1. Dẫn nhập
Lễ hội Đổ giàn An Thái (còn gọi là Lễ hội tranh heo, lễ hội xô cỗ…) đã tạm dừng cách đây trên 70 năm. An Thái là một thị tứ thuộc xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Năm 2005, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định phối hợp với địa phương phục dựng lại lễ hội này để ghi hình, nghiên cứu, báo cáo với Bộ Văn hóa, nhằm mục đích phục dựng trở lại lễ hội.
Theo như lịch lễ hội đã được địa phương thống nhất từ xưa thì vào những năm Tỵ- Dậu- Sửu thì lễ hội sẽ được diễn ra. Mới đây, ngày 9-6-2023, UBND xã Nhơn Phúc (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), nơi có lễ hội Đổ giàn, đã có công văn số 08/ Cv-UBND cho Hội VHNT Bình Định, về việc “phối hợp tổ chức tọa đàm về khôi phục, phát huy di sản văn hóa truyền thống lễ hội Đổ giàn”. Trong công văn này có nêu rõ: “Đổ giàn là một lễ hội văn hóa đặc sắc của miền đất võ Bình Định diễn ra từ ngày rằm đến 16-17 tháng 7 âm lịch (4 năm tổ chức một lần) tại thôn An Thái, xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn. Năm 2005, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định đã phối hợp với địa phương khôi phục lễ hội để giữ gìn nét văn hóa đẹp của người dân đất võ An Thái.
Tuy nhiên, từ đó đến nay lễ hội chưa được khôi phục theo định kì truyền thống, công tác tổ chức lễ hội còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc”. Từ đó, công văn nêu rõ mục đích dự định tổ chức tọa đàm: “Để có cơ sở xây dựng kế hoạch, kịch bản và đề xuất các giải pháp khôi phục, phát huy giá trị di sản văn hóa của Lễ hội đổ giàn” từ các chuyên gia, các nhà nghiên cứu khoa học, nghiên cứu văn hóa dân gian…
Bài viết dưới đây sẽ đề cập đến những “lưu dấu” của lễ hội Đổ giàn, nhằm chứng minh rằng: lễ hội Đổ giàn đã có từ lâu, nêu những lí do nào mà lễ hội Đổ giàn không được tổ chức trong hơn 70 năm qua và qua đó nêu lên những điều kiện để khôi phục lễ hội này.
2. Những “lưu dấu” của lễ hội Đổ giàn An Thái
Lễ hội Đổ giàn An Thái là tên gọi phổ biến hiện nay trong các văn bản hành chính. Do lễ hội nguyên ủy xuất phát từ hội chùa Bà với nhiều nghi lễ và hấp dẫn nhất, đặc sắc nhất là phần hội đổ giàn, nên trong dân gian, qua ca dao lễ hội còn có tên gọi là hội giàn, hội đổ giàn, hay là lễ hội tranh heo, lễ hội xô cỗ. Sách Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam[1] gọi là Hội Đổ giàn. Nguyễn Xuân Nhân [2] chú ý đến phần hội, cho rằng đây chỉ là “tục cúng đổ giàn”. Thống nhất cả phần hội và phần lễ trong lễ hội này, được diễn ra tại An Thái, chúng ta thống nhất với tên gọi lễ hội là: Lễ hội Đổ giàn An Thái.
Lễ hội Đổ giàn An Thái đã có từ lâu. Điều đó đã được “lưu dấu” với một số “dấu tích” tinh thần như sau:
2.1. Trong những vần ca dao
Nhiều câu ca dao lưu truyền ở địa phương đã ghi nhận về sự “có mặt” của lễ hội Đổ giàn An Thái, chứng tỏ lễ hội đã có từ rất lâu đời. Trong lễ hội có nhiều nghi lễ, đặc biệt là lễ làm chay cúng Phật và hát bội: Đồn rằng An Thái, Chùa Bà/ Làm chay, hát bội đông đà quá đông. Do vậy, lễ hội đã thu hút rất đông người dân tại chỗ và các nơi đến tham dự: Đàn bà cho chí đàn ông/ Xem xong ba ngọ, lại trông đổ giàn. Như vậy, phần lễ “làm chay” cúng Phật tiến hành đến ba ngày (ba ngọ) rồi mới đến phần/ tục đổ giàn. Giải thích về việc vì sao lễ hội có đại lễ trai đàn và quy ước tổ chức 4 năm một lần Tỵ- Dậu- Sửu, theo Nguyễn Văn Ngọc (2005) thì: “Năm Quý Dậu (1933), một sự kiện kiến tạo Ngũ bang Hội quán, kế thừa tục lệ xưa, cha truyền con nối, gồm có các cụ: Tạ Thủy Quyên, Tạ Thế Diễn, Tạ Thế Tế, Tạ Kim Hỏa, Tạ Thêm Hỏa, Thái văn Tư, Thái Lập Kính, Thái Lập Đôn, Thái Lập Chánh, Thái Lập Thành, Diệp Dụng Hy, Diệp Trường Phát, Diệp Kiến Anh, Diệp Thuận Long - ông bảy Liến, ông Nhất Bò, ông Tân Hưng, ông Thái Phát, ông Đỗ Cẩm Nghi, ông Đỗ Cẩm Khôn, ông Mười Tiền, ông Bảy Hóa, Diệp Trường Nguyên, ông Nguyên Phát, đứng ra trùng tu và xây cất thêm 2 phòng Đông, Tây của Hội quán để có chỗ hội họp sinh hoạt đồng thời mở trường học lấy tên: Dục Hoa học hiệu An Thái, mục đích dạy chữ Quan Thoại (tiếng phổ thông chung cả nước Trung Hoa) và dạy học chữ tiếng Việt. Từ đó các cụ ghi chép và quy ước nghi thức Đại lễ trai đàn, tính theo chu kỳ Tam Hạp: Tỵ - Dậu - Sửu (4 năm 1 lần) cúng ba ngọ 15, 16 và 17 tháng 7 âm lịch”[3].
Còn câu ca: Tiếng đồn An Thái, Bình Khê (hay Chùa Bà)/ Nhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo, nói rõ trong lễ hội có hội/tục đổ giàn, tranh giành heo lễ của các võ sĩ ở địa phương và các vùng lân cận. Sự đông vui, hào hứng của hội Đổ giàn được ca dao ghi nhận khái quát một cách sinh động: Rủ nhau đi hội Đổ giàn/ Ngày rằm tháng Bảy đò ngang chật đò/ Trắng phau đôi cánh con cò/ Hội Giàn vui lắm trễ đò uổng công. Hội đổ giàn là sự giao lưu võ thuật, đề cao tinh thần thượng võ của vùng đất võ An Thái cũng được ghi nhận trong những câu tục ngữ sau: Trai An Thái, gái An Vinh; Roi Thuận Truyền, quyền An Thái/ An Vinh.
2.2. Sách/ từ điển/ nghiên cứu về lễ hội
2.2.1. Sách dưới dạng từ điển tra cứu.
Sách Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam được biên soạn theo dạng từ điển/ sách tra cứu. Sách dày 1445 trang, ngoài lời giới thiệu, bài “Tổng quan về kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam” (Nguyễn Chí Bền), “Tết văn hóa và văn hóa Tết” (Trần Quốc Vượng), sách giới thiệu 211 lễ hội cổ truyền Việt Nam, được phân bổ thành từng vùng như sau: vùng Tây Bắc, Việt Bắc (17 lễ hội), vùng châu thổ Bắc Bộ (135 lễ hội), vùng duyên hải Trung Bộ (20 lễ hội), vùng Tây Nguyên (8 lễ hội), vùng Nam Bộ (21 lễ hội), các lễ hội thờ cá voi (10 lễ hội). “Hội Đổ giàn” được sách giới thiệu là 1 trong số 20 lễ hội nằm trong vùng duyên hải Trung Bộ. Điều đáng chú ý là, 2 tác giả Thạch Phương- Lê Trung Vũ, khi giới thiệu, với tựa bài là “Hội Đổ giàn” chứ không gọi là lễ hội Đổ giàn, đặt “hội Đổ giàn” trong bối cảnh hội chùa Bà, mọi người cùng “dự lễ Vu lan- báo hiếu nhà Phật- xem hát bội và những cuộc thi tài” của các võ sĩ ở hội đổ giàn. Hội đổ giàn được 2 tác giả trên miêu tả trong sách như sau:
“Nhưng sức hấp dẫn của hội chùa Bà không chỉ ở chỗ có “làm chay, hát bội” mà còn vì một lí do khác là hội tổ chức ngay trên mảnh đất giàu truyền thống thượng võ: Làng An Thái. An Thái thuộc huyện An Nhơn, là làng võ từng sản sinh ra những võ sư, võ sĩ xuất sắc của đất Bình Định. Dĩ nhiên vào những dịp hội hè, việc tổ chức thi đấu côn, quyền là tiết mục không thể thiếu được. Về dự hội, cũng là dịp để các môn đệ thăm viếng, gặp lại bạn bè đồng khóa, đồng môn và cũng là dịp để các võ sĩ thử tài cao thấp trên võ đài…Đặc biệt ở đây, cùng với hội chùa còn có hội Đổ giàn khá hấp dẫn, từng mang đậm dấu ấn nhiều cuộc tranh tài sôi động của các lò võ trong vùng cũng như sự thích thú đối với người xem. Nếu như đi hội chùa Bà mà chỉ xem làm chay, làm hội không thì chưa đủ, chưa thật thỏa mãn, mà phải xem cả tranh tài trong hội Đổ giàn của các võ sĩ.
Người ta thiết lập một sân khấu ngoài trời, diện tích hẹp hơn sân khấu thường, nhưng chiều cao thì gấp nhiều lần, khoảng mười mét, bằng tre, gỗ giống như một chòi phát tin ở nông thôn thường thấy trước đây thời kháng chiến, trên dó người ta đặt đàn cúng thần gồm hương, hoa, trà, quả và một heo quay để nguyên con, khoảng độ mười lăm, vài chục kilo. Sau những nghi thức cúng lễ cổ truyền như thường thấy ở các lễ hội làng quê, vị chủ tế trên giàn cao, phát lệnh nổi 3 hồi chiêng trống, báo hiệu cuộc tranh tài sắp sửa diễn ra. Lúc này, ở bên dưới đám đông trở nên xôn xao, rộn rịp. Những người yếu, người già, phụ nữ và trẻ con thì dãn ra vòng ngoài dể cho những võ sĩ và những người khỏe tranh nhau và cũng tiện để xem. Còn những người tham gia tranh tài thì trong tư thế sẵn sàng, mắt hướng về phía giàn cao, chờ đợi…
Bỗng trên đài cao, vị chủ tế- thường trước đây cũng là người giỏi võ- bê con heo quay từ trên đàn cúng quay ra phía đám đông bên dưới, rồi dùng cả sức mạnh, tung con heo ra xa để rơi xuống đất. Đó là giây phút căng thẳng nhất sẽ quyết định quà thưởng đó rơi vào tay ai. Các võ sĩ tài nghệ cao, phi thân lên đón lấy con heo từ trên cao, nhưng rồi phải luồn lách, lao ra khỏi đám đông, mang con heo quay chạy về địa điểm an toàn đã định. Tất nhiên, mỗi nhóm tranh tài đã có phân công người bảo vệ, cản ngăn những đối thủ lợi hại khác có thể giật lại ngay trên tay. Trong cuộc tranh tài này, các võ sĩ dùng tất cả ngón võ, chiến thuật khôn ngoan để giành chiến thắng về mình.
Theo tục lệ con heo quay chiến lợi phẩm này được đem xẻ ra để khao chung tất cả những võ sĩ cùng có mặt trong cuộc tranh tài này. Những võ sĩ hay những làng võ có người giành được phần thắng được mọi người hoan nghênh và nể trọng và họ tin rằng năm ấy họ sẽ gặp hên vì được “lộc của thần”. Thường thì những lò võ ở An Thái và huyện Bình Khê hay giành được vị trí đó. Vì vậy mới có câu: “Tiếng đồn An Thái, Bình Khê, nhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo”. Heo đây là heo quay, vật cúng thần trong ngày hội. Ý nghĩa của cuộc thi tài này không nằm trong giá trị vật chất của món quà giành được mà ở giá trị tinh thần, được thể hiện qua tài nghệ của những người dự cuộc với chỗ đứng danh dự trong làng võ.
Hội Đổ giàn là một cuộc tranh tài lí thú và hấp dẫn của vùng quê giàu tinh thần thượng võ được kết hợp một cách hài hòa với ngày hội chùa theo truyền thống dân gian: rằm tháng bảy”[4].
Đây có thể nói là bài viết giới thiệu ngắn gọn nhưng đầy đủ về hội đổ giàn
2.2.2. Trong công trình tập thể của Chi hội VNDG Việt Nam tỉnh Bình Định, “Vài nét cổ truyền ở các làng quê Bình Định” (Sở VHTT Bình Định xb, 2004), có bài viết “Trò chơi dân gian trong các hội làng ở Bình Định” của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân. Ông xem/ cho rằng “đổ giàn” như là một “tục”, một hình thức của trò chơi dân gian: tục cúng đổ giàn. Và tục này được miêu tả tách khỏi bối cảnh chung của lễ hội Đổ giàn. “Tục “Đổ giàn” là một thể hiện đời sống tâm linh của người Việt ở thôn làng dưới chế độ cũ”[5]. Mục đích của tục này là: “Hai thôn (An Thái và An Vinh) cùng tổ chức ngày tế lễ thần linh để cầu mong cho dân làng an khang- thịnh vượng làm ăn phát đạt”[6]. Nguyễn Xuân Nhân miêu tả: “Để tổ chức tế lễ, các chức sắc trong làng hướng dẫn dân chúng làm một cái giàn cao, vững chắc nơi tiến hành nghi lễ chung cho cả hai làng để kính cẩn đặt các vật hiến tế. Đồ vật hiến tế gồm một cỗ bánh to một người ôm không xuể. Trong cỗ bánh khổng lồ ấy có nhiều loại bánh dân làng thường làm khi tế thần. Ngoài ra còn có nhiều con heo đã được cạo lông, mổ bụng lấy lòng ra, xả thịt thật sạch sẽ, tinh khiết. Riêng con heo lớn nhất lại được vẽ rằn ri trên làn da cạo sạch lông trắng mịn, làm cho thân mình nó đặt úp sấp trên giàn giống như cọp. Dân làng quen gọi là “heo cọp”. Chuẩn bị xong, dân làng tề tựu đông đủ mới mời ông phụng tế đã ăn chay nằm dất từ đêm trước ra tiến hành nghi lễ tế thần. Tiến hành nghi lễ xong, sau một thời gian chờ thần hưởng đồ vật hiến tế thì tục “Đổ giàn” bắt đầu. Người được giao nhiệm vụ đứng trên giàn cao kêu gọi các em bé đứng vây quanh rồi lấy bánh trên cỗ tung liên tiếp xuống. Các em hò reo giành nhau bắt lấy bánh để ăn. Bánh đón bắt được vừa ngon vừa mang ý nghĩa linh thiêng vì nhận được lộc của thần ban cho. Hết phần các em thì đến người lớn. Và lần này thì là náo động và quyết liệt. các trai làng phải dùng sức mạnh và mưu trí để giành con heo đổ xuống cho làng mình, nhất là quyết giành cho được con “heo cọp”. Vì họ tin rằng làng nào cướp được nhiều heo và cả con “heo cọp” nữa thì năm đó trong làng làm ăn phát đạt, no ấm, ít bệnh tật và ốm đâu. Cuộc giành giật vật hiến tế giữa hai làng làm cho đổ cả giàn đồ hiến tế. Vì vậy nên dân gian mới gọi là tục “Đổ giàn”. Giành vật hiến tế là giành lộc của thánh thần, giành lộc trời ban, giành cuộc sống hạnh phúc về cho dân làng”[7].
2.2.3. Cho rằng lễ hội Đổ giàn không chỉ riêng có ở vùng An Thái, mà còn được tổ chức ở cả những nơi có thờ Thiên hậu Thánh mẫu, được gọi chung là chùa Bà, tác giả Nguyễn Phúc Liêm ghi nhận lễ hội “Đổ giàn ở Quy Nhơn” được tổ chức tại chùa Bà Quy Nhơn như sau:
“Lễ bái Thiên Hậu Thánh Mẫu được tổ chức hàng năm vào ngày rằng tháng 7 âm lịch là rằm lớn (Trung Nguyên) là ngày xá tội vong nhân, ban phước lành cho mọi người. Vào những năm Tỵ, Dậu, Sửu là những năm có hội đổ giàn theo thường lệ. Riêng những năm có hạn hán lớn thì hội đổ giàn được tổ chức đặc biệt bên cạnh gọi là lễ Cầu Mưa. Những năm ấy thì ban trị sự có thông báo đến các địa phương trong vùng còn những năm quen thuộc, mặc dù không thông báo nhưng người đến dự lễ cùng các phái võ luôn được chuẩn bị chu đáo. Đây là dịp để họ thi thố tài năng lại vừa được lộc của bà. Trước lễ chừng dăm ba ngày, chùa bà được quét dọn sạch sẽ, khói hương thắp nhiều hơn ngày thường gọi là “Vọng”. Lễ vọng chỉ có vị từ thừa và một vài người trong ban quản trị ngũ ban đến trước. Sau đó là cuộc họp chuẩn bị trong chùa, các vật dụng thờ cúng được lau chùi, đặc biệt nhất là tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu đặc biệt chăm sóc. Theo dượng tôi là con ông Ban Đồng Quyên và một số con cháu hiện còn ở Quy Nhơn cho biết, tượng được tạc bằng trầm hương màu nâu đen, đặt trên một bệ gỗ quý, phía trong hướng áng, che hai cờ lồng. Trên hương áng là bộ đồ thờ rất đặc biệt. Cặp đèn được tượng trưng bằng đôi hạc ngậm lá sen. Đỉnh lư để xông trầm được tượng trưng bằng hình 7 con lân nâng quả cầu, gọi là “độc lạc thất lân”. Nắp lư cũng như xung quanh lư đều có những lỗ trống hình lá hay chữ thọ để hương trầm thoát ra ngoài. Mùi trầm hương từ tượng bà, từ các đỉnh khiến hương thơm ngất ngây khắp chùa.
Ngày đầu các thiện nam tín nữ ở gần đều tự nguyện đến chùa để lo việc cúng tế. Ba ngày đầu cúng chay. Lễ tụng niệm được các nhà sư vùng kế cận được mời đến để lo cúng tế. Trong khi đó thì bên ngoài một giàn cao dễ chừng đến 8m được dựng ngay trước sân gọi là “đàn tế trời”. Lễ vật không phải là những món chay như trong chùa. Trên lễ đàn đặt một hương án che bằng 4 – 6 ngọn cờ lồng. Cờ lồng làm bằng vải hình khối ống, có nhiều tua. Trên mặt cờ có chữ Hán trang trí công phu. Những năm làm ăn khá giả, dân trong vùng cúng đến 3 heo quay. Một lợn được quay vàng, trên thân lợn có những vằn đen gọi là “heo cọp”, hai con nhỏ hơn chỉ quay vàng. Ngoài ra còn một lá phướn. Phướn là cờ hình chữ nhật, chiều ngang chừng 0,5m, chiều dài cỡ 4m. Trên mặt phướn có ghi những dòng chữ Hán với ý nghĩa Thiên Hậu Thánh Mẫu độ trì chúng sinh. Kèm theo lá phướn có cả vàng mã và những lá bùa viết bằng son đỏ. Phướn được treo ngay trước lễ đài bằng một cây tre, phía đọt còn một túm lá tương tự như cây nêu. Trong khi đó thì các phái võ đã tập hợp ở trọ nơi nhà quen gần chùa để chờ đợi. Họ bàn bạc vạch đường lối và phong cách làm thể nào để đạt được kết quả tốt nhât mà không gây chấn thương cho các phái võ khác. Phải chăng đó là tinh thần thượng võ. Có phái muốn cướp heo cọp, có phái muốn giật phướn. Phướn đối với họ còn linh thiêng hơn cả heo quay. Vải phướn đem về may áo cho trẻ em, đó là những mảnh lớn. Những mảnh nhỏ đem may thành phái (túi nhỏ bên trong là những lá bùa hộ mệnh đôi khi còn có cả thuốc bùa, chưa biết là những chất gì, chủ yếu là long não).
Như chúng ta đã biết Bình Định là đất võ có nhiều làng được mệnh danh là làng võ. Sơ lược về các làng võ nổi tiếng: Quyền An Thái, An Vinh, roi Thuận Truyền, Côn chàng Lía ở Phú Lạc. Phú Lạc còn nổi danh với Tây Sơn tam kiệt và Mai Xuân Thưởng trong phong trào Cần Vương. Những võ sư danh tiếng như cồn: Hồ Ngảnh (Thuận truyền), Võ sĩ ba Đề. . . Làng An Vinh có hương mục Ngạc, hương Kiểm Mỹ, Bảy Lụt. . . Dư Đành. Ngoài nam võ sư còn các nữ võ sĩ Tám Cảng. Không kể hết được. Làng Phú Phong, An Thái, Liêm Trực cũng từng để lại nhiều giai thoại về nghề võ.
Nói về việc đổ giàn ở chùa Bà Quy Nhơn mà không nói đến các phái võ của làng Cẩm Thượng quả là thiếu sót. Nhà sư Thích Huyền An ở chùa Bích Liên nay là Minh Tịnh, sư Bửu Thắng chùa Quang Hoa, ngoài ra còn võ sĩ Bảy Tòng, Kim Sơn . . . Là địa phương được tổ chức đổ giàn mà để các phái võ khác đến chiếm được Phướn, được heo quay, quả là chuyện không chấp nhận được. Tiếng tăm sẽ bị mai một, vì thế mà cuộc đua tranh rất khốc liệt và chuyện thương tích là điều có thể xảy ra mặc dù trước đó họ luôn tâm niệm là tôn trọng tinh thần thượng võ.
Giàn và lễ vật đã chuẩn bị đâu vào đó, chờ đến 12 giờ khuya đêm 16 là mọi việc sẽ kết thúc. Ban quản trị Ngũ ban cử người lo việc tế lễ vị này gọi là chủ tế hay chánh tế phải trải qua các lễ nhỏ. Trước tiên phải tắm rửa sạch sẽ, ăn chay nằm đất suốt ba ngày, không được gần vợ con. Đến giờ Tuất nghi lễ được cử hành theo đúng nghi thức tụng niệm. Mọi thủ tục đều ghi đầy đủ trên sớ. Từ việc dâng hương và rượu, lạy bao nhiêu lạy v.v. . . Khi mọi thủ tục đã xong thì bên dưới sân đã rộn ràng. Sân chùa Bà ngày xưa rất rộng từ chùa ra đến Đầm Thị Nại dễ chừng hơn 100m. khi lễ vừa dứt thì các võ sĩ đã sẵn sàng, vừa nhảy nhót vừa hô hoán vang dậy cả một vùng. Trước tiên là những cỗ vật phẩm như bánh trái được xô xuống trước. Họ chen nhau tranh dành, đó là lộc của Bà tiếp đến là ba con heo quay cũng được đổ xuống, đây là lúc xôn xao ồn ào nhất. Cướp được heo quay chưa phải là thắng mà phải làm thế nào để đem về đến nơi an toàn. Vì lẽ các phái võ khác có quyền cướp lại trên tay người được. Trong khi ấy lá phướn đã bắt đầu lung lay, một vài người đã dùng thế võ nhảy lên đè cây nêu xuống giật phướn. Vì thế lá phướn chẳng bao giờ nguyên vẹn. Quang cảnh thật hỗn độn, mãi cho đến khi những vật phẩm đã biến mất trong màn đêm cuộc tranh giành mới chấm dứt.
Vài năm gần đây lễ đổ giàn được khôi phục lại sau hơn 50 năm ngơi nghỉ. Số người tham dự khá đông ngoài dự tính của ban tổ chức. Hội được tổ chức lại ở An Thái đông đến nỗi sân hội quán không đủ sức chứa. Họ chen nhau ngồi cả trên nóc chùa và các nhà lân cận. Hi vọng rằng những năm tới hội đổ giàn sẽ đựơc tổ chức chu đáo hơn. Ngoài tính tâm linh hội đổ giàn là một tập tục đẹp đẽ đem lại cho dân chúng nhiều nguồn vui sau những ngày lao động vất vả”[8].
Như vậy, lễ hội đổ giàn là một lễ hội được tổ chức những nơi ở Bình Định - nơi có cộng đồng người Hoa sinh sống, lập chùa Bà, thờ Thiên Hậu thánh mẫu, và phải là nơi có truyền thống võ thuật như ở Bình Định với các huyện, thị xã, thành phố: An Nhơn, Quy Nhơn. Tác giả Huỳnh Kim Bửu viết: “Lễ hội chùa Bà- An Thái không khác lễ hội chùa Bà nhiều nơi trong tỉnh Bình Định, như các lễ hội chùa Bà thôn Liêm Lợi (xã Nhơn Phong- An Nhơn), chùa Bà đường Bạch Đằng (phường Trần Hưng Đạo, TP Quy Nhơn)…Nhưng tính hấp dẫn thì lễ hội chùa Bà- An Thái vẫn hơn”[9]. Tính hấp dẫn và hơn hẳn đó có được là vì, vùng đất An Thái là vùng đất võ!
2.3. “Lưu dấu” trong tác phẩm văn học: trường thiên tiểu thuyết lịch sử “Sông Côn mùa lũ”
Bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử “Sông Côn mùa lũ” của nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã tái hiện trọn vẹn cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn do 3 anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Huệ- Nguyễn Nhạc- Nguyễn Lữ lãnh đạo. Vì là tiểu thuyết lịch sử, nên bên cạnh những yếu tố hư cấu, thì những yếu tố lịch sử, sự thật lịch sử vẫn chiếm phần lớn. Do vậy, những gì được miêu tả trong tiểu thuyết vẫn mang tính chân thực. Lễ hội Đổ giàn/ tục đổ giàn được tác giả Nguyễn Mộng Giác nhắc đến 5 lần trong Phần đầu tiên (Phần I: Về An Thái) của bộ tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ (tiểu thuyết có 6 phần và phần kết từ). Phần này nói về vùng đất An Thái, từ năm 1765, sau khi Trương Phúc Loan giết quan nội hữu Trương Văn Hạnh, gia đình giáo Hiến (Trương Văn Hiến) đem cả gia đình (gồm vợ và năm con, bốn trai một gái) trốn khỏi Phú Xuân bằng thuyền, đến quê vợ An Thái lánh nạn và định cư. Chính ở đây, giáo Hiến làm quen với biện Nhạc (Nguyễn Nhạc) và dạy học, dạy võ cho hai cậu em Lữ và Huệ (Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ). Kể từ đó, gia đình giáo Hiến gắn bó với vùng đất An Thái (An Nhơn, Bình Định) và với phong trào Tây Sơn của 3 anh em Nguyễn Nhạc.
Bối cảnh của những lần (lễ) hội Đổ giàn được nhắc đến trong Phần 1: An Thái của bộ tiểu thuyết như sau:
Khi gia đình Giáo Hiến đang ở trên mảnh đất An Thái, ông nhớ lại câu chuyện của ông nhạc (bố vợ Giáo Hiến) kể với ông về quê nhà: “Xứ sở này hoàn toàn xa lạ đối với ông. Và cả vợ ông. Đã đành trong những cơn say, cha vợ ông giáo có nói đến từng mảng, từng mảng rời rạc của xứ này. Nhưng trí nhớ mù mờ, lung linh giữa hơi men thật khó tin cậy lắm Ông giáo nghe ông nhạc kể chuyện một tối đi đứng nhá bên bờ sông nước lũ, một bữa nhậu với tôm nướng vừa câu được ngay bên bờ đầm Thị Nại, một cuộc săn đuổi đám lục lâm chuyên nghề buôn nguồn. Chuyện một thuộc hạ giỏi võ đổ cát vào hai ống quần buộc túm lại để tập nhảy qua rào. Dòng họ Trần ở Mỹ Cang vì tranh nhau đổ giàn mà suýt chút nữa đốt cháy cả làng của dòng họ Lê ở Nước Mặn”[10]
- Khi Giáo Hiến đứng trên mảnh đất quê nhà của ông nhạc, xác định: “Còn chỗ này là cái xóm dòng họ Lê suýt bị thiêu rụi vì một trận đổ giàn?”[11].
- Lãng trách cứ anh mình, Chinh, vào lúc mẹ mất: “Anh ấy không dự đổ giàn được nên đâm ra tức tối, giận lây đến mình. Mẹ mất, mà anh ấy còn nghĩ đến chuyện đấu võ được ư? Anh ấy có thương mẹ không? Đáng giận thực, biết thế mình không nên đứng ra làm chứng cho anh ấy học võ”[12]. Xem ra đổ giàn có sức hấp dẫn, lôi cuốn mãnh liệt với những chàng trai trẻ có võ nghệ!
- Trong “bữa cơm thết tạ ơn những người đã giúp đỡ nhiều hôm làm
đám ma” vợ Giáo Hiến, mẹ của An, có “viên tri áp và ông xã trưởng đã giúp đỡ ông làm thủ tục khai tử và chôn cất” và nhiều người khác, mọi người bàn chuyện thua giàn của làng bên, và viên trí áp góp chuyện: “Ông giáo hối hận đã gợi một chuyện gay go. Ông muốn xoay sang câu chuyện khác, nhưng không khí bàn tiệc trở nên khó thở. Ông lúng túng không biết phải làm thế nào. Chú Ba Vận cứu ông đúng lúc. Chú hỏi Thận: - Bên đó bàn tán chuyện thua giàn ra sao? Thận liếc nhìn hai chức sắc, do dự không biết trả lời thế nào cho phải. Anh ậm ừ: - Buồn lắm. Như có đám ma. Viên tri áp lại được dịp tỏ uy quyền:- Cả cái tục đổ giàn nữa, quan huyện quở nặng lắm. Quan đe sang năm nếu không bỏ, sẽ khép tội những người đầu sỏ. Đánh chết người phải thường mạng! Câu chuyện hoàn toàn tắc tị”[13]
Tuy là tiểu thuyết, nhưng với những chất liệu sử học được nhà văn miêu tả, cũng cho chúng ta chỉ dấu rằng, ít nhất lễ hội Đổ giàn đã có từ lâu, ít nhất là từ thời (hoặc) trước thời Tây Sơn khởi nghĩa, nghĩa là vào thế kỉ XVIII.
2.4. Trong kí ức của người lớn tuổi/ các nhà văn từng sống ở địa phương. Đây là nguồn “lưu đấu sống”, rất đáng tin cậy
+ Trong rất nhiều dòng hồi ức của mình, Chế Lan Viên đã có những dòng hồi ức sâu đậm về vùng đất An Thái và lễ hội đổ giàn, nó đã in đậm trong những sáng tác của ông, góp phần tạo nên “chất anh hùng ca trong thơ ông” sau này:
"Chả lẽ lại nói là những kiểu kiến trúc đặc biệt nhà lá mái, bộ cửa bàn khoa Bình Định hay cái vòng quay kiên trì triền miên của các xe nước ngoài Quảng Ngãi đã cho tôi sự chịu khó trong thơ? Nhưng quả là những đêm hát bội ở An Vinh, các cuộc đổ giàn ở An Thái làm cho tôi yêu chất hùng tráng - sau này ta gọi là sử thi hay là gì nhỉ? Rồi đây các bạn cũng nên tổ chức lại hội đổ giàn, đó chả là Olympic (Olympic) của ta đấy sao? Một cái giàn cao hàng chục mét, có con heo trên ấy và dưới đất là hàng chục võ sĩ từ Quy Nhơn, Đập Đá lên, Bình Khê xuống, Hoài Ân, Hoài Nhơn vào, cùng với các võ sĩ An Thái, An Vinh tại chỗ đang chờ đợi. Khi con heo ném xuống là một cuộc "Tỉ thí lôi đài" dữ dội để giành cho được con heo kia, dấu hiệu đoàn nào sẽ là vô địch năm này. Chất hùng ca trong thơ làm sao không dính líu, cái dây hồng trong thơ làm sao không dính líu với các cuộc đổ giàn thượng võ này?"[14]
+ Nhà văn Huỳnh Kim Bửu, sinh năm 1942 tại Nhơn An, An Nhơn, Bình Định. Ông viết nhiều bút kí, tản văn về quê nhà An Nhơn của mình. Trong tập tản văn, bút kí “Nơi con sông Côn chảy qua” (2009) có bài “Rủ nhau đi hội Đổ giàn”. Ông đã miêu tả hội đổ giàn: “Đứng bên cỗ cúng có ông chủ tế, mấy phụ tế cùng người bảo vệ. Ông chủ tế khấn cũng, cầu cho “mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an” xong thì cho lệnh đánh ba hồi chiêng trống để báo rằng đã đến lúc bắt đầu cuộc tranh tài. Chính ông chủ tế đích thân bưng con heo quay và cỗ lễ vật cũng tung lên cao cho nó rơi xuống. Cử chỉ đó được gọi là xô cỗ (còn gọi là xô giàn, đổ giàn). Tức thì võ sĩ đâu từ đám đông, không biết bao nhiêu người xô dạt rừng người xem, phi thân lên cao, cùng tranh cướp con heo quay. Đám đông ngả nghiêng, sôi lên cực kì, thiếu điều giẫm đạp lên nhau, may mà người già, phụ nữ, trẻ em đã sớm dãn ra chỗ trống để đứng xem từ xa cho được an toàn”, “Con heo quay được đem ra xẻ làm nhiều phần, khao chung cho những người vừa rồi đã có mặt trong cuộc tranh tài cao thấp”[15]. “Lễ hội chùa Bà- An Thái không khác lễ hội chùa Bà nhiều nơi trong tỉnh Bình Định, như các lễ hội chùa Bà thôn Liêm Lợi (xã Nhơn Phong- An Nhơn), chùa Bà đường Bạch Đằng (phường Trần Hưng Đạo- TP Quy Nhơn)…Nhưng tính hấp dẫn thì lễ hội chùa Bà- An Thái vẫn hơn”[16].
+ Tác giả Trần Duy Đức, tại Nhơn Mỹ, An Nhơn, Bình Định; trong tập sách tản văn, bút kí “Tìm lại dấu xưa” (2014) có bài “Dấu xưa An Thái”. Bài này có đoạn: “Nằm đối diện với làng võ An Vinh bên kia sông, An Thái được chọn làm nơi tổ chức Lễ hội Đổ giàn, biểu trưng tinh thần thượng võ của Bình Định, là lễ hội Văn hóa- Thể thao có quy mô lớn, được tổ chức vào dịp lễ Vu Lan (rằm tháng 7 âl). Kéo dài 3 ngày đêm theo chu kì tam hạp Tỵ- Dậu- Sử, tức là 4 năm tổ chức một lần. Sau 69 năm gián đoạn do nhiều nguyên nhân, năm Ất Dậu 2005, được sự giúp đỡ của các ngành, con cháu của Ngũ bang Hội quán qui tụ về lo khôi phục lễ hội truyền thống đặc sắc này. Do tính chất và qui mô của lễ hội Đổ giàn quá lớn, tốn kém nhiều, một số bà con người Hoa, người Việt làm nòng cốt, có tâm huyết với lễ hội đang sinh sống ở xa, nên tổ chức không thường xuyên theo chu kì, nhưng đông đảo người dân từng gắn bó với quê hương đất võ An Thái đều mong muốn duy trì Lễ hội Đổ giàn. Tôi có dịp gặp Diệp Thị Lệ Bích, cháu nội của võ sư Diệp Trường Phát- Tàu Sáu, Việt kiều từ Vương quốc Anh về quê dự giỗ Tổ dòng họ Diệp tại An Thái và xin cơ quan chức năng giúp đỡ để phục hồi môn phái võ Bình Thái Đạo của họ Diệp, mà Lệ Bích đang là Chưởng môn của trường phái này ở nước ngoài. Hậu duệ họ Diệp- Diệp Lệ Bích cùng với đông đảo bà con đang sinh sống tại quê nhà An Thái hoặc làm ăn ở xa cũng đều mong muốn hồi sinh võ cổ truyền ngay trên miền đất võ và khôi phục lễ hội Đổ giàn”[17]
Cũng tác giả Trần Duy Đức (2004), trong một bài báo trên báo Bình Định điện tử, “Lễ hội đổ giàn An Thái”, viết: “Mảnh đất An Thái xã Nhơn Phúc (An Nhơn) từng nổi tiếng là cái nôi võ Bình Định, cũng là nơi có nhiều gia đình người Hoa sinh sống, đan xen với cộng đồng người Việt, làm cho đời sống văn hóa người dân vùng đất này thêm phong phú. Để không ngừng nâng cao võ thuật cho các phái võ, ở vùng này không những thường tổ chức đấu võ đài, mà còn có hình thức cao hơn là tổ chức Lễ hội Đổ Giàn do một số dòng họ người Hoa lĩnh xướng. Chùa Ngũ Bang Hội Quán là nơi diễn ra lễ hội Đổ Giàn, từ ngày rằm đến 16 và 17 tháng 7 âm lịch (4 năm tổ chức một lần).
Cụ Tạ Chương Phát, năm nay 76 tuổi, kể lại diễn biến lần tổ chức lễ hội Đổ Giàn sau cùng, lúc ấy cụ đã 16 tuổi. Về phần lễ, khoảng 2-3 giờ sáng rằm là bắt đầu lễ rước nước, lấy từ sông Kôn, cách vài ba cây số về phía thượng nguồn ở đoạn sông sâu, nước trong sạch nhất. Nước được chứa trong cái chum đất mới sạch sẽ để trên kiệu hoa gọi là Long Đình, có cờ phướn, nhạc, chiêng trống… Ban lễ đưa nước về dâng lên bàn thờ Phật trong chánh điện và các bàn thờ hai bên tả hữu. Mờ sáng ngày rằm là tiến hành lễ rước Phật, có chiêng trống, cờ phướn, học trò gia lễ đi hai bên kiệu hoa, đi giữa là ban lễ. Xuất phát từ chùa Hội Quán lần lượt đi hết các chùa của người Hoa trong phố và đến chùa Phổ Tịnh là chùa Phật để làm lễ rước Phật, thỉnh kinh, thỉnh thầy. Hai bên dãy phố, nhà nào cũng thiết hương án, lễ vật trước sân, khi đoàn rước Phật đi ngang thì chủ nhà ra cắm hương trên kiệu hoa. Bắt đầu khai lễ tại chánh điện là làm thủ tục cung nghinh chức sự (chủ sám, kinh sư, công văn, thuyết pháp…) và trình tự khai kinh, niệm kinh, tụng kinh, trai đàn và cúng chẩn diễn ra suốt 3 ngày đêm.
Phần hội được chuẩn bị khá công phu, tốn kém. Cụ Thái Giáo Thông, 72 tuổi, mô tả: Một khán đài (giàn) bằng gỗ và tre được dựng lên trước cổng chùa. Giàn cao hơn 2 mét, chiều rộng mỗi bề khoảng 4 mét đủ đặt hương án, lễ vật gồm tam sanh (heo, bò, dê) và hoa quả, đứng cúng trên giàn lễ chỉ có ban lễ và học trò gia lễ, áo mão theo từng chức sự của nghi thức.
Tối rằm là làm lễ phóng đăng, phóng sanh (chim, cá) ở giữa sông Kôn; múa lân và hát bội; 3 đêm liền nhà nào cũng thắp đèn lồng rực sáng cả phố chợ và hương án trước nhà. Trước sân chùa có dựng một ngôi nhà tạm lắp ghép bằng gỗ được làm sẵn, xong lễ hội là xếp lại đến kỳ sau lại dựng lên. Khách thập phương xa gần đến dự lễ hội, kể cả người hành khất đều được vào nhà tạm ăn uống, nghỉ ngơi. Thời đó, ở An Thái nhiều người Hoa giàu có nên khả năng đóng góp cho lễ hội rất lớn.
Trong phần hội quan trọng nhất là Đổ Giàn, sau 2 ngày 16 và đến trưa 17 là hoàn mãn, đúng giờ mùi (khoảng 13 giờ) là lên Giàn chẩn. Ba hồi chiêng, trống vừa dứt là Đổ Giàn. Võ sĩ từ các võ đường bên này, bên kia sông Kôn được tề tựu trước, bắt đầu ra tay giật phướn, giật heo… Hầu như Đổ Giàn năm nào phần thắng cũng thuộc về các võ sĩ An Thái, vì bản lĩnh võ công và vì lợi thế "sân nhà". Vì tinh thần thượng võ nên các trường phái võ thắng không kiêu, bại không nản.
Ngót 60 năm rồi, lễ hội Đổ Giàn chưa có dịp khôi phục lại như xưa. Sang năm 2005 (năm Dậu) đúng chu kỳ tổ chức lễ hội, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định đang phối hợp với địa phương khảo sát, chọn lọc tư liệu để xây dựng đề án, dàn dựng kịch bản chuẩn bị khôi phục lễ hội Đổ Giàn. Một lễ hội có ý nghĩa tôn vinh tinh thần thượng võ trên miền đất võ An Thái, đã từng góp phần quan trọng trong lịch sử chống ngoại xâm để cho "Quốc thái - Dân an", làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa của quê hương Bình Định”[18].
2.5. Trong các phương tiện thông tin đương đại
+ Trong sách “Tài liệu giáo dục địa phương Bình Định” lớp 3 (Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Định) có một chủ đề, chủ đề 5, “Lễ hội Đổ giàn An Thái”. Phần khởi động, với câu hỏi: “Theo em, những câu ca dao sau nhắc đến lễ hội nào? “Đồn rằng An Thái, chùa Bà/ Làm chay, hát bội đông đà quá dông/ Đàn bà cho chí đàn ông/ Xem xong ba ngọ, lại trông đổ giàn”. Phần khám phá, giới thiệu về Lễ hội Đổ giàn An Thái như sau: “ Ở những năm Tị, Dậu, Sửu, vào tháng 7 âm lịch, tại Ngũ Bang hội quán thuộc thị tứ An Thái (địa điểm chính), xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn một lễ hội dân gian diễn ra khá quy mô, có nghi thức xô cỗ, đổ giàn, về sau gọi cả diễn trình là lễ hội Đổ giàn. Trong quá trình tổ chức lễ hội, các võ đường có điều kiện giao lưu, học hỏi lẫn nhau về võ thuật. Hội Đổ giàn góp phần phát triển võ cổ truyền An Thái. Hơn nữa, sự phát triển của võ cổ truyền ở nơi đây cũng góp phần tạo cho lễ hội có các hoạt động phong phú, sinh động, thu hút sự quan tâm của nhiều người dân”. Sau đó là câu hỏi để tìm hiểu những nét đặc trưng của lễ hội Đổ giàn An Thái. Trong phần nêu ý nghĩa của lễ hội, sách viết: “Trong lễ hội có các hoạt động: rước nước, múa lân, rước hương, chưng cộ, hát bội, phóng sanh… vào những ngày diễn ra lễ hội, nhà nào ở An Thái cũng treo đèn, kết hoa, trống giong cờ mở rộn rã suốt ngày đêm. Lễ hội Đổ giàn không chỉ là một cuộc trạnh tài lí thú và hấp dẫn, mà còn là nét văn hóa, có ý nghĩa tôn vinh tinh thần thượng võ trên miền quê An Thái. Ngày nay, tiến trình lễ hội được chính quyền địa phương khôi phục, gìn giữ và phát huy nét đặc sắc, phục vụ nhu cầu thưởng thức, tìm hiểu của nhân dân và du khách thập phương, góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa của quê hương Bình Định”[19]. Kết thúc chủ đề là phần thực hành, nêu những thông tin về lễ hội, và em làm gì để giữ gìn nét đẹp của lễ hội, và vận dụng.
Nói rằng, lễ hội ngày nay đã được “chính quyền địa phương khôi phục, gìn giữ và phát huy” là “cầm đèn chạy trước ô tô”, vì đã hơn 70 năm nay lễ hội không được diễn ra, và chính quyền địa phương đang tìm cách khôi phục một cách căn cơ.
+ Trên cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh Bình Định (https://binhdinh.gov.vn/ja/du-khach/le-hoi/le-hoi-do-gian-an-thai-thi-xa-an-nhon2.html; hay trên các trang web quảng bá du lịch http://dulichbinhdinh.com.vn/vi/news/le-hoi/le-hoi-do-gian-128.html...
2.6. Qua phục dựng lễ hội Đổ giàn An Thái vào năm 2005
Việc phục dựng lại lễ hội vào năm 2005 đã được nói ở trên. Lễ hội được phục dựng trên kết quả của sự cố gắng thu thập mọi thông tin, dữ liệu cần thiết cho lễ hội qua sự truyền miệng của những người lớn tuổi đã từng mục kích lễ hội cách đó 64 năm, để hình thành nên nội dung và diễn trình của lễ hội. Diễn trình của lễ hội cũng được ghi hình để nghiên cứu về sau.
3. Diễn trình lễ hội Đổ giàn
Trải qua 64 năm bị gián đoạn (Tân Tỵ 1941 - Ất Dậu 2005), vào năm Ất Dậu 2005- năm định kỳ tổ chức lễ hội, Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Bình Định đã phối hợp với chính quyền địa phương chính thức cho phép xã Nhơn Phúc triển khai kế hoạch khôi phục lễ hội Đổ Giàn ở An Thái, khôi phục một số nghi thức, hội lễ, đáp ứng phần nào nhu cầu hưởng thụ nét văn hóa đặc sắc từ lễ hội Đổ giàn ở An Thái của người dự hội. Tác giả Nguyễn Văn Ngọc là một trong những người làm hồ sơ để phục dựng lại lễ hội này năm ấy. Diễn trình của lễ hội được thể hiện trong năm ấy, dựa vào những tư liệu ghi chép cũ và trong lời kể của các bậc cao niên, của những người trực tiếp tham gia và tổ chức lễ hội đổ giàn khi xưa cung cấp. Do vậy, theo tác giả Nguyễn Văn Ngọc (2005), lễ hội được phục dựng bao gồm 2 phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ bao gồm nhiều lễ thức như:
“Diễn trình lễ trước đây, tùy từng giai đoạn, thời kỳ được diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 7 âm lịch, có những nghi thức: Lễ rước nước, lấy nước từ sông Côn về Hội quán, dâng lên bàn thờ Thiên hậu Thánh mẫu và các bàn thờ khác trong Chánh điện Hội quán; chuẩn bị các vật dụng cần thiết, ban nhạc cổ truyền với đầy đủ nghi thức lễ rước do Ban tế lễ thực hiện.
Lễ rước cỗ, được tiến hành đến từng nhà mà người ta đã có lòng hảo tâm cúng dâng lễ những mâm cỗ gạo, cỗ muối, bánh, cỗ heo… các cỗ này rước về đặt trước bàn thờ ở Hội quán.
Lễ rước Phật, được tiến hành từ chùa Phổ Tịnh về nơi tổ chức lễ hội (Ngũ bang Hội quán); gồm có kiệu, trống, chiêng, ban nhạc, cờ nhà chùa do ban tế lễ điều hành.
Lễ rước hương, được tiến hành từ chùa Ông, chùa Bà, chùa Bà Hỏa về Ngũ bang Hội quán.
Chưng cộ đất, dùng xe cộ bánh bằng gỗ (có người kéo) dựng cảnh trên một số địa điểm để thể hiện tích xưa như thầy trò Tam Tạng đánh nhau với Ngưu Ma Vương, Bà la sát, Hồng Hài Nhi hoặc cảnh Thiên hậu Thánh mẫu cứu nạn...
Lễ rước đèn múa lân, được biểu diễn khắp các ngả đường trong thị tứ vào chiều và tối các đêm diễn ra lễ hội.
Nghi thức cúng chay liền ba Ngọ (ngày 14, 15, 16 tháng 7 âm lịch) được tiến hành tại Ngũ bang. Ban ngày tiến hành nghi thức dâng hương, cúng lễ ba ngọ chay, dâng sớ, lễ chẩn tế (cúng chẩn) liên tiếp 3 ngày.
Khi tổ chức xong ba ngọ chay thì các cỗ tế được chuyển về Trai đàn trước sân chùa, tiến hành nghi thức khai đàn, chẩn tế, lá phướn lúc này được treo trên nóc chùa, nghi thức cầu an, chuẩn bị cho diễn trình xô cỗ đổ giàn.
Cùng thời điểm diễn ra nghi thức cầu an, cầu siêu (tại Ngũ bang Hội quán), nghi thức du hương, chưng cộ đất (trên các ngả đường và vị trí đã định: Ngũ bang Hội quán, chùa Ông, chùa Bà, chùa bà Hỏa và các ngả đường An Hòa trang, Xuân Quang trang) được tiến hành. Lúc bấy giờ võ sư, võ sĩ của các võ đường về tham dự lễ hội đã sắp xếp bố trí khá chu đáo, chặt chẽ, tất cả đều tập trung tinh thần, quyết tâm thể hiện tính thượng võ trong biểu diễn võ thuật cổ truyền để được cỗ heo trang trọng nhất và lá phướn danh dự, tượng trưng cho tinh thần thượng võ.
Trước giờ đổ giàn, được tiến hành đăng đàn chẩn tế, kết thúc hạ đàn có nghi thức phóng sanh. Ba hồi trống, chiêng khai lễ vừa dứt, nhân dân tập trung ào vào trong tiếng hò reo vang động cả một vùng. Lúc bấy giờ võ sĩ của các võ đường ra trận theo thỏa ước quy định của Ban tổ chức, họ thể hiện tài trí quyết liệt. Nếu giành được phần thắng, uy tín và tiếng vang của võ đường sẽ nhân lên gấp bội, mang phần danh dự về cho địa phương và bản thân mình. Tuy nhiên, thắng thua trong việc tranh đấu là lẽ thường tình, các võ sư vẫn thường xuyên nhắc nhở các võ sĩ không vì mục đích giành phần thắng mà sử dụng những thủ đoạn trong thi đấu; đã là võ sư võ sĩ phải đặt chữ “Tâm” “Nhẫn” “Thiện” “Đạo” lên hàng đầu, phải quyết giành chiến thắng trong danh dự, phải biết học hỏi kỹ năng, kỹ xảo giao chiến của đối phương trong từng trận đấu để liên tục bổ sung kinh nghiệm cho bản thân… Có như thế mới góp phần nâng cao năng lực bản thân và uy tín võ đường, từ đó đề cao “tinh thần thượng võ” của cha ông đã lưu truyền và giữ vững truyền thống võ nghệ Bình Định nói chung, vùng quê An Thái nói riêng.
Trước đây, điều vinh dự và quyền lợi thiết thực mang lại cho các sư sĩ nhân dịp lễ hội Đổ giàn là các quan phủ trấn đến dự lễ hội sẽ tuyển chọn ngay người tài đã giành được phần thắng qua trận quyết đấu để giúp địa phương trong việc luyện binh, giữ gìn an ninh trật tự địa phương lúc bấy giờ.
Sau nghi thức đổ giàn, buổi chiều và ban đêm người dân tiếp tục được thưởng thức các hoạt động văn hóa dân gian, phóng đăng bên bờ sông Côn, múa lân đi khắp các ngả đường trên địa bàn thị tứ An Thái và tổ chức hát bội tại Hội quán”.
Trong lễ hội, cũng theo Nguyễn Văn Ngọc (2005) còn có các tiết lễ sau: lễ chay, lễ rước nước, lễ rước cỗ, rước đèn múa lân, lễ rước hương, chưng cộ đất, đăng đfan chẩn tế, nghi thức phóng sanh, hội đổ giàn, xây chầu hát bội[20].
Lễ hội Đổ giàn ở An Thái là cả diễn trình nhiều tiết lễ, nhiều hoạt động văn hóa. Nhưng thực sự từ xưa nay, nói đến lễ hội Đổ giàn thì mọi người chú ý đến nghi thức xô cỗ đổ giàn, một hội tràn đầy tinh thần thượng võ.
4. Tiểu kết từ những “lưu dấu” về lễ hội Đổ giàn
4.1. Lễ hội đổ giàn An Thái đã có từ rất lâu, ít nhất từ giữa thế kỉ XVIII. Nó “lưu dấu” trong những vần ca dao lưu truyền lâu đời trong người dân nơi này; trong kí ức của những bậc cao niên địa phương; lưu dấu trong văn học thành văn... Điều kiện cần và đủ để hình thành lễ hội là sự có mặt của cộng đồng người Hoa Minh Hương đến cư trú vùng đất An Thái, họ thờ Thiên hậu thánh mẫu, và họ truyền dạy võ thuật, và kết hợp với nền võ thuật tại chỗ đã hun đúc nên tinh thần thượng võ cho người dân nơi đây. Sau đó lễ hội đã được gắn kết với phong trào nông dân khởi nghĩa Tây Sơn và võ Tây Sơn - Bình Định!
4.2. Qua sự miêu tả lễ hội Đổ giàn của nhiều tác giả nói trên, diễn trình lễ hội có thể có những nét khác biệt. Tuy nhiên, đó là chỉ là “tiểu dị”. Nhìn chung, lễ hội có những nét “đại đồng” khá lớn, khá thống nhất. Đó là, lễ hội có phần lễ gắn với lễ chùa, thờ Bà Thiên hậu thánh mẫu, với nhiều nghi thức đặc trưng; phần hội với tục/ hội đổ giàn. Do phần hội (Đổ giàn) là phần nổi trội nhất, hấp dẫn nhất, thu hút nhiều người tham dự nhất cho nên lễ hội còn có tên gọi khác/ gọi tắt là lễ hội/ hội xô cỗ, đổ giàn. Và cũng chính tên gọi như thế đã cho thấy nét đặc trưng nổi trội của lễ hội vẫn là phần đổ giàn/ xô cỗ. Do vậy, lễ hội này đã xuất hiện trong kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam với tên gọi là “Hội Đổ giàn” (Nhiều tác giả: 1999). Và như đã nói ở trên, chúng ta thống nhất tên gọi lễ hội là: Lễ hội Đổ giàn An Thái.
5. Vì sao lễ hội Đổ giàn An Thái vắng bóng hơn 70 năm qua
Bối cảnh của sự vắng bóng lễ hội được Nguyễn Văn Ngọc (2005) nêu ra như sau: “Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, thực hiện “tiêu thổ kháng chiến” để bảo vệ đoàn kết dân tộc, dồn sức người sức của đánh thực dân Pháp xâm lược, lễ hội đã không được tổ chức. Năm Tân Tỵ (1941) lễ hội đã diễn ra hơn 3 ngày đêm với đầy đủ các nghi thức trong diễn trình không gian, thời gian hội lễ. Trước và sau năm 1975, nhiều lần cho mở lại lễ hội nhưng rất èo uột và lễ hội chỉ còn trong kỷ niệm. Năm 1989, huyện An Nhơn có khôi phục lại một số nghi thức lễ và một vài tiết mục hội của lễ hội Đổ giàn, nhưng vẫn ở dạng sân khấu hóa, chưa phải đích thực là một lễ hội truyền thống đã từng tồn tại trong lịch sử hình thành thị tứ An Thái và trong lòng dân An Thái nói riêng, Bình Định nói chung. Những năm gần đây, khá nhiều du khách mọi miền đất nước tìm hiểu về truyền thống thượng võ và những nét văn hóa đặc sắc thể hiện thông qua diễn trình lễ hội Đổ giàn, tinh thần nhân ái thấm nhuần trong phần nghi lễ chẩn tế cũng là điều đáng ghi nhận. Lễ hội cũng đã được các cấp chính quyền chú ý đến, tìm biện pháp để khôi phục, bảo tồn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc đã được người xưa gầy dựng. Trải qua 64 năm bị gián đoạn (Tân Tỵ 1941 - Ất Dậu 2005), năm định kỳ tổ chức lễ hội, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Bình Định đã phối hợp với chính quyền địa phương chính thức cho phép xã Nhơn Phúc triển khai kế hoạch khôi phục lễ hội Đổ Giàn ở An Thái, khôi phục một số nghi thức, hội lễ, đáp ứng phần nào nhu cầu hưởng thụ nét văn hóa đặc sắc từ lễ hội Đổ giàn ở An Thái của người dự hội”[21].
Dưới đây là một vài lí do:
5.1. Do chiến tranh kéo dài, do thay đổi chế độ chính trị dẫn đến thay đổi quan niệm
Lễ hội được hình thành trong thời phong kiến, gắn với tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa, và tinh thần thượng võ của người An Thái khi tiếp nhận võ thuật cổ truyền cộng với tinh hoa võ thuật của người Hoa. Sau 1945, đất nước đang thời chiến tranh, tập trung sức người, sức của để đánh đuổi ngoại xâm Pháp và Mỹ. Thêm vào đó, lễ hội với nhiều nghi lễ, mang màu sắc phong kiến, mê tín, nên dưới chế dộ mới, hầu hết những lễ hội có nhiều nghi lễ đó thường không được tiếp tục diễn ra trên khắp cả nước. Lễ hội Đổ giàn cũng trong suy nghĩ chung đó.
5.2. Lí do kinh tế: Để tổ chức lễ hội sẽ rất tốn kém
Để tổ chức một lễ hội, rất cần rất nhiều nhân tài, vật lực. Lễ hội Đổ giàn trước hết là lễ hội gắn kết của cộng đồng người Hoa ở An Thái. Trong chiến tranh, cộng đồng người Hoa sống tứ tán, có người sống xa quê hương, Tổ quốc nên điều kiện tập trung để tổ chức lễ hội là không thể. Hơn nữa, việc tổ chức lễ hộ rất tốn kém, phải có sự đóng góp công sức của chính cộng đồng người Hoa và cả người Việt có tâm huyết. Cả hai điều này, trong thời gian qua, không tập trung được, nên lễ hội không diễn ra. Trần Duy Đức (2014) thấy rằng: “Do tính chất và qui mô của lễ hội Đổ giàn quá lớn, tốn kém nhiều, một số bà con người Hoa, người Việt làm nòng cốt, có tâm huyết với lễ hội đang sinh sống ở xa, nên tổ chức không thường xuyên theo chu kì, nhưng đông đảo người dân từng gắn bó với quê hương đất võ An Thái đều mong muốn duy trì Lễ hội Đổ giàn”.
5.3. Không phù hợp với thời đại, đáp ứng nhu cầu của nhân dân
Lễ hội cổ truyền là của quần chúng nhân dân. Họ là người làm ra, sáng tạo và cũng chính họ là người thụ hưởng. Mục đích của lễ hội đổ giàn nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng người Hoa nói riêng, của dân chúng nói chung, cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, nhân an vật thịnh thông qua lễ chùa, thể hiện tinh thần thượng võ của người dân An Thái nói riêng, người dân Bình Định nói chung. Trong đó phần hội đổ giàn trở thành mục đích chính. “Hội Đổ giàn là một cuộc tranh tài lí thú và hấp dẫn của vùng quê giàu tinh thần thượng võ được kết hợp một cách hài hòa với ngày hội chùa theo truyền thống dân gian: rằm tháng bảy” [22] (Nhiều tác giả, 2000, tr. 1093-1095).
Tuy nhiên, bên cạnh tinh thần thượng võ được đưa lên hàng đầu trong lễ hội, lễ hội vẫn không tránh khỏi những lúc xảy ra sự “tranh tài” quá quyết liệt dẫn đến bạo lục không đáng có. Nguyễn Văn Ngọc (2005) viết: “Trải qua diễn trình lịch sử, lễ hội đã tích hợp nhiều nét văn hóa, nhiều dòng văn hóa đa dạng và hấp dẫn của một vùng quê giàu tinh thần thượng võ được kết hợp hài hòa với ngày hội chùa theo truyền thống dân gian rằm tháng bảy âm lịch. Nhưng cũng có những thời gian thể hiện sự ganh đua giữa các phái võ, bang hội ở Hội quán mỗi lúc một căng thẳng, nhiều võ đường tham dự rất nhiều lần nhưng không một lần được nếm mùi danh dự, trọng vọng tại lễ hội, nên cũng đã có sự manh nha thù oán. Tính chất sát phạt, hằn thù mỗi lúc một căng; chính quyền đương thời thì đôi lúc có hiện tượng chẳng ngó ngàng can thiệp”[23]. Trong “Sông Côn mùa lũ”, Nguyễn Mộng Giác đã để cho viên tri áp lí giải vì sao tục đổ giàn bị quan quở phạt nặng, đe dọa sẽ cấm tiến hành vào năm sau: đó là do tính chất bạo lực, có thể gây chết người trong khi tiến hành “tranh tài” này: “Viên tri áp lại được dịp tỏ uy quyền: - Cả cái tục đổ giàn nữa, quan huyện quở nặng lắm. Quan đe sang năm nếu không bỏ, sẽ khép tội những người đầu sỏ. Đánh chết người phải thường mạng!”. Để việc đổ giàn diễn ra trong tinh thần kỉ luật như đã quy định không phải là dễ, một khi tính chất “ăn thua” đã lấn át “tinh thần thượng võ”, tinh thần “fair play”! Lúc đó, chính quyền sẽ không quản lí nổi sự quá đà của việc tranh tài, tranh hơn tục đổ giàn này![24]
Theo như người viết được biết, sau khi tổ chức phục hồi lễ hội vào năm 2005, vì không thể kham nổi việc đảm bảo an ninh trật tự trị an trong những ngày diễn ra lễ hội, nhất là khi có việc tranh giành heo trong đổ giàn, mà lễ hội không được tổ chức trong những năm sau đó. Có thể ngày xưa, người đến dự hội cũng đông, nhưng có trật tự hơn. Bây giờ, người đến dự hội, do điều kiện đi lại dễ dàng, du khách phương xa tìm đến nhiều hơn, thu hút khách tham dự trong một phạm vi rộng, lượng người đến với lễ hội vượt mức dự kiến gấp bộ, nên BTC, chính quyền địa phương rất vất vả, có thể không chu toàn trong việc đảm bảo an ninh, trật tự này!
6. Có nên khôi phục lễ hội Đổ giàn An Thái hay không
6.1. Không nên khôi phục
Đó là khi, căn cứ vào những lí do mà lễ hội gián đoạn trong hơn 70 năm qua mà chúng ta chưa tìm được phương án tối ưu nhằm khai thác phát huy các giá trị di sản ở lễ hội Đổ giàn, không quản lí được quá trình diễn ra tục đổ giàn, chính quyền chưa có biện pháp khả thi để đảm bảo an toàn, an ninh, trật tự xã hội trong quá trình tổ chức lễ hội!
6.2. Nên khôi phục
Có thể có mấy điều kiện, lí do để khôi phục lễ hội Đổ giàn An Thái:
6.2.1. Nước nhà đã thống nhất, đất nước hết chiến tranh, nhân dân hưởng thái bình đã gần 50 năm nay, kể từ sau 1975. Nói như Nguyễn Trãi, “Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc” [25] . Đây là lúc mà mọi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của dân gian có điều kiện hồi phục, khôi phục trở lại. Quan niệm cho rằng, lễ hội cùng những nghi lễ tiến hành trong lễ hội là phong kiến, mê tín dị đoan không còn nữa. Đã qua thời kì ấu trĩ khi nhiều di tích gắn với lễ hội bị phá bỏ hay chuyển đổi mục đích sử dụng. Cho nên, đây là lúc lễ hội dân gian được phục hồi nhanh chóng. “Chính vì vậy, thời điểm từ những năm 90 của thế kỉ XX, ngay từ khi đất nước đổi mới, chiến tranh cũng đã đi qua, người dân từ khắp các làng quê có điều kiện tổ chức lại lễ hội của mình khiến cho đất nước bước vào giai đoạn bùng nổ của lễ hội trong suốt gần hơn thập kỉ qua”[26]. Cho nên khôi phục lễ hội Đổ giàn chính là để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tinh thần của người dân An Thái- An Nhơn nói riêng, của nhân dân Bình Định nói chung vậy! Trong những nhu cầu chung đó, có nhu cầu của truyền thống của một vùng đất, của một số dòng họ. Nguyễn Văn Ngọc (2005) phân tích: “Cùng một số thị tứ khác ở Bình Định, An Thái ra đời vào thế kỷ XVIII, việc hình thành thị tứ này là kết quả của sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Đàng Trong, song cũng phải kể đến một nguyên nhân quan trọng khác, đó là tác động của cộng đồng người Hoa sinh sống nơi này. Hình thành giữa một vùng nông thôn rộng lớn của Nhơn Phúc và các xã lân cận, nên với một mức độ nào đó thị tứ còn có vai trò thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh hơn. Vùng đất Nhơn Phúc nói chung, An Thái nói riêng là nói đến vùng đất có truyền thống thượng võ, một trong những nơi có lịch sử lâu đời về võ thuật cổ truyền Bình Định. Để thích nghi với vùng sông nước, người dân nơi đây đã dạy cho nhau miếng võ cổ truyền của nhiều vùng đất góp lại và sáng tạo ra ngón mới. Vùng quê An Thái không phải ngẫu nhiên được lưu danh là miền đất võ: “Roi Thuận Truyền, quyền An Thái”, “Trai An Thái, gái An Vinh” bởi xưa kia có bậc hiền tài Trương Văn Hiến bị tên lộng thần Trương Phúc Loan hãm hại đã tìm về đây ở ẩn. Không khuất phục bọn gian tà đã làm thế sự đảo điên, dân tình oán thoán; Ông mở trường dạy học, cốt đào tạo nhân tài để thay đổi thời cuộc. Ý nguyện của ông đã được đất trời thấu hiểu, vùng quê An Thái đã chở che, giúp ông phục sinh, hồi khí và gặp được hậu nhân tài trí thực hiện mong ước cháy bỏng mà ông nung nấu trong quảng đời còn lại, làm cho Quốc Thái Dân An”. Ba anh em nhà Tây Sơn đã làm tròn ước nguyện ấy của người thầy giáo mà họ từng tôn kính”. “Rồi đến thế kỷ XX, có một sự kiện mới ra đời, ông Diệp Trường Phát, (thường gọi là Tàu Sáu) là người Việt gốc Hoa. Ông đã hấp thụ tinh thần thượng võ đất An Thái, tiếp nhận tinh hoa võ thuật lâu đời, nhiều phái, xây dựng một hệ thống quan niệm về võ thuật và võ đạo khá sâu sắc. Tinh thần thượng võ ở vùng quê An Thái được tiếp nối hun đúc và mãi mãi được lưu truyền cho các thế hệ sau, và trở thành truyền thống, từ lâu những nét văn hóa sáng tạo tài hoa ấy được chuyển tải mềm mại qua diễn trình lễ hội để lưu truyền và tôn vinh “tinh thần thượng võ” của làng quê mình, đó là lễ hội Đổ Giàn ở An Thái xã Nhơn Phúc huyện An Nhơn”[27].
Cư dân xã Nhơn Phúc nói chung và thị tứ An Thái nói riêng, ngoài người Việt sinh sống ở đây từ thế kỷ XVI như họ Hồ, Nguyễn, Lê, chúng ta phải ghi nhận dấu ấn người Hoa di cư sang, đó là các giòng họ Lâm, Đường, Thái, Quách, Diệp, Tạ, Lục, Lý, Trịnh, Trần, Hàn, Vương (sau đổi thành họ Nguyễn), Đỗ… Lớp người sang từ thế kỷ XVII đã Việt hóa hoàn toàn, gọi là Cựu thuộc; lớp người đến sau (thế kỷ XIX) gọi là Tân thuộc. Lễ hội Đổ giàn thuộc về những người Việt Và người Hoa này. Tác giả Trần Duy Đức còn cho biết: “Do tính chất và qui mô của lễ hội Đổ giàn quá lớn, tốn kém nhiều, một số bà con người Hoa, người Việt làm nòng cốt, có tâm huyết với lễ hội đang sinh sống ở xa, nên tổ chức không thường xuyên theo chu kì, nhưng đông đảo người dân từng gắn bó với quê hương đất võ An Thái đều mong muốn duy trì Lễ hội Đổ giàn. Tôi có dịp gặp Diệp Thị Lệ Bích, cháu nội của võ sư Diệp Trường Phát- Tàu Sáu, Việt kiều từ Vương quốc Anh về quê dự giỗ Tổ dòng họ Diệp tại An Thái và xin cơ quan chức năng giúp đỡ để phục hồi môn phái võ Bình Thái Đạo của họ Diệp, mà Lệ Bích đang là Chưởng môn của trường phái này ở nước ngoài. Hậu duệ họ Diệp- Diệp Lệ Bích cùng với đông đảo bà con đang sinh sống tại quê nhà An Thái hoặc làm ăn ở xa cũng đều mong muốn hồi sinh võ cổ truyền ngay trên miền đất võ và khôi phục lễ hội Đổ giàn”[28].
Dù biết tổ chức lễ hội rất tốn kém, nhưng người dân có nhu cầu, các dòng họ góp sức, và sau này được chính quyền chung tay, lễ hội Đổ giàn sẽ có cơ hội hồi sinh.
6.2.2. Tổ chức lễ hội Đổ giàn là một hình thức để tưởng nhớ, ghi nhớ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của cha ông: tín ngưỡng cầu quốc thái dân an, cầu nhân yên vật thịnh, thể hiện tinh thần nhân ái, đề cao tinh thần thượng võ, khôi phục nét võ cổ truyền. Vào thời Tây Sơn, lễ hội được tổ chức nhằm đề cao và thể hiện tinh thần thượng võ ở vùng đất An Thái, khuyến khích và trọng dụng xứng đáng cho những ai có võ nghệ cao cường, giật được nhiều cỗ, đặc biệt là phướn và heo. “Tai nghe ở hạt Bình Khê, Nhiều tay võ sĩ tài nghề giật heo”. Tương truyền, khi xưa, lúc lễ hội diễn ra, quan phủ đến dự, để tìm người giỏi võ, người tài trong lúc tranh tài võ nghệ đổ giàn. Như vậy lễ hội Đổ giàn có nguồn gốc sâu xa từ lễ chùa ngày Vu Lan, là dịp vui vầy của người Việt, người Hoa xưa, là nơi thể hiện tài nghệ võ thuật với tinh thần thượng võ của người dân Bình Định nói chung, được hun đúc từ thế kỷ XVII, thời thầy giáo Trương Văn Hiến mở trường dạy học văn, võ tại An Thái và là người thầy của ba anh em nhà Tây Sơn.
Lễ hội Đổ giàn gắn với hội chùa Bà, “làm chay ba ngọ” đã đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của cư dân vùng đất mà nó nảy sinh. Trước hết đó là nhu cầu cầu quốc thái dân an, cầu nhân khang vật thịnh, cầu an yên và sung túc. Đó là nhu cầu chính đáng của người dân có trong lễ hội. “Tín ngưỡng đa thần của các cộng đồng người Việt […] cũng có thể là một nhân tố quan trọng thúc đảy sự ra đời cũng như quá trình hình thành lễ hội dân gian” [29]
6.2.3. Đáp ứng nhu cầu giải trí của lớp trẻ, nhu cầu văn hóa du lịch
Người ta thấy rằng, trong lễ hội Đổ giàn năm 2005, có nhiều yếu tố hấp dẫn đối với giới trẻ như biểu diễn múa lân, trò chơi nghệ thuật nặn tò he, làm mặt nạ bằng giấy, diễn tích Tây du ký thông qua nghi thức du hương - chưng cộ đất… Lễ hội là của quần chúng. Đáp ứng nhu cầu của giới trẻ chính là đáp ứng nhu cầu của số đông quần chúng. Do vậy, lễ hội Đổ giàn cần được khôi phục để đáp ứng nhu cầu của giới trẻ mong muốn tìm về cội nguồn lịch sử, cội nguồn văn hóa của dân tộc.
Những năm gần đây, nhu cầu du lịch văn hóa đang phát triển. “Trong tất cả các hoạt động văn hóa thì du lịch là hoạt động duy nhất không bao giờ nhàm chán. Bất kể một địa dư nào đối với du khách cũng đều là một địa điểm khám phá hết sức thú vị và luôn hấp dẫn. Còn gì thú vị hơn khi người ta đến một nơi mà vừa được lễ thần lại vừa được thăm những cảnh đẹp, những di tích, phong tục, tập quán và được thưởng thức những đặc sản địa phương, đó thật là một chuyến du lịch ths vị và lợi ích. […] Như vậy, ở một góc độ nào đó, du lịch đã góp phần phát triển lễ hội dân gian một cách tích cực”[30]. Nếu định nghĩa, “Du lịch lễ hội là việc tổ chức các chương trình du lịch văn hóa trong những không gian và thời gian nhaats định ở đó đang diễn ra các hoạt động của lễ hội ở các địa phương với quy mô và tính chất khác nhau. Những chương trình này nhằm giúp các du khách thỏa mãn các cnhu cầu tâm linh- tinh thần của mình cùng với việc thẩm nhận và trải nghiệm những giá trị văn hóa bản địa khác thông qua hoạt động lễ hội của các địa phương trên khắp đất nước”[31], thì lễ hội Đổ giàn An Thái sẽ trở thành một địa chỉ du lịch văn hóa- du lịch lễ hội khá riêng biệt, đặc sắc mà không phải nơi nào cũng có. Hai yếu tố sẽ hấp dẫn du khách là võ cổ truyền Bình Định và tục Đổ giàn chắc chắn là nét riêng biệt, sẽ hấp dẫn du khách muôn phương và cả du khách nước ngoài nữa.
Sức thu hút của võ cổ truyền Bình Định vì thế được mạnh mẽ hơn nhiều.
Như vậy, “Du lịch sẽ đem đến cho lễ hội một sắc thái mới, một sức sống mới. Du lịch đem đến cho lễ hội một môi trường, điều kiện để được trình bày, phô diễn những giá trị mà lễ hội hàm chứa. Thông qua những hoạt động nội tại của mình, lễ hội được hoạt động du lịch (với các đối tượng khách đa dạng) kiểm chứng, thẩm định…Từ đó các lễ hội (nói đúng hơn, những người tổ chức lễ hội) rút ra các bài học cho mình, để rồi tự đổi mới cho phù hợp với điều kiện mới”[32].
Để có được điều ấy, phải có sự phối hợp của các sở, ngành tỉnh tỉnh Bình Định và chính quyền thị xã An Nhơn cùng chung tay, phối hợp tổ chức Lễ hội Đổ giàn An Thái!
7. Khôi phục lễ hội Đổ giàn như thế nào
Trong bài “Hội đổ giàn An Thái: Còn đâu nét hội xưa?”, Lê Viết Thọ (2005) phản ánh: “Nhưng chính cái phần đinh, tạo nên nét đặc sắc nhất của hội Đổ giàn An Thái, trong lần tổ chức này lại là phần khiến người ta thất vọng nhất. Nếu phần lễ: rước nước (lấy nước từ sông Côn dâng lên các bàn thờ), cỗ chay (các gia đình làm lễ chay vào đúng ngọ), rước cỗ (rước các cỗ do các hộ dân tín cúng về hội quán), đăng đàn chuẩn tế, chưng cộ (dựng cảnh trên mặt đất, tái hiện cảnh Tam Tạng thỉnh kinh phá các động, trừ yêu)… được tái hiện lại với đúng nguyên mẫu dân gian của nó, thì phần xô cỗ - đổ giàn, do dự lường trước những khó khăn về trật tự, và phần nào cũng e dè về hình ảnh các võ sĩ tranh heo, nên những người tổ chức đã quyết định dàn cảnh.
Ba con heo được chuẩn bị trước cho ba võ đường tham dự: Hải Sơn, Bình Sơn (An Thái) và Trần Dần (An Vinh). Con heo nào sẽ thuộc về võ đường nào đã được sắp đặt sẵn. Vậy thì còn cần chi phải… "tranh" cho mệt (?).
Và quả thật, phần tranh heo đã diễn ra khá hình thức. Ba con heo được thả xuống, đã có các võ sinh thuộc ba võ đường lần lượt "ẵm" đi theo đúng thứ tự "phân công". Tất nhiên, cũng có cảnh thao diễn võ thuật cho đủ lệ, rồi ai về võ đường nấy. Tất cả diễn ra trong chừng chưa đầy 15 phút, chẳng có chút hào hứng mà quá nặng tính… dàn dựng. Không ít người xem thất vọng thật sự.
Đáng tiếc là khâu đảm bảo an ninh trật tự trong công tác tổ chức chưa tốt. Sân Ngũ Bang hội quán, nơi diễn ra lễ hội quá hẹp, lượng người lại quá đông nên tạo thành không khí hỗn loạn, người xem chen lấn nhau làm mất đi không khí trang trọng và hào hứng của lễ hội.
Lễ hội Đổ giàn An Thái là một lễ hội đậm chất dân gian, thể hiện tinh thần thượng võ của miền đất võ Bình Định. Do vậy, nếu tổ chức trở lại, cần phải được làm một cách bài bản, đúng với tinh thần thượng võ, chứ không phải làm một cách hình thức. Ngay cả khi dựng lại để ghi hình nghiên cứu thì với cách làm hình thức, có sắp đặt trước này, liệu có đúng với tinh thần của việc tiến hành các đề án bảo tồn văn hóa phi vật thể là phải đúng với tính nguyên gốc của nó?”[33]
Tuy nhiên, Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm (2014) cho rằng: “Lễ hội dân gian trong đời sống đương đại chịu sự tác động của tất cả những yếu tố xã hội mà nó phụ thuộc. Do vậy, sẽ là ấu trĩ nếu cứ nhất quyết đòi hỏi lễ hội dân gian phải giữ nguyên như nó từng có trong quá khứ. Bởi vì nhu cầu của con người thay đổi thì mục đích và ý nghĩa của các hoạt động văn hóa phục vụ cho nó cũng thay đổi theo từ đó dân đến thay đổi về hình thức”[34].
Tóm lại: Lễ hội Đổ giàn cần được phục dựng để đáp ứng nhiều nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp người dân vùng An Thái, đặt biệt là đáp ứng như cầu phát triển kinh tế- du lịch của địa phương. Vấn đề là Lễ hội Đổ giàn An Thái được phục dựng trong bối cảnh đương đại, trong mục đích phát triển kinh tế- du lịch phải được xem xét, nghiên cứu, thể hiện theo chiều hướng: vừa đảm bảo những nhu cầu đương đại, hiện đại; vừa phải giữ lấy hồn cốt xưa của lễ hội. Và lễ hội Đổ giàn An Thái phải có một diễn trình thống nhất trong bối cảnh hiện nay./.
_________________________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bửu.H.K (2009), Nơi con sông Côn chảy qua, Nxb Trẻ.
2. Nhân.N.X (2004), Vài nét cổ truyền ở các làng quê Bình Định, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định, Quy Nhơn.
3. Đức.T.D (2004), Lễ hội Đổ giàn An Thái, Báo Bình Định điện tử; Truy xuất từ https://baobinhdinh.vn/642/2004/10/15269/ ngày 12-10-2004.
4. Đức.T.D (2014), Tìm lại dấu xưa, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
5. Giác.N.M (1998), Sông Côn mùa lũ, Nxb Văn học, Hà Nội.
6. Liên.N.S (2009), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Văn học, Hà Nội.
7. Liêm.N.P…. (2012), Vài nét về văn hóa làng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
8. Ngọc.N.V (2005), Lễ hội Đổ giàn ở An Thái và việc khôi phục, làm sống lại một lễ hội dân gian; Truy xuất từ http://www.nguyenvanngoc.mov.mn/bvct/chi-tiet/18/le-hoi-do-gian-nvn.html
9. Phương.T, Vũ.L.T… (2000), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
10. Sáu.D.V (2018), Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, Nxb Lao Động, Hà Nội.
11. Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Định (2023), Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Bình Định, lớp 3, Nxb Giáo dục Việt Nam.
12. Thọ.L.V (2005). Hội Đổ giàn An Thái: Còn đâu nét hội xưa?; Truy cập từ Báo Bình Định điện tử https://baobinhdinh.vn/vanhoa-nghethuat/2005/8/14859/ ngày 25-8-2005.
13. Viên.C.L… (1986), Hồi nhỏ các nhà văn học văn, Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình.
14. Vũ.L.T, Lý.L.H, Châm.N.T.P (2014), Lễ hội dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[1] Xin xem: Nhiều tác giả (2000), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
[2] Nhân.N.X… (2004), Vài nét văn hóa cổ truyền ở các làng quê Bình Định, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Bình Định, tr. 222.
[3] Ngọc.N.V (2005), Lễ hội Đổ giàn ở An Thái và việc khôi phục, làm sống lại một lễ hội dân gian; Truy xuất từ: http://www.nguyenvanngoc.mov.mn/bvct/chi-tiet/18/le-hoi-do-gian-nvn.html
[4] Phương.T, Vũ.L.T (2000), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr.1093 - 1095.
[5] Nhân.N.X… (2004), Vài nét cổ truyền ở các làng quê Bình Định, Sở VHTT Bình Định, tr.222.
[6] Nhân.N.X… (2004), Vài nét cổ truyền ở các làng quê Bình Định, Sở VHTT Bình Định, tr.221.
[7] Nhân.N.X… (2004), Vài nét cổ truyền ở các làng quê Bình Định, Sở VHTT Bình Định, tr.221 - 222.
[8] Liêm.N.P… (2012), Vài nét về văn hóa làng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr.138 - 141.
[9] Bửu.H.K (2009), Nơi con sông Côn chảy qua, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.224.
[10] Giác.N.M (1998), Sông Côn mùa lũ, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.28.
[11] Giác.N.M (1998), Sông Côn mùa lũ, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.28.
[12] Giác.N.M (1998), Sông Côn mùa lũ, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.57.
[13] Giác.N.M (1998), Sông Côn mùa lũ, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.63.
[14] Xin xem: Viên.C.L... (1986), Hồi nhỏ các nhà văn học văn, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Nghĩa Bình.
[15] Bửu.H.K (2009), Nơi con sông Côn chảy qua, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.222 – 223.
[16] Bửu.H.K (2009), Nơi con sông Côn chảy qua, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.224
[17] Đức.T.D (2014), Tìm lại dấu xưa, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.55 - 56.
[18] Đức.T.D (2004). Lễ hội Đổ giàn An Thái, Báo Bình Định điện tử, Quy Nhơn: https://baobinhdinh.vn/642/2004/10/15269/
[19] Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Định (2023), Tài liệu giáo dục địa phương Bình Định, lớp 3, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr.24 - 27.
[20] Xin xem: Ngọc.N.V (2025), Lễ hội Đổ giàn ở An Thái và việc khôi phục, làm sống lại một lễ hội dân gian; Truy xuất từ http://www.nguyenvanngoc.mov.mn/bvct/chi-tiet/18/le-hoi-do-gian-nvn.html
[21] Xin xem: Ngọc.N.V (2025). Lễ hội Đổ giàn ở An Thái và việc khôi phục, làm sống lại một lễ hội dân gian, Truy xuất từ http://www.nguyenvanngoc.mov.mn/bvct/chi-tiet/18/le-hoi-do-gian-nvn.html
[22] Phương.T, Vũ.L.T (2000). Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr.1095.
[23] Xin xem: Ngọc.N.V (2025), Lễ hội Đổ giàn ở An Thái và việc khôi phục, làm sống lại một lễ hội dân gian; Truy xuất từ http://www.nguyenvanngoc.mov.mn/bvct/chi-tiet/18/le-hoi-do-gian-nvn.html
[24] Giác.N.M (1998), Sông Côn mùa lũ, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.77.
[25] Liên.N. S (2009), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Văn học, Hà Nội, tr. 570.
[26] Vũ.L.T, Lý.L.H, Châm.N.T.P (2014), Lễ hội dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 231.
[27] Xin xem: Ngọc.N.V (2025), Lễ hội Đổ giàn ở An Thái và việc khôi phục, làm sống lại một lễ hội dân gian; Truy xuất từ http://www.nguyenvanngoc.mov.mn/bvct/chi-tiet/18/le-hoi-do-gian-nvn.html
[28] Đức.T.D (2004), Tìm lại dấu xưa, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.55 - 56.
[29] Vũ.L.T, Lý.L.H, Châm.N.T.P (2014), Lễ hội dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 17.
[30] Vũ.L.T, Lý.L.H, Châm.N.T.P (2014), Lễ hội dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 226 - 227.
[31] Sáu.D.V (2018), Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, Nxb Lao động, Hà Nội, tr.238.
[32] Sáu.D.V (2018), Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, Nxb Lao động, Hà Nội, tr.247.
[33] Thọ.L.V (2005), Hội Đổ giàn An Thái: Còn đâu nét hội xưa? Báo Bình Định điện tử, https://baobinhdinh.vn/vanhoa-nghethuat/2005/8/14859/
[34] Vũ.L.T, Lý.L.H, Châm.N.T.P (2014). Lễ hội dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 225.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét