lùng bắt hết bọn cướp, nghiêm cấm người trong chợ không được dung túng bọn chúng, từ đó bọn cướp này mới tan, nạn sợ cướp bóc mới yên, người đi đường mới trở lại đi lại, dù đi đêm cũng không ngại, lúc ấy người ta lại ca rằng:
Phá Tam Giang tuần rày đã cạn
Truông Nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.” (tr.113-114)
Đối ứng từ “truông” trong “truông Nhà Hồ” (theo phiên âm của Phan Đăng), trong nguyên tác chép là “𣐄” (gồm chữ “mộc” 木 bên trái và chữ “trung” 中 bên phải). Như ở trên chúng tôi đã nói, chữ “𣐄” (truông) được Jean Bonet ghi nhận trong Dictionnaire Annamite-Français 1899. Ngoài ra, chữ “𣐄” (truông) này cũng được nhiều từ điển chữ Nôm đang lưu hành trên mạng ghi nhận.
Ngoài truông Nhà Hồ, cũng trong Quyển 3, mục Đường trạm dinh Quảng Trị, còn có vài khác nữa, ví dụ như truông Kẻ Diên, truông Cồn Ky (Cờ) trong 2 đoạn sau đây (lời dịch của Phan Đăng):
- “200 tầm, dọc hai bên đường có dân cư và ruộng vườn, đến đường rừng xã Diên Sanh, đường dài 1.200 tầm, tục gọi là truông Kẻ Diên. Đường này toàn cát sâu, vào trưa hè nắng to cát nóng rất khó đi, hai bên đường là rừng cây xanh tốt, ban đêm có cọp beo, đi một mình phải thận trọng, cuối đường rừng này có điếm xã Mai Đàn, tục gọi là Quán Dê, khách đi đường có thể nghỉ chân,” (tr.110)
- “1.427 tầm, đường cát này trên địa phận xã Nhan Biều tục gọi là truông Cồn Ky (Cờ), tức Dinh Cát cũ, nay lập công khố và công đường của dinh Quảng Trị tại đây. Bên phía tây đường này toàn đất cát, mùa hè gió nam thổi rất mạnh, cát bay mù trời có thể sập cả nhà cửa…” (tr.111)
Đối ứng từ “truông” trong “truông Kẻ Diên” (theo phiên âm của Phan Đăng) trong nguyên tác chép là “𣐄”, nhưng “truông” trong “truông Cồn Ky (Cơ)” (theo phiên âm của Phan Đăng), trong nguyên tác chép là “[土/竜]” (gồm chữ “thổ” 土 bên trái và chữ “long/ luông” 竜 bên phải). Chúng tôi chưa thấy từ điển chữ Nôm nào ghi nhận chữ “竜” (truông).
Trong sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí 1806 (Quyển 9, mục Ghi chép về trấn Nghệ An) của Lê Quang Định, Phan Đăng dịch (Nxb Thuận Hóa, 2005) có đoạn sau đây có liên quan đến truông Bông:
“240 tầm, hai bên đều là đất hoang, đến đường Núi Bông, đường dài 798 tầm, tục gọi là Truông Bông, núi này có một dãy gò cao, đường ngang từ bên bắc xuống nam rất hiểm nghèo, đến cửa Núi Bông, tục gọi là cửa Truông Bông.” (tr.366)
Đối ứng từ “truông” trong “Truông Bông” và “cửa Truông Bông (theo phiên âm của Phan Đăng), trong nguyên tác chép là “[山/中]” (gồm chữ “sơn” 山 ở trên và chữ “trung” 中 ở dưới). Chữ “[山/中]” (truông) được Vũ Văn Kính ghi nhận trong Đại từ điển chữ Nôm, Nxb Văn Nghệ Tp.HCM, năm 2005, tr.1435.
Đến đây chúng tôi tạm phỏng đoán rằng, nếu Phan Đăng phiên âm đúng, trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí 1806, Lê Quang Định dùng 3 chữ Nôm sau đây để ký âm TRUÔNG:
. 𣐄 (bộ “mộc” 木): trong truông Nhà Hồ, truông Kẻ Diên. Cả 2 truông này đều là đường đi xuyên qua rừng.
. [土/竜] (bộ “thổ” 土): trong truông Cồn Ky (Cờ). Truông này một bên toàn là cát, tức một bên là rừng, một hoàn toàn trống trải, không có cây cối.
. [山/中] (bộ “sơn” 山): trong truông Bông. Truông này là đường đi trên núi.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét