Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2024

NGƯỜI HOA TRONG LỄ HỘI ĐỔ GIÀN GIỮA CÁC LÀNG VÕ Ở AN NHƠN, TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH (TS Đinh Bá Hòa)

1. Người Hoa ở An Nhơn

Người Hoa đến Bình Định và An Nhơn vừa rải rác, vừa tập trung thành những đợt lớn, đông đảo nhất là vào thế kỷ XVI, Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục chép rằng vong thần nhà Minh vì không chịu làm tôi tớ cho nhà Thành đã theo đường biển xuống phía Nam sinh sống. Sau này trong thế kỷ XIX do ảnh hưởng của chiến tranh thuốc phiện Hoa - Anh của phong trào Thái Bình Thiên Quốc còn có thêm một bộ phận đáng kể người Hoa đến định cư ở đây.

Tới Đàng Trong, người Hoa đã gặp được điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng và phát triển kinh tế. Một mặt, các chúa Nguyễn - cũng như các chính quyền thống trị sau này - đã dựa trên đạo lý nhu viễn nhân (mền dẻo với người phương xa) để đối xử với người Hoa, không những họ không bị ngăn cấm mà có lúc còn được chính quyền giúp đỡ trong việc làm ăn sinh sống. Nhằm mục đích xây dựng cơ sở cát cứ, các chúa Nguyễn đã dựa vào người Hoa, lợi dụng khả năng tổ chức kinh tế của họ trong việc chiêu dụ dân phiêu tán để khai khẩn ruộng đất. Ngược lại người Hoa cũng cần phải dựa vào các chúa Nguyễn để được bảo vệ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong sinh hoạt hàng ngày[1].

An Thái huyện An Nhơn là những đầu mối giao thông, dân cư tập trung thuận lợi cho thương nghiệp là một nơi tập trung đông đảo nhiều người Hoa vào đầu thế kỷ XX, tỷ lệ người Hoa ở đây chiếm 60% dân cư. Sau năm 1975, cùng với sự suy giảm của các ngành sản xuất kinh doanh truyền thống, người Hoa đã chuyển hướng di cư sang nới khác, tới các thành phố. Hiện An Thái chỉ còn 40 hộ trên tổng số 580 hộ .

Người Hoa đến định cư ở An Thái sau một thời kỳ tạm cự tại các đô thị, các hải cảng lớn như Hội An, Nước Mặn. Họ Lậm, họ Quách là những người đến đây sớm nhất. Từ đường họ Lâm do Lâm Tăng Thọ, đời thứ 9 lập năm Nhâm Tuất, Tự Đức thứ 15 (1862) nay vẫn còn. Theo gia phả, thủy tổ của họ này là Lâm Liên Quang, quê ở trang Tân An Tam Đô, huyện Đông Khê, phủ Thường Châu, tỉnh Phúc Kiến sang Việt Nam cuối đời nhà Minh (giữa thế kỷ XVII). Tính đến thế hệ cháu của Lâm Kỳ Ngoạn (đời cuối cùng là đời thứ 12 được ghi trong gia phả) họ Lâm đã trải qua 14 đời ở Việt Nam. Ban đầu họ Lâm chủ yếu buôn bán thuốc Bắc sau mở rộng ra các lĩnh vực kinh doanh khác, mua ruộng đất trở thành những thương nhân kiêm địa chủ. Vào đến thế kỷ XIX (đời thứ 8 Lâm Quang Nhữ) họ Lâm nắm gần như toàn bộ đất ở An Thái. Sau “cải cách ruộng đất” ở Bình Định năm 1839 - 1949, mặc dù bị chiết cấp 50% ruộng đất, Lâm Quang Nhữ vẫn còn hàng trăm mẫu ruộng. Gia phả Lâm Duy chép thủy tổ của họ này là Lâm Văn Hạnh, người làng Khê Vĩ, Tam Thuận Lục Đô, phủ Nam An, Phủ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, rời nước năm Khang Hy thứ 18 (1679) đến Việt Nam năm thứ Vĩnh Trị thứ 14 đời nhà Lê (1680). Lúc đầu tới Việt Nam ông trú tại phố Nước Mặn, trang Vĩnh An, xã Minh Hương, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định). Sau một thời gian ông tìm đến An Thái, mở hiệu thuốc Bắc. Là họ lớn, có thế lực, nắm giữ phần lớn các hoạt động buôn bán thuốc Bắc ở An Thái, đồng thời cũng có nhiều người làm quan to trong triều đình nhà Nguyễn. Đời thứ 4 có Lâm Tấn Đạo làm quan đến chức Phó đô Ngự sử, hàm Chánh nhị phẩm. Con Lâm Tấn Đào là Lâm Duy Nghĩa, nhà thờ họ còn bức đại tự do ông cúng vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) cho biết ông làm quan đến chức tả tham tri Bộ Binh sung thị vệ đại thần. Sau này ông làm quan Phó sứ cho Phan Thanh Giản sang Pháp (câu Phan Lâm Mãi quốc, triều đình khí dân” chính là Lâm Duy Nghĩa).

Dòng họ đến An Thái muộn hơn là họ Thái. Gia phả họ này chép từ thủy tổ là Thái Doãn Cung (627- 650), đến Thái Lập Đôn (1904 - 1955) cho biết người đầu tiên của họ Thái đến Việt Nam là Thái Dĩ An, niên hiệu Đạo Quang thứ 9 nhà Thanh (1829), mất năm Mậu Tý hiệu Quang Tự thứ 14 nhà Thanh (1888).

Ngoài 3 họ trên, An Thái còn có nhiều người Hoa khác chủ yếu đến đợt cùng với họ Thái vào cuối thế kỷ XIX.

Ngoài An Thái, ở Đập Đá còn có họ Diệp, họ Lý gốc cũng ở tỉnh Phúc Kiến định cư.

Ở Gò Găng có họ Hàn gốc Quảng Đông, họ Hàn (Phúc Kiến), họ Ngô (Quảng Đông) đến đây vào thế kỷ XVIII, hiện ở Gò Găng còn có 8 họ gốc Hoa xưa gồm họ Diệp, Trương, Hứa, Ngô, Hàn, Tống, Lâm với 35 hộ.

Ở thị trấn Bình Định (nay là phường) có 22 họ người Hoa trong tổng số 57 dòng họ ở đây trong đó họ Lâm là họ nhập cư đầu tiên, gốc Phúc Kiến.

Tại Nước Mặn (Phước Quang, Tuy Phước), đây là vốn là cảng thị, một diểm tập kết của người Hoa khi tỏa đi các địa phương khác trong tỉnh (xã của người Minh Hương - tên gọi người Hoa đã nhập quốc tịch Việt Nam) dược lập ra ở đây đã thể hiện điều đó.

Ở An Thái, người Hoa chia thành 5 bang, 4 bang mang tên các tỉnh hành chính ở Trung Quốc - quê hương của họ, gồm những người nhập cư vào thế kỷ XIX; 1 bang mang tên Cựu thuộc gồm những người nhập cư vào thời gian trước đó. Năm bang này cùng nhau lập ra chùa riêng của mình gọi là Ngũ bang hội quán, là nơi diễn ra các sinh hoạt quan trọng liên quan đến đời sống kinh tế - văn hóa - tín ngưỡng của toàn bộ cộng đồng. Đứng đầu mỗi bang là Bang trưởng, được toàn bộ cộng đồng bầu lên. Đối với các thành viên, bang bao hàm cả một số chức năng hành chính nữa.

Tín ngưỡng của người Hoa - nhất là người Hoa vùng duyên hải Đông Nam Trung Quốc khá đậm nét. Ở những nơi định cư của họ đều có chùa Ông, chùa Bà. Ở mỗi gia đình đều thờ thần Tài. Tục thờ thần Tài của người Hoa lan tỏa sang người Việt, phổ biến ở tất cả các gia đình làm nghề buôn bán.

2. Các làng võ ở Bình Định

Đã có một thời người ta căn cứ vào sở trường và bí truyền mà phân định hai môn phái, đó là "roi Thuận Truyền"; "quyền An Thái". Thời ấy, mối quan hệ giữa bí truyền và môn phái quyện chặt với nhau. Môn phái hình thành nên sở trường và bí truyền.

Với cả nước nói đến võ người ta nghĩ ngay đó là vùng Bình Định, nhưng ở Bình Định lại khác, nói đến võ không nơi nào ngoài hai làng An Thái và An Vinh.

- Làng võ An Thái: An Thái là một làng như bao làng quê khác ở vùng này, một làng quê ven bờ sông Côn thơ mộng. Nơi đây trong những thế kỷ XVI-XVII đã trở thành một tụ điểm thương mại sầm uất tiêu thụ sản phẩm hàng hóa với các vùng chung quanh, ở đây có các dãy phố thuốc Bắc của người Hoa. Người ta biết đến An Thái không những là thị tứ thương mại của Bình Định, mà còn biết đến nơi đó bởi từ xưa nơi đây là một làng võ cổ truyền Bình Định nổi tiếng. Theo tư liệu làng An Thái trở thành làng võ chính là từ thầy giáo Hiến. Thầy từ Phú Xuân theo con đường nam tiến vào An Thái trước tiên là mở trường dạy chữ và sau đến mở lớp dạy võ cho học sinh thôn Thắng Công, trong số học trò đó có ba anh em Tây Sơn thụ giáo làm môn sinh của thầy. Cũng từ đó chính nơi đây trở thành nơi truyền bá võ học có ảnh hưởng lớn trong vùng và trở thành môn phái trong võ cổ truyền Bình Định, cũng chính từ nôi này đã sản sinh ra các võ sư nổi tiếng như: Lâm Hữu Phong, Lâm Đình Thọ (tức hương kiểm Lài) bà sáu Sanh, Ba Phùng, Phó Tuần Chẩn, Chính Kỳ, Tám Lõ, Diệp Trường Phát (Tàu Sáu). Làng An Thái tiêu biểu cho môn phái thuộc dòng họ Lâm. Đứng đầu môn phái là võ sư Lâm Hữu Phong. Sinh thời ông có truyền bá, đào tạo nhiều võ sinh ưu tú, ông đặt tên cho võ đường của mình là võ đường Bình Sơn (Bình Định - Tây Sơn). Môn phái của ông được truyền lại cho Lâm Đình Thọ (Hương kiểm Lài ) về sau ông lại truyền cho hai người con trai tên Lâm Ngọc Lài và Lâm Ngọc Phú.

- Làng võ An Vinh: "Trai An Thái gái An Vinh" là câu ngạn ngữ được truyền tụng lâu đời tại hai làng võ nổi tiếng ở vùng này. An Vinh và An Thái là hai làng nằm đối diện tả ngạn và hữu ngạn sông Côn. Theo các người già ở làng này cho biết, trước kia vùng làng quê này luôn bị bọn cướp đến đe dọa cướp bóc của cải. Để bảo vệ an ninh cho làng xã và cũng chính để bảo vệ cho nhà mình, trong làng nhà nào cũng cho con theo thầy học võ, nhất là các nhà giàu, địa chủ, phú nông...

Cũng như An Thái, làng An Vinh cũng hình thành môn phái riêng của làng mình, đứng đầu các môn phái ở An Vinh phải kể đến các võ sư như: Nguyễn Ngạt (tức Hương kiểm Ngạt), Khiển Phạm, Năm Nghĩa, Hương kiểm Cáo (con Hương kiểm Ngạt), Bảy Lụt, bà Tám Cảng, Đinh Hề, Ba Thông, Tuần Sửu, Sáu Hà, Bốn Mỹ... Đứng đầu môn phái là dòng họ Nguyễn Ngạt. Thế mạnh của phái võ An Vinh là quyền thuật, đã trở thành nổi tiếng từ trước tới nay.

Môn phái "quyền" An Thái đã truyền thụ và có ảnh hưởng lớn khắp vùng. Họ truyền thụ cho môn đệ khắp nơi, gây tiếng vang và có ảnh hưởng lớn trong vùng.

3. Lễ hội Đổ giàn

Ở An Nhơn, Bình Định như bao miền quê khác vào mùa xuân là mùa của lễ hội. Trong lễ hội thì trò đấu võ trên là hình thức được các làng vùng này chú trọng.

An Thái (thuộc xã Nhơn Phúc, An Nhơn) là mảnh đất ven sông Côn, từng nổi tiếng là một trong những cái nôi võ Bình Định. Từ bờ bên này, chỉ sau vài phút đi đò, là đã qua bên An Vinh (thuộc huyện Tây Sơn) - một địa danh cũng lừng lẫy về võ nghệ.

Hội Đổ giàn thường được tổ chức tại sân đình, sân chùa để làm không gian sinh hoạt chung cho người dân và cũng để thể hiện ý nghĩa tâm linh là cầu phúc vào những ngày rằm. Địa điểm thường diễn ra lễ hội Đổ giàn là chùa Ngũ bang Hội quán, chùa Bà Hỏa, gò Âm Hồn từ một số dòng họ người Hoa. Thời gian diễn ra lễ hội Đổ giàn, từ ngày rằm đến 16 và 17 tháng 7 âm lịch. Để tổ chức tế lễ, các chức sắc trong làng hướng dẫn dân làng dựng một cái giàn cao, vững chắc nơi tiến hành tế lễ chung cho cả hai làng. Đồ vật hiến tế gồm một cỗ bánh to một người ôm không xuể. Trong cỗ bánh khổng lồ ấy có nhiều loại bánh dân làng thường làm khi tế thần. Ngoài ra còn có nhiều con heo đã được cạo lông mổ bụng thật sạch sẽ tinh khiết, trên mình con heo lớn nhất được vẽ rằn ri trong giống hình cọp. Dân làng quen gọi là heo cọp. Người chủ tế được dân làng chọn, trước khi tiến hành nghi lễ phải ăn chay, nằm đất từ đêm trước.

Sau thời gian đủ để cho thần thưởng hưởng, thì lễ Đổ giàn bắt đầu. Người được giao nhiệm vụ "đổ giàn" kêu gọi trẻ nhỏ đứng vây quanh rồi lấy bánh trên cỗ tung xuống. Lũ trẻ giành nhau lượm bánh để ăn, bởi đây là lộc của thần ban cho.

Khi nghi lễ chuẩn bị kết thúc khi vị chủ tế hô "Xô giàn", cuộc tranh tài bắt đầu. Các võ sĩ tài nghệ cao, phi thân lên giàn tìm cách cướp lấy chú heo quay. Sau đó phải luồn lách, lao ra khỏi đám đông, mang chú heo quay chạy về địa điểm an toàn đã định. Để giật được chú heo, các toán tranh tài cũng đã có sự phân công người trước, người sau, người bảo vệ, người "cản địa" để ngăn những đối thủ lợi hại khác có thể giật lại ngay trên tay.

Có thể nói, đổ giàn là khoảnh khắc vui nhất và đầy ý nghĩa trong suốt lễ hội. Tuy nhiên, trước và sau lễ hội Đổ giàn cũng lắm điều thú vị. Trước ngày đổ giàn, các chùa đều tiến hành lễ làm chay, lễ rước bài vị, lễ rước thánh nước, lễ chẩn bần. Trong đó, đặc biệt nhất phải nói đến lễ rước thánh nước. Lễ này tiến hành vào khoảng 2 giờ sáng trong ngày đầu tiên của lễ hội Đổ giàn, đoàn rước lễ sẽ đi ra sông Côn, lấy một chum nước ở phía thượng nguồn rồi đặt nước thiêng lên kiệu rước về. Lúc này, hai bên đường, nhà dân nào cũng treo cờ hoa lộng lẫy, lập bàn hương án với lễ vật đầy mâm. Và sau lễ Đổ giàn, bà con bắt đầu tham gia vào phần hội, đó là không gian của những tiết mục múa lân hay độc đáo, những bài diễn võ thuật đậm chất Bình Định.

Hội Đổ giàn không chỉ là một cuộc tranh tài lý thú và hấp dẫn, mà còn là nét văn hóa đặc sắc của một vùng quê giàu tinh thần thượng võ.

Đồn rằng An Thái, chùa Bà

Làm chay, hát bội đông đà quá đông

Đàn bà cho chí đàn ông,

Xem xong ba Ngọ, lại trông Đổ giàn.

4. Kết luận và Khuyến nghi

- Kết luận

Nói đến võ, Bình Định từ bao đời nay được mệnh danh là "cái nôi" của nền học võ chân truyền Việt Nam. Võ được hình thành theo đơn vị làng, mà khi nói đến những làng võ ấy, không ai là không biết tới các địa danh như: An Thái, An Vinh,... Chính làng quê ấy đã góp phần tô thắm nên bức tranh hoành tráng của truyền thống thượng võ, được coi là nét sinh hoạt dân gian tồn tại bền chặt trên vùng đất Bình Định từ xưa đến nay.

Trò chơi đổ giàn là một trò chơi tồn tại khá lâu đời tại hai làng An Thái và An Vinh trước đây. Trò chơi được tổ chức sau khi hai làng tổ chức xong việc tế lễ thần linh cầu mong cho dân làng an khang thịnh vượng. Tục Đổ giàn không những là một trò chơi thể hiện trong đời sống tâm linh của một làng quê An Nhơn xưa, mà còn thể hiện một miền đất thượng võ.

- Khuyến nghị

Võ Bình Định đã được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, “hội Đổ giàn” là một trò chơi dân gian tồn tại trong lịch sử hình thành vùng đất An Nhơn. Việc UBND thị xã An Nhơn chủ trương phục hồi lễ hội Đổ giàn này theo tôi là nghĩa cử rất phù hợp với chủ trương bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống hiện nay.

Không gian của An Thái cách nay hàng trăm năm đã khác với An Thái hiện nay, mà lễ hội Đổ giàn là lễ hội dân gian thì phải thực hiện trong không gian tự nhiên, hạn chế tối đa việc biến thành một trò diễn trên sân khấu hóa.

Sở Văn hóa và Thể thao Bình Định cùng Hội Võ cổ truyền Bình Định phối hợp UBND thị xã An Nhơn phải có một định hướng cho phần lễ và phần hội của lễ hội Đổ giàn trên cơ sở yếu tố gốc, nét đẹp, giá trị của di sản. Trong 2 phần này, phần hội là quan trọng, làm thế nào để thể hiện được phần hội sôi động, nhưng không mang tính hơn thua. Trai tráng hai làng khi nghe chủ tế hô xô giàn, bằng các thế võ đối kháng làm thế nào cướp vật nghi lễ về cho làng mình, nhưng không gây thương tích./.




[1] Châu Thị Hải (1989), Tìm hiểu các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam trong bối cảnh lịch sử Đông Nam Á, Luận án PTS. Sử học, Hà Nội.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...