Quốc Sử quán triều Nguyễn có nhận xét rất hay về cốt cách con người xứ Quảng là “học trò chăm học hành, nông phu chăm đồng ruộng, vui làm việc nghĩa, sốt sắng việc công”; “sĩ phu có khí tiết cứng cỏi, bạo nói”, “hay cãi”… Cử nhân Lê Đĩnh còn thêm rằng, người Quảng “học giỏi, tài cao, mưu sâu, mẹo hiểm nhưng phải cái tội tự cao, lại hay lý sự” nên kẻ đồng liêu “nể mà không thương”, khi “giữ chức cao quyền trọng thường gãy đổ”...
Có lẽ vì vậy nên suốt mấy trăm năm ra đời, số lượng người Quảng trong “tứ trụ triều đình” đếm chưa đủ một bàn tay!
Tính “hay cãi” của người Quảng, xuất phát từ thiếu niềm tin của các vua Nguyễn vào “sĩ dân đất Quảng”, họ nghi ngờ rằng dân Quảng Nam có đến ngót 25 năm hợp tác với “ngụy triều” Tây Sơn, từng “phải tội liên đới” trong việc để Ðông cung Nguyễn Phúc Dương bị Tây Sơn bắt ở Ô Gia, rồi bị Nguyễn Huệ giết ở Vĩnh Long.
Vì vậy, các quan chức gốc Quảng đều “được” cử trấn nhậm ở những nơi rừng thiêng nước độc, ô châu ác địa để “phòng xa” và rất dễ bị vu vạ, nếu muốn sống thì phải “cãi tới cùng”! Chính tinh thần nghĩa khí, cường cường nên người Quảng thường sẵn lòng lao vào nguy khó để phò vua, giúp nước và chọn về mình một cái chết, đó có thể là liều độc dược tự chọn, một “ân huệ vua ban” (tam ban trào điển) hay bị kẻ thù giết hại. Yêu nước thì ở đâu cũng vậy, nhưng yêu nước quyết liệt kiểu Quảng thì thường nhận về toàn những cái “chết thảm” như: Hoàng Diệu, Trần Qúy Cáp, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Ông Ích Đường…
Trí thức Quảng thường “bạo nói”, dường như “không biết sợ” (đúng ra là dám nói lên suy nghĩ của mình với kẻ trên và người quyền thế); Tính cương cường, công - tư rõ ràng, ghét tính a dua và nịnh hót, thấy điều gì có lợi cho quốc kế, dân sinh là bắt tay làm ngay hoặc ủng hộ hết mình mà không chú ý đúng mức đến tính “vương pháp”, tạo cớ để đối phương vin vào đó “đàn hặc” với triều đình.
Quan chức Quảng thường có kiến thức sâu rộng, uyên thâm, nhạy bén với thời cuộc, họ nhanh chóng phát hiện những khiếm khuyết của chính sách, sai lầm của cấp trên và sẵn sàng “cãi” hoặc tìm cách làm khác đi để khỏi thiệt cho dân, hại cho nước. Một Ông Ích Khiêm dám lên án triều đình “Đến khi có giặc lại thuê Tàu”, một Thượng thư Phạm Phú Thứ can gián vua Tự Đức đến nỗi bị tước hết chức tước, cho đi làm thủy lợi; một Phan Châu Trinh chỉ ra “thất điều” phải chém vua Khải Định… Trong những tình thế hiểm nghèo, nhất là trước hoạ ngoại xâm nếu được sử dụng đúng lúc, người Quảng thường xử lý rất quyết liệt và hiệu quả, điển hình như Huỳnh Thúc Kháng, Ông Ích Khiêm…

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét