Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), nước Đại Việt mở đất đến núi Thạch Bi (giữa Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay), phủ trấn biên Hoài Nhơn hình thành, người Việt bắt đầu tiến dần vào lập làng sinh sống ở phủ Hoài Nhơn, từ đèo Cù Mông trở ra. Những cư dân đầu tiên đi mở cõi vùng đất viễn châu - Hoài Nhơn, ngoài dân nghèo vào lập nghiệp còn có lực lượng quân đội và đặc biệt là các phạm nhân phạm trọng tội bị tội lưu đày cũng được quân đội hóa thành lực lượng chiến đấu và sản xuất ở vệ Hoài Nhơn. Để thích nghi và sinh tồn, cư dân vùng biên viễn cần phải luyện tập võ nghệ để tự bảo vệ mình và bảo vệ làng xã, miền đất võ được định hình từ những ngày sơ khai đó.
Từ cái nôi võ cổ truyền
Họ Đinh là một trong những dòng họ đầu tiên từ miền Bắc vào khai canh đất Bằng Châu huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc phường Đập Đá, thị xã An Nhơn) vào cuối thế kỷ XV.
Nhà họ Đinh truyền đời là võ sư, thực hiện lời di huấn của tổ tiên: Không can dự vào chốn quan trường, nhờ chăm chỉ làm ăn mà giàu có, thường giúp người hoạn nạn. Họ Đinh từng bảo bọc ông Hồ Phi Long - ông tổ của Nguyễn Nhạc khi từ Nghệ An vào phủ Quy Nhơn. Ông Đinh Văn Hòe, từng truyền võ nghệ, giúp vốn liếng cho Hồ Phi Tiễn (ông nội của Nguyễn Nhạc) và Hồ Phi Phúc (cha của Nguyễn Nhạc) đi buôn trầu nguồn.
Ông Đinh Văn Hòe (Đinh Viết Hòe), đi lính cho chúa Nguyễn, lấy vợ ở đây và sinh ra 3 người con là Đinh Văn Diệm, Đinh Văn Nhưng và Đinh Thị Triêm.
Ông Đinh Văn Nhưng là một võ sư, một quân sư có tiếng trong vùng. Thôn Bằng Châu được tổ chức thành một thôn biệt lập. Người trong thôn phần nhiều có liên hệ thân thuộc với nhau. Những kẻ tha phương tầm thực ghé đến xin việc làm đều được họ Đinh vui lòng thâu nhận. Thôn Bằng Châu nổi tiếng là khu an toàn nhất trong vùng, nhờ tổ chức an ninh giỏi, hầu hết các tráng đinh trong thôn đều biết võ nghệ.
Thời trẻ, khi chưa học thầy giáo Hiến, nghe tiếng ông Nhưng, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đến xin học võ. Ông Nhưng nhận họ làm con nuôi và dốc lòng dạy dỗ. Lúc nhà Tây Sơn khởi nghĩa, ông Nhưng cùng anh ruột là Đinh Văn Diệm ủng hộ rất nhiều ngựa và lương thực. Ông Đinh Văn Nhưng có công lớn giúp anh em Tây Sơn dựng nghiệp.
Khi Nguyễn Nhạc xưng vương tại thành Hoàng Đế đã phong cho ông Nhưng chức Điện tiền đại đô đốc tả thân vệ úy, tước Sanh sơn bá. Tuy nhiên, ông Nhưng nói lại rằng: “Ông làm vua là làm vua với thiên hạ, chứ với tôi, ông vẫn là con cháu. Con cháu mà ban chức tước cho cha ông thì hơi nghịch, chi bằng để tôi phê rồi ông lục thì hơn...”. Nhà vua đồng ý, ông Nhưng cầm bút viết 4 câu chữ Nôm, được phiên âm: “Bùng binh chi tướng/ Uýnh cướng chi quan/ Bộn bàng chi chức/ Chảng chảng ngang thiên” (Đặng Quý Địch dịch nghĩa: Tướng lớn/ Quan to khiến người được phong mừng quýnh lên/ Chức nhiều/ Chảng ngang hàng với trời). Nguyễn Nhạc không dám ép thầy, bèn phong cho ông tước Sanh sơn bá, cho hưởng đặc ân đến thăm vua không cần đa lễ. Vì thế ông còn có tên là Chảng. Ngày nay gặp người ngang tàng, người dân thường gọi “Chảng ngang thiên”, hay “ngang quá ông Chảng” [1].
Trương Văn Hiến vốn người Hoan Châu (Nghệ An), là anh em thúc bá với Trương Văn Hạnh, một đại thần dưới triều Võ Vương - Nguyễn Phúc Khoát. Ông vào lập nghiệp tại làng An Thái thuộc huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn, ngày nay thuộc thôn Thắng Công, xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn (Địa điểm nhà thầy Trương Văn Hiến được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử năm 2019).
Trương Văn Hiến tuổi còn trẻ mà tài đã cao, tinh thông thao lược văn võ, chưa có dịp thi tài đã bôn ba nơi đất khách. Trên đường vào Nam, Trương Văn Hiến ghé vào nghỉ chân nơi một ngôi chùa hẻo lánh chân đèo Hải Vân. Gặp duyên kỳ ngộ, Trương làm quen với vị sư trụ trì hiệu Trí Viễn thiền sư. Thiền sư vốn là một đại quan trả ấn từ quan về nương cửa Phật. Theo lời khuyên của thiền sư, Trương Văn Hiến nhất định vào Quy Nhơn lập nghiệp.
Đất Quy Nhơn núi sông hiểm trở, là vùng đất dụng võ của các anh hùng có chí lớn. Trương Văn Hiến đã đi từ vùng Tây Sơn Thượng đến khắp huyện Tuy Viễn. Khi thì ngồi trên thuyền buôn xuôi ngược dòng sông Côn lên đến nguồn trầu. Các bến Kiên Mỹ, An Thái thường là nơi ghé trạm. Làng An Thái thuộc huyện Tuy Viễn, nằm ngay bên bờ sông Côn, con đường huyết mạch từ Tây Sơn Thượng xuống miền xuôi đi qua thôn này. Trên thì đường bộ, dưới thì đường sông, An Thái rất thuận tiện cho sinh hoạt buôn bán, giao lưu từ biển đến nguồn. Đã từ lâu, đây là nơi hội tụ khách phương xa đến lập nghiệp, nhất là người Trung Hoa không chịu sống dưới chế độ Mãn Thanh đã di cư đến đây lập nghiệp.
Ghé lại nhiều lần, sau khi quan sát địa lý, nhân văn, Trương Văn Hiến đã chọn An Thái làm quê hương lập nghiệp và được phú gia Phan Nghĩa giúp ông mở trường dạy học cả văn lẫn võ.
Trường của thầy giáo Hiến chọn môn sinh theo hai tiêu chuẩn: Tư chất và đức tính. Tư chất phải thông minh, hiếu học; đức tính phải kiên trì, nhân ái. Không chỉ người trong vùng, học trò các huyện khác, các tỉnh khác đều có người đến xin học. Ông rèn dạy học trò song toàn cả văn lẫn võ, bởi quan niệm có võ mà không có văn thì thường hay cường bạo, có văn mà không có võ thì thường nhu nhược. Văn võ phải nương nhau thì đạo làm người mới giữ được vững. Nghe tiếng đồn giáo Hiến là thầy giỏi, ông Hồ Phi Phúc liền cho ba người con đến học. Ba người con ấy, sau đổi sang họ Nguyễn, rồi trở thành ba thủ lĩnh của Phong trào Tây Sơn, đó là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Trong suốt quá trình dựng nghiệp của anh em Nguyễn Nhạc, ông Hiến chỉ góp ý chứ không trực tiếp tham gia dù được anh em Nguyễn Nhạc thiết tha mời.
Học trò thầy giáo Hiến hầu hết trở thành tướng lĩnh hàng đầu của nhà Tây Sơn. Ngoài ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ còn có thể kể:
- Võ Văn Dũng (quê Phú Lạc, Tây Sơn) - Đại đô đốc triều Quang Trung, một trong tứ trụ triều đình thời Cảnh Thịnh.
- Đặng Văn Long (quê Nhơn Mỹ, An Nhơn) - Đại đô đốc, có công đánh giặc Thanh.
- Trương Văn Đa (quê Nhơn Phúc, An Nhơn) - Tướng Tây Sơn, có công đánh quân Xiêm, làm trấn thủ Gia Định rất được lòng dân (Trương Văn Đa là con của thầy giáo Hiến, con rể của Nguyễn Nhạc).
- Phan Văn Lân - Đô đốc, có công đánh giặc Thanh.
- Nguyễn Văn Huấn và Nguyễn Văn Danh (quê Bình Sơn, Quảng Ngãi), làm quan triều Tây Sơn, tác giả bộ sử Tây Sơn thư hùng ký.
Thầy Trương Văn Hiến là một người văn võ song toàn, có tấm lòng nghĩa hiệp, giàu lòng yêu nước thương dân. Ông là người đầu tiên thổi vào tâm hồn ba anh em Tây Sơn tình yêu quê hương đất nước, nỗi đồng cảm của người dân lao động, sự phản kháng đối với tập đoàn phong kiến chúa Nguyễn cai trị Nhân dân hà khắc, chia cắt đất nước. Đó là những nhận thức ban đầu, để sau này qua thực tế xã hội ngày càng hun đúc, tạo nên sức mạnh tinh thần, làm nên cuộc khởi nghĩa nông dân quật khởi. Ba anh em Tây Sơn đã thọ giáo được ở thầy giáo Hiến không chỉ là văn chương chữ nghĩa và võ nghệ mà còn là lòng yêu nước thương dân. Vốn là người thân của quan Nội hữu Trương Văn Hạnh, người từng sống và làm việc ở ngay trong phủ chúa Nguyễn, thầy giáo Hiến đã chỉ rõ cho anh em Tây Sơn về nội tình mục ruỗng của tập đoàn thống trị họ Nguyễn đương thời.
Thầy giáo Trương Văn Hiến đã có ảnh hưởng rất nhiều đến sự hình thành tư tưởng và nuôi dưỡng chí hướng của anh em Tây Sơn, là người thầy võ, thầy văn, là quân sư truyền thụ kiến thức, dũng khí, mưu lược. Ông đã giữ vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển Phong trào Tây Sơn. Sách Địa chí tỉnh Bình Định - tập Lịch sử, chép: “Giáo Hiến - nhân vật có ảnh hưởng rất lớn trong buổi tiền khởi nghĩa đã khuyên anh em Tây Sơn đổi thành họ Nguyễn để thực hiện câu sấm “phụ nguyên trì thống” (giúp chúa Nguyễn để khôi phục thống nhất đất nước)… Các anh em Tây Sơn được Giáo Hiến làm quân sư…”[2].
Từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, làn sóng di cư của người Trung Hoa sang Việt Nam khá ồ ạt, chủ yếu là tỵ nạn chính trị. Họ được chúa Nguyễn khuyến thưởng, ưu đãi và đã trở thành một bộ phận của dân tộc Việt Nam. Ở Bình Định, lúc bấy giờ nhiều dòng họ người Hoa đến lập các trung tâm thương mại - Minh Hương phố buôn bán nhộn nhịp. Trong đó, có Minh Hương xã An Thái phố thuộc xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn ngày nay.
Hai dòng họ người Hoa đến An Thái đầu tiên, đó là họ Quách và họ Diệp (khoảng 1722). Dòng họ người Hoa đến muộn hơn, nhưng đã để lại làng võ An Thái dấu ấn đậm nét, đó là họ Diệp. Võ sư Diệp Trường Phát (Tàu Sáu) sinh năm 1896 tại An Thái (bà nội và mẹ ông đều là người Việt). Ở quê mẹ, Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ từ nhỏ. Năm 13 tuổi (1909), ông được gửi về Tàu, rồi sang Hồng Kông học. Sau 15 năm, Tàu Sáu lúc này đã 28 tuổi, quay trở về An Thái và mở trường dạy võ. Năm 1924, An Thái có thêm dòng võ mới của võ sư Diệp Trường Phát.
Những người Minh Hương tìm đến vùng đất An Thái sinh sống đan xen, cộng cư cùng người Việt, đã làm cho đời sống văn hóa nơi đây, trong đó có võ thuật thêm phong phú, đa dạng. Một trong những nét văn hóa giao thoa Việt - Hoa đã để lại ấn tượng sâu sắc đến ngày hôm nay, đó là Lễ hội Đổ giàn An Thái.
Đến Lễ hội Đổ giàn An Thái
An Thái là mảnh đất bên bờ sông Côn, nổi tiếng là một trong những cái nôi võ cổ truyền Bình Định. Ngày xưa, từ bờ bên này, chỉ sau vài phút đi đò, là đã qua bên bờ Bắc - An Vinh (thuộc huyện Tây Sơn), một địa danh cũng lừng lẫy về võ nghệ. Ở vùng này, không những thường tổ chức đấu võ đài, mà còn có hoạt động võ thuật cao hơn, đó là tổ chức lễ hội Đổ giàn do một số dòng họ người Hoa lĩnh xướng. Ngũ bang Hội quán là nơi thường diễn ra lễ hội Đổ giàn, từ ngày rằm đến 16 và 17 tháng 7 âm lịch, 4 năm tổ chức một lần.
Sau hai ngày cúng tế và hát bội, đến ngày thứ ba thì người dân An Thái bắt đầu cúng chẩn và “đổ giàn”. Lễ vật gồm có lá cờ phướn ghi bốn chữ: Phúc, Đức, Thần, Tài cùng với một heo quay nguyên con và gạo muối…
Mục đích ban đầu của lễ hội là cầu mưa thuận gió hòa, cầu phúc lộc cho dân làng. Nhưng sức hấp dẫn của hội không phải chỉ ở chỗ làm chay, hát bội, mà còn một lý do khác. Đó chính là tiết mục đổ giàn. Địa điểm đổ giàn tổ chức luân phiên tại các chùa Bà, chùa Hội quán, gò Âm hồn và sau này được dời ra bãi cát sông Côn.
Giàn: Là một cái đàn cúng bằng tre, gỗ. Trên giàn có người chủ trò và một đội võ sĩ bảo vệ. Trên đó đặt đàn cúng thần gồm: Hương, hoa, trà, quả và một con heo quay. Khi nghi lễ chuẩn bị kết thúc, những toán võ sĩ và những người khỏe mạnh đại diện cho các làng tiến vào, sẵn sàng trong tư thế phi lên giàn… Trà trộn trong đám đông người đi xem có nhiều vệ sĩ thuộc các võ đường nổi tiếng như: An Thái, An Vinh, Suối Bèo, Trường Định, Hòa Phong... Họ được phân công, tổ chức phòng thủ chặt chẽ, còn các võ sư thì ẩn trong các quán ăn gần đó để chờ đợi kết quả tỷ thí giữa đệ tử các lò võ.
Xô giàn: Khi vị chủ tế hô lên, cuộc tranh tài bắt đầu. Các võ sĩ tài nghệ cao, phi thân lên giàn tìm cách cướp lấy con heo quay. Sau đó, phải luồn lách, lao ra khỏi đám đông, mang heo quay chạy về địa điểm an toàn đã định. Để giật được heo, các toán tranh tài cũng đã có sự phân công người trước, người sau, người bảo vệ, người ngăn cản những đối thủ khác có thể giật lại heo ngay trên tay.
Ý nghĩa của cuộc tranh tài này không nằm trong giá trị vật chất của món quà giành được, mà ở giá trị tinh thần, được thể hiện qua tài nghệ của những người dự cuộc với chỗ đứng danh dự trong làng võ. Võ đường nào không cướp được heo thì tiếp tục cho môn sinh luyện tập để chờ dịp sau…
Theo tục lệ, heo quay chiến lợi phẩm sẽ được đem xẻ ra để khao chung cho tất cả những võ sĩ cùng có mặt trong cuộc tranh tài. Những võ sĩ, hay làng võ có người giành được phần thắng được mọi người hoan nghênh, nể trọng và họ tin rằng năm ấy họ sẽ gặp hên vì được “lộc của thần”. Thường thì những lò võ ở An Thái và An Vinh hay giành được chiến thắng. Vì vậy có câu:
Tiếng đồn An Thái, Bình Khê
Nhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo.
Hội đổ giàn không chỉ là một cuộc tranh tài lý thú và hấp dẫn, mà còn là nét văn hóa đặc sắc của một vùng quê giàu tinh thần thượng võ. Theo các cụ cao niên ở An Thái, Lễ hội Đổ giàn lần nào cũng kèm theo hát bội, phóng sanh, múa lân… Những ngày đó, nhà nào ở An Thái cũng treo đèn kết hoa, trống giong cờ mở rộn rã suốt ngày đêm. Ca dao xưa phản ánh:
Đồn rằng An Thái, chùa Bà
Làm chay, hát bội đông đà quá đông
Đàn bà cho chí đàn ông,
Xem xong ba Ngọ, lại trông đổ giàn.
Đổ giàn là một lễ hội văn hóa đặc sắc của miền đất võ Bình Định. Sau gần 60 năm vắng bóng, năm 2005, cùng với chủ trương Bảo tồn văn hóa dân tộc của Nhà nước, Bình Định cho khôi phục lại lễ hội Đổ giàn. Tuy nhiên, sau gần 20 năm, từ năm 2005 đến nay, lễ hội Đổ giàn không được tiếp diễn!
Phục dựng Lễ Hội truyền thống, cần giữ gìn bản sắc văn hóa
Theo thống kê của Cục Di sản văn hóa - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tính đến nay, cả nước có trên 300 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trong đó có hơn 100 lễ hội truyền thống. Đây là tài sản vô cùng phong phú của 54 dân tộc anh em, mỗi lễ hội mang những nét văn hóa độc đáo, đặc trưng riêng của từng vùng miền, từng dân tộc.
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khi tổ chức phục dựng lễ hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao các tỉnh/ thành phố cần chú trọng việc chỉ đạo tổ chức phục dựng lễ hội truyền thống giàu bản sắc. Thông qua lễ hội, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, lồng ghép đưa các yếu tố văn hóa mới tiến bộ nhằm tăng cường giao lưu quảng bá, giới thiệu, phù hợp với nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tâm linh của đồng bào các dân tộc, góp phần thúc đẩy Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, loại bỏ yếu tố lạc hậu, hủ tục, không phù hợp trong đời sống cộng đồng.
Các lễ hội cũng cần diễn ra một cách dân dã, tự nhiên, phản ánh sinh hoạt văn hóa cộng đồng, do đồng bào chủ động tham gia mở hội và thụ hưởng những giá trị văn hóa do lễ hội mang lại một cách thiết thực, vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm. Lễ hội dân gian, truyền thống không nên tùy tiện, lạm dụng các hình thức sinh hoạt văn hóa mới làm phai nhòa bản sắc văn hóa dân gian. Chú ý phát huy vai trò của các nghệ nhân văn nghệ dân gian tham gia vào hoạt động của lễ hội, kể cả trong hành lễ cũng như trong phần hội, tránh khiên cưỡng, áp đặt. Tránh mang nặng yếu tố thương mại hoặc lợi dụng để hoạt động mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc và các tệ nạn xã hội khác trong đời sống xã hội.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, mở rộng giao lưu văn hóa và phát triển du lịch của nước ta hiện nay, các lễ hội truyền thống càng có ý nghĩa quan trọng. Một mặt, lễ hội góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Mặt khác, lễ hội trở thành yếu tố độc đáo có sức cuốn hút khách du lịch. Nhiều lễ hội truyền thống đã thu hút một lượng lớn khách du lịch, góp phần làm thay đổi bộ mặt, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương bảo tồn, phát huy những giá trị tiêu biểu của văn hóa truyền thống của dân tộc, trong đó có lễ hội dân gian. Các cấp, các ngành, các địa phương cũng đã có những hành động thiết thực trong việc bảo lưu, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp, nhân văn trong lễ hội dân gian của mỗi dân tộc.
Theo Tiến sĩ Trần Hữu Sơn, Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, lễ hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của đồng bào các dân tộc. Các lễ hội phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan các dân tộc trong một không gian, môi trường và hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Lễ hội thể hiện mong ước của con người là được khỏe mạnh, may mắn, phát tài phát lộc, mùa màng bội thu, nhà nhà no ấm, bản làng yên vui, được gặp gỡ giao lưu sau những ngày lao động vất vả… Đặc biệt, các lễ hội còn có chức năng cố kết cộng đồng, như một “mệnh lệnh thiêng” để đoàn kết tất cả cộng đồng cùng tham gia. Không những thế, trong quá trình tổ chức lễ hội, những đặc trưng nổi bật nhất của văn hóa, nghệ thuật trong các dân tộc cũng được thể hiện ra, đồng thời lễ hội cũng là môi trường tốt nhất để gìn giữ, phát huy các loại hình dân ca, dân vũ, trò chơi dân gian của cộng đồng các dân tộc…
Trong những năm trở lại đây, nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước thường xuyên tổ chức những lễ hội, những sự kiện văn hóa hoành tráng trong các dịp lễ, Tết hoặc trong các dịp kỷ niệm những sự kiện trọng đại của đất nước và địa phương, nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa, đời sống tín ngưỡng, tâm linh của người dân và phục vụ phát triển du lịch.
Ðể phục vụ các “lễ hội đương đại”, nhiều di sản văn hóa phi vật thể, nhất là các lễ hội truyền thống, đã được phục dựng, tái hiện rất quy mô, góp phần làm cho “bức tranh lễ hội” ở Việt Nam trở nên phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, không phải ở đâu và khi nào việc phục dựng, tái hiện các lễ hội truyền thống; việc khai thác các di sản văn hóa để phục vụ cho các sự kiện văn hóa, các “lễ hội đương đại” nói trên cũng mang tính tích cực. Ngược lại, do thiếu hiểu biết về di sản văn hóa, do xu hướng thương mại hóa và chính trị hóa hoạt động lễ hội nên việc phục dựng, tái hiện các lễ hội truyền thống đã có những bất cập, tạo nên những hệ lụy không mong đợi, gây phản ứng xấu trong dư luận và cộng đồng.
Cần phải tôn trọng tính chân xác của lễ hội, từ địa điểm, không gian, thời gian tổ chức đến hình thức diễn xướng, trang phục, đạo cụ, nội dung văn tế mỗi khi phục hồi, tái hiện lễ hội để phục vụ đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người dân hay để phục vụ phát triển du lịch. Phải xác định rõ chủ thể của lễ hội để có những giải pháp giữ nguyên trạng hay thay thế trong từng lễ hội cụ thể mỗi khi tiến hành phục dựng, tái hiện lễ hội. Cần xác định giá trị gốc, tiêu chí nhận dạng và các biểu hiện đặc trưng của các lễ hội để tránh tình trạng làm sai lệch và biến dạng lễ hội.
Sau cùng, cần phải duy trì sự tồn tại của lễ hội trong lòng cộng đồng, trong môi trường nguyên thủy mà lễ hội đã nảy sinh và tồn tại; luôn tạo điều kiện cho cộng đồng bảo vệ, tổ chức khai thác và phát huy các mặt tích cực của lễ hội và hạn chế những tiêu cực mà lễ hội có thể mang lại. Không nên vì mục đích thương mại, vì vấn đề “nguồn thu” từ lễ hội mà sẵn sàng bịa đặt, “vẽ rắn thêm chân” như đã xảy ra trong nhiều lễ hội ở một số địa phương trong thời gian gần đây.
Muốn xóa bỏ tận gốc những lệch lạc, biến tướng trong lễ hội, cần thay đổi nhận thức, hành vi của cộng đồng, đối tượng thực hành lễ hội. Giải pháp vừa cơ bản, vừa lâu dài không gì khác là phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục. Những điều chỉnh kịp thời về chiến lược, cách thức thực hiện từ các cơ quan chức năng cho đến điều chỉnh trong mỗi cá nhân - chủ thể của lễ hội sẽ khai thác hiệu quả, giúp lễ hội ngày càng phát triển một cách lành mạnh, đúng hướng, góp phần làm giàu tài sản văn hóa dân tộc./.
[1] Nguyễn Quang Ngọc (1988), Tư liệu về Tây Sơn - Nguyễn Huệ trên đất Nghĩa Bình, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Nghĩa Bình, tr. 51-52.
[2]Địa chí tỉnh Bình Định (2006), tập Lịch sử, Nxb Đà Nẵng, tr. 80, 100.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét