Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2024

LỄ HỘI ĐỔ GIÀN Ở AN THÁI - ĐÔI ĐIỀU SUY NGẪM (Nguyễn Trọng Quỳnh)

Mỗi lễ hội truyền thống Việt Nam được sinh ra trong một hoàn cảnh, bối cảnh lịch sử cụ thể; thường là sản phẩm tín ngưỡng của làng, rộng hơn, là vùng dân cư tương đối đồng nhất về điều kiện sống (tinh thần và vật chất). Trong cái nhân quần làng mạc nông thôn tương đối đồng nhất đó, có những hệ giá trị được sẻ chia, những khế ước được đưa ra và kể cả những tín ngưỡng được giữ gìn từ đời nọ qua đời kia. Thực hành tín ngưỡng văn hóa trong lễ hội tuy trong những khu vực nhỏ nhưng cũng có những thay đổi, tiếp biến, qua đó nó không chỉ làm chức phận lưu giữ, bảo tồn di sản ký ức mà còn hướng tới tương lai bằng việc tự điều chỉnh, gạn đục khơi trong, thích ứng với thực tế luôn thay đổi qua những hoàn cảnh xã hội khác nhau.

1. Khái quát về lễ hội Đổ giàn ở An Thái

Hàng năm, vào dịp rằm tháng 7 âm lịch, khá đông người dân một số địa phương trong, ngoài tỉnh và cả người dân Nhơn Phúc sống trên mọi miền đất nước tụ về thị tứ An Thái để dự lễ Vu Lan, xem hát bội và những cuộc thi tài. Cũng như nhiều ngôi chùa khác, vào dịp này, nhà chùa nơi đây dựng rạp làm chay, tổ chức nghi lễ xá tội vong nhân, cầu nguyện cho mọi oan hồn đều siêu thoát và tổ chức Hát bội cả ngày đêm. Ở những năm Tỵ, Dậu, Sửu, vào trung tuần tháng 7 âm lịch (tức bốn năm tổ chức một lần), địa điểm chính tổ chức lễ hội tại Ngũ bang Hội quán, thường diễn ra khá quy mô vì vậy phải có sự chuẩn bị trước một thời gian khá lâu. Cảnh An Thái mở hội đón khách thập phương vào dịp này đã được phản ảnh trong câu ca dao: Đồn rằng An Thái chùa Bà/Làm chay hát bội đông đà quá đông/Đàn bà cho chí đàn ông/ Xem xong ba Ngọ, lại trông đổ giàn.

Trong lễ hội có nghi thức “Xô cỗ, đổ giàn”, về sau gọi cả diễn trình là lễ hội Đổ giàn. Trong quá trình tổ chức lễ hội, các võ đường có điều kiện giao lưu, học hỏi lẫn nhau về võ thuật, các môn binh khí, thế võ, đặc biệt là quyền (võ tay không)… gồm các võ đường trong và ngoài vùng đất An Nhơn. Nghi thức Lễ hội này về sau mới có, theo tương truyền bắt nguồn từ thời Tây Sơn, nhằm đề cao và thể hiện tinh thần thượng võ ở vùng đất An Thái, khuyến khích và trọng dụng xứng đáng cho những ai có võ nghệ cao cường, giật được nhiều cỗ, đặc biệt là phướn và heo.

Như vậy lễ hội Đổ giàn có nguồn gốc sâu xa từ nghi thức tế lễ Tiêu diện, hóa thân Quán thế âm Bồ tát; ngày Vu Lan, dịp vui vầy của người Việt xưa, cộng với tinh thần võ thuật cổ truyền đã dần tạo nên một lễ hội dân gian đặc sắc ở An Thái.

Diễn trình nghi lễ trong lễ hội trước đây, tùy từng giai đoạn, thời kỳ được diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 7 âm lịch, có những nghi thức:

- Lễ rước nước (lấy nước từ sông Côn về Hội quán, dâng lên bàn thờ Thiên hậu Thánh mẫu và các bàn thờ khác trong Chánh điện Hội quán).

- Lễ rước cỗ (được tiến hành đến từng nhà có lòng hảo tâm cúng dâng lễ những mâm cỗ gạo, cỗ muối, bánh, cỗ heo… để rước các cỗ này về đặt trước bàn thờ ở Hội quán).

- Lễ rước Phật (rước từ chùa Phổ Tịnh về nơi tổ chức lễ hội - Ngũ bang Hội quán).

- Lễ rước hương (rước từ chùa Ông, chùa Bà, chùa Bà Hỏa về Ngũ bang Hội quán).

- Chưng cộ đất (dùng xe cộ bánh bằng gỗ có người kéo dựng cảnh trên một số địa điểm để thể hiện tích xưa có ý nghĩa giáo dục, liên quan).

- Lễ rước đèn múa lân (được biểu diễn khắp các ngả đường tại địa phương vào chiều và tối các đêm diễn ra lễ hội).

- Nghi thức cúng chay liền ba Ngọ (ngày 14, 15, 16 tháng 7 âm lịch) được tiến hành tại Ngũ bang. Ban ngày tiến hành nghi thức dâng hương, cúng lễ ba ngọ chay, dâng sớ, lễ chẩn tế (cúng chẩn) liên tiếp 3 ngày.

Khi tổ chức xong ba ngọ chay thì các cỗ tế được chuyển về Trai đàn trước sân chùa, tiến hành nghi thức khai đàn, chẩn tế, lá phướn lúc này được treo trên nóc chùa, nghi thức cầu an, chuẩn bị cho diễn trình xô cỗ đổ giàn.

Trước giờ đổ giàn, được tiến hành đăng đàn chẩn tế, kết thúc hạ đàn có nghi thức phóng sanh. Ba hồi trống, chiêng khai lễ vừa dứt, nhân dân tập trung ào vào trong tiếng hò reo vang động cả một vùng. Lúc bấy giờ võ sư, võ sĩ của các võ đường về tham dự lễ hội đã sắp xếp bố trí khá chu đáo, chặt chẽ, tất cả đều tập trung tinh thần, quyết tâm dùng võ thuật để được giành được cỗ heo trang trọng nhất và lá phướn danh dự, tượng trưng cho tinh thần thượng võ. Võ sĩ của các võ đường tham gia ra trận theo thỏa ước quy định của Ban tổ chức, họ thể hiện tài trí quyết liệt. Nếu giành được phần thắng, uy tín và tiếng vang của võ đường sẽ nhân lên gấp bội, mang phần danh dự về cho địa phương và bản thân mình. Trước đây, điều vinh dự và quyền lợi thiết thực mang lại cho các võ sư, võ sĩ nhân dịp lễ hội Đổ giàn là các quan phủ trấn đến dự sẽ tuyển chọn ngay người tài đã giành được phần thắng qua trận quyết đấu để giúp địa phương trong việc luyện binh, giữ gìn an ninh trật tự địa phương lúc bấy giờ.

Sau nghi thức đổ giàn, buổi chiều và tối, người dân và du khách tiếp tục được thưởng thức các hoạt động văn hóa dân gian, nổi bật như: phóng đăng bên bờ sông Côn, xem múa lân trên đường và hát bội tại Hội quán.

2. Lễ hội tránh được “Sự đe dọa của kẻ lạ” và tôn vinh “Văn hóa là số nhiều”

Trong xã hội mà văn hóa làng xã được phân chia tương đối đồng nhất, mỗi lễ hội thuộc về mỗi khu vực hẹp, khoanh vùng chủ thể khá rõ ràng thì việc tự quản, tự kiểm soát trong tổ chức lễ hội tương đối dễ dàng. Mọi chuyện đã trở nên phức tạp hẳn khi có những “kẻ lạ” xuất hiện ở lễ hội mang theo những hệ quy chiếu khác. Một mặt, đó là kênh truyền bá văn hóa nhưng mặt khác, đó lại tiềm ẩn một “nguy cơ” - “nguy cơ” suy diễn sai hoặc trong một số trường hợp là triệt tiêu văn hóa bản địa.

Vào đầu thế kỷ XX, trong khi các quốc gia phương Tây mở rộng chủ nghĩa thực dân nhân danh khai hóa, văn minh thì cũng trong lòng xã hội phương Tây, giới trí thức lại mạnh mẽ đưa ra thông điệp nhân học văn hóa, kêu gọi tôn trọng các tri thức và không gian văn hóa bản địa, thừa nhận văn hóa là một thực tại đa thể, văn hóa là số nhiều chứ không độc tôn, duy nhất. Thay chỗ cho sự phê phán, đánh giá kiểu tiền hiện đại xuất phát từ sự độc tôn của một nền văn hóa hay một lĩnh vực văn hóa nhất định, xem các nền văn hóa xa lạ và các lĩnh vực văn hóa mình không ưa chuộng là thấp kém, phản tự nhiên, người ta học cách tôn trọng cái khác biệt, xem nền văn hóa của mình chỉ là một trong nhiều nền văn hóa.

Câu chuyện “tranh, cướp” hoa tre ở Hội Gióng (Sóc Sơn, Hà Nội), “cướp” phết Hiền Quan (Phú Thọ), “giành giật” Ấn đền Trần (Nam Định), v.v. Trước hết, chắc chắn hiện tượng đó xuất phát từ những người xa lạ, không phải là chủ thể truyền thống của lễ hội. Nghĩa “xa lạ” ở đây được dùng với cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Sự xa lạ đáng nói chính là xa lạ trong hiểu biết. Màn tranh cướp đặt trong cách nói của làng xưa mang yếu tố vui vẻ của hội hè, một biểu trưng của sự tranh đua, thi thố võ nghệ, có thể hiểu như một trò chơi, qua đó tạo ra sự giao lưu, tương tác như ta vẫn thấy trong các trò chơi sinh hoạt cộng đồng của thời hiện đại.

Ở các lễ hội kể trên, tâm thế của nhiều “kẻ lạ” ít am hiểu đã cộng thêm tâm lý tranh cướp nhuốm màu thực dụng hôm nay đã biến việc tranh cướp (thi thố vui vẻ) trở thành một cuộc ẩu đả đậm màu sắc bạo lực và ích kỷ (để sở hữu, đem về cái muốn). Người ta phải giành cái hoa tre hay quả phết không vì vui chơi hài hòa với cộng đồng nữa mà đè đầu cưỡi cổ kẻ khác để sở đắc cái may mắn, tài lộc về mình. Giá trị tâm linh tốt đẹp đã bị tính thực dụng xoay vần thành mê tín. Rất may mắn và ý nghĩa khi Lễ hội Đổ giàn lại không có những hiện tượng như thế.

Trở lại câu chuyện “tranh, cướp” heo và phướn ở lễ hội Đổ giàn An Thái. Hiện tượng “tranh, cướp” cũng diễn ra tượng tự nhưng đối tượng tham gia chỉ gói gọn là những người biết võ nghệ thuộc các võ đường. Tất cả võ sĩ tham gia đều tập trung tinh thần, quyết tâm thể hiện tính thượng võ trong biểu diễn võ thuật cổ truyền để được cỗ heo trang trọng nhất và lá phướn danh dự. Với quan niệm “thắng thua trong việc tranh đấu là lẽ thường tình”, các võ sư vẫn thường xuyên nhắc nhở các võ sĩ không vì mục đích giành phần thắng mà sử dụng những thủ đoạn trong thi đấu; phải quyết giành chiến thắng trong danh dự, phải biết học hỏi kỹ năng, kỹ xảo giao chiến của đối phương trong từng trận đấu để liên tục bổ sung kinh nghiệm cho bản thân. Có như thế mới góp phần nâng cao năng lực bản thân và uy tín võ đường, từ đó đề cao “tinh thần thượng võ” và giữ vững truyền thống võ nghệ của cha ông.

Còn ở góc độ truyền thông, có lẽ, cũng không ít cái nhìn “xa lạ” về lễ hội, khi mà các góc máy chỉ chú mục đặc tả cảnh bạo lực để cho thấy một đời sống lễ hội cực kỳ điên đảo dã man nhưng không làm rõ bản chất thực tế đó xuất phát từ đâu, hiện tượng đi lệch so với nguyên bản thế nào, hình thái khác biệt với giá trị ra sao. Bản thân các mã giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp không được dịch giải và đưa ra bàn luận nghiêm túc mà chỉ nhìn vào cái vỏ hư thối bên ngoài do sự quá khích của những con người “xôi thịt xa lạ” tạo ra. Hơn lúc nào hết, cần sự nhiệt tình của các nhà nghiên cứu nhân học, văn hóa học, dân tộc học trong việc giải mã, thông diễn các lễ hội truyền thống, đồng thời sử dụng chuyên môn sâu để có thể truyền thông cho dân chúng và nhất là giới truyền thông hiểu để loại bỏ những hình thái tiêu cực, giữ gìn những giá trị văn hóa thực sự; tránh nguy cơ các lễ hội nói riêng, văn hóa bản địa nói chung rơi vào một trong hai thái cực: Hoặc mất khả năng tự phê phán để thích ứng với thực tại hoặc trở thành nạn nhân của các giải pháp hành chính hay các thăm dò đại chúng thiếu khoa học, đòi dẹp bỏ.

3. Chấn hưng văn hóa lễ hội, góp phần bảo tồn bản sắc dân tộc

Đối với mỗi địa phương, tổ chức lễ hội văn hóa truyền thống ngoài việc đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa phong tục, tín ngưỡng của đồng bào, còn là dịp đẩy mạnh quảng bá văn hóa, xúc tiến đầu tư, phát triển du lịch. Trong khi lễ hội văn hóa truyền thống ngày càng thu hút sự quan tâm của du khách thì các đối tượng có tư tưởng thù địch lại ra sức xăm xoi tìm kẽ hở, hạn chế, bất cập để thổi phồng, xuyên tạc nhằm phá hoại môi trường đầu tư và sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa của dân tộc ta.

Lễ hội truyền thống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống văn hóa tinh thần, nhu cầu tín ngưỡng của các thế hệ người Việt. Nền văn minh lúa nước, văn hóa làng xã của người Việt tích tụ từ hàng nghìn năm đã sản sinh, nuôi dưỡng, bảo tồn, phát triển một hệ thống di sản phong phú, đồ sộ của lễ hội, trải đều khắp đất nước. Nhiều lễ hội lớn đã trở thành thương hiệu văn hóa du lịch, thu hút một lượng du khách đông đảo, đem về cho địa phương nhiều nguồn thu lớn. Chính vì số lượng lễ hội nhiều, hình thức lễ hội phong phú, đa dạng nên công tác tổ chức, quản lý, quảng bá... ở các địa phương không thể tránh khỏi những yếu kém, bất cập. Hạn chế phổ biến nhất là sự thương mại hóa trong nhiều phân khúc lễ hội, làm phai nhạt sắc thái phong tục, lợi dụng tín ngưỡng để “buôn thần bán thánh” trục lợi cá nhân, lợi ích nhóm... Những mặt trái, tiêu cực của đời sống xã hội trong nền kinh tế thị trường đã len lỏi, phơi bày trong một số phân khúc của văn hóa lễ hội. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa có lúc có nơi còn lúng túng, chậm trễ, nhất là trong việc nhận thức, thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa trong thời kỳ hội nhập toàn diện hiện nay. Phương thức lãnh đạo và quản lý văn hóa chậm được đổi mới, chưa thích ứng kịp thời với sự vận động và phát triển văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Từ những đánh giá tổng quan ở tầm vĩ mô, soi rọi trong môi trường văn hóa lễ hội, chúng ta thấy rõ sự thẳng thắn, khách quan, không né tránh hạn chế, khuyết điểm của các cấp lãnh đạo, chỉ đạo ở một số địa phương trong công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chính vì vậy, việc bám vào những hạn chế, bất cập trong môi trường tổ chức lễ hội và văn hóa lễ hội để kích động, xuyên tạc, quy chụp,... mà nhiều đối tượng có tư tưởng thù địch đã và đang thực hiện là hành vi phản văn hóa. Trên không gian mạng, không ít thành phần bất mãn trong nước và một số đối tượng lưu vong ở nước ngoài lớn tiếng chỉ trích, xuyên tạc, cho rằng văn hóa Việt Nam đang đi “thụt lùi”, “suy đồi”,…

Muốn phản biện, phê phán một vấn đề về văn hóa, phải đứng trên phương diện văn hóa. Lấy văn hóa làm cái cớ để xuyên tạc chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng, bôi đen bức tranh thượng tầng kiến trúc của đất nước, chính sách đoàn kết dân tộc,... là cách làm xấu xa, bắt nguồn từ thái độ ti tiện, phản văn hóa. Chúng ta cần nhận diện thấu đáo để có phương pháp đấu tranh, phản bác kịp thời, hiệu quả, không để những tư tưởng thù địch làm hoen ố môi trường văn hóa lễ hội truyền thống của dân tộc, trong đó có Lễ hội Đổ giàn ở An Thái.

4. “Lấy xây để chống" trong văn hóa lễ hội

Lễ hội truyền thống là bộ phận cấu thành của văn hóa quốc gia, chứa đựng trong đó những giá trị cốt lõi của bản sắc dân tộc. Nó là một lĩnh vực của kiến trúc thượng tầng, được quyết định bởi hạ tầng cơ sở, trực tiếp là đời sống kinh tế-xã hội của đất nước. Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, tất yếu đời sống văn hóa nói chung, văn hóa lễ hội nói riêng sẽ bị ảnh hưởng, chi phối. Quy luật giao thoa, tiếp biến của văn hóa, bên cạnh việc hấp thu những tinh hoa của văn hóa thế giới, tất yếu sẽ nảy sinh những nhân tố, yếu tố tiêu cực, phản văn hóa. Dưới góc nhìn biện chứng, khách quan, những bất cập, hạn chế, yếu kém trong hoạt động lễ hội là một thách thức tất yếu. Bất cứ quốc gia, vùng lãnh thổ, dân tộc nào trong môi trường hội nhập quốc tế cũng phải chấp nhận và đương đầu với những thách thức đó. Bản lĩnh, sứ mệnh, trách nhiệm của Đảng cầm quyền là đề ra chủ trương, quyết sách đúng đắn để lãnh đạo đất nước, lãnh đạo toàn dân tộc xây dựng được môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Đại hội lần thứ XIII và Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 của Đảng đã chỉ rõ: “Sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tế và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng sẽ diễn ra quyết liệt, phức tạp hơn. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số, xã hội số, văn hóa số... vừa đem lại những cơ hội, vừa tạo ra thách thức mới trong việc xây dựng và phát triển văn hóa”. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta xác định, cần quan tâm hơn nữa đến việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các vùng, miền, của đồng bào các dân tộc, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa của thời đại.

Chấn hưng văn hóa lễ hội là gột rửa, loại bỏ những thứ đi ngược, làm trái với thuần phong mỹ tục; củng cố, tô đậm hơn những nét đẹp của sắc thái văn hóa vùng, miền, bản sắc văn hóa dân tộc. Tẩy chay, loại bỏ những tư tưởng thù địch; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về văn hóa lễ hội; lật tẩy những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý văn hóa để xuyên tạc chính trị, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng về văn hóa... cũng chính là giải pháp quan trọng để chấn hưng văn hóa, trong đó có văn hóa lễ hội.

Văn hóa là hệ thống những tri thức rộng lớn, vốn sống phong phú. Không ai có thể tự tin cho rằng mình hiểu hết các lĩnh vực của văn hóa lễ hội. Lắng nghe những ý kiến phản biện, vì thế, là một thái độ văn hóa của những người làm văn hóa. Tuy nhiên, làm văn hóa cũng không thể “đẽo cày giữa đường”. Phản biện văn hóa, trước hết phải bắt đầu bằng một thái độ văn hóa. Lấy cớ phản biện để bỉ bai, xuyên tạc, hạ thấp giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc, là thái độ thù địch của văn hóa, cần phải đấu tranh thẳng thắn, quyết liệt.

Từ môi trường lễ hội truyền thống đã có lâu đời như Lễ hội Đổ giàn ở An Thái, mong muốn cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ làm văn hóa, quản lý văn hóa ở các cấp trên địa bàn thị xã An Nhơn cần nhất quán quan điểm “lấy xây để chống” trong tổ chức, quản lý, điều hành, quảng bá, góp phần đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực văn hóa. Không bàng quan, thờ ơ, né tránh, để cho những tư tưởng cực đoan, phản động có cơ hội sinh sôi, phát triển trong môi trường văn hóa. Bản chất của lễ hội truyền thống là mỗi người tham gia đều là một thành tố của lễ hội, tìm sự an yên, tốt đẹp cho tâm hồn. Chắc chắn trong thâm tâm, không ai muốn biến mình thành một nhân tố phản văn hóa trong môi trường vốn rất văn hóa ấy.

5. Đề xuất một số giải pháp góp phần bảo tồn, khai thác, phát huy lễ hội Đổ giàn ở An Thái trong thời gian tới

Sự hình thành, tồn tại và biến đổi của môi trường văn hóa tại cộng đồng nói chung và tại các lễ hội truyền thống nói riêng gắn liền với sự phát triển của cộng đồng, sự biến đổi trong lối sống, trong nhận thức và tư duy của cộng đồng cũng như sự biến đổi của môi trường sống. Để xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường văn hóa tại lễ hội truyền thống, các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng, đó là: Nhóm các yếu tố về thể chế và quản lý; Nhóm các yếu tố thuộc về hành vi của cộng đồng địa phương; Nhóm các yếu tố về truyền thông; Nhóm các yếu tố liên quan đến du khách.

Với mong muốn lễ hội Đổ giàn ở An Thái tiếp tục được bảo tồn, khai thác, phát huy hiệu quả trong thời gian tới và trên cơ sở xác định 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến môi trường văn hóa lễ hội, các di tích liên quan, xin đề xuất thực hiện đồng bộ một số giải pháp chính như sau:

*Nhóm giải pháp liên quan về thể chế và quản lý:

- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Văn hóa - Du lịch để xác định được phạm vi và trách nhiệm của từng ngành trong việc chung tay xây dựng và phát huy các giá trị của lễ hội phục vụ cho hoạt động du lịch. Vì công tác quản lý, khai thác và phát huy giá trị lễ hội là trách nhiệm của ngành văn hóa nhưng đối tượng tiếp cận, thụ hưởng lại thuộc lĩnh vực du lịch. Do đó, cần phải có sự phối kết hợp thật chặt chẽ giữa 2 ngành để cùng mang lại những hiệu quả cao nhất.

- Cần chủ động đề ra những giải pháp phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa nói chung, của lễ hội nói riêng để thu hút khách du lịch góp phần tạo nguồn thu, làm cơ sở để bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá địa phương. Trong đó, cần chú trọng đến quan điểm chiến lược khi phát triển du lịch trên cơ sở các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội là khai thác các yếu tố văn hóa đặc trưng địa phương để tạo tính cạnh tranh, khác biệt so với các nơi khác.

- Chính quyền các cấp, các ngành phải ưu tiên và dành một phần kinh phí ổn định từng năm để thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích liên quan tại lễ hội. Trùng tu, tôn tạo các di tích, thiết chế đã xuống cấp theo từng công trình riêng biệt, đồng thời có một kế hoạch tổng thể mang tính chiến lược và triển khai định kỳ để có thể phát huy và nâng tầm giá trị của lễ hội và các di tích hiện có.

- Quan tâm nghiên cứu, đề xuất phục dựng lại một số nghi thức, hội lễ, đáp ứng phần nào nhu cầu hưởng thụ nét văn hóa đặc sắc từ lễ hội của người dự hội, phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ hiện nay.

- Có chính sách xã hội hóa phù hợp và tạo điều kiện để các doanh nghiệp, tư nhân cùng tham gia đầu tư nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ tầng, các công trình di tích phục vụ lễ hội.

- Đẩy nhanh công tác củng cố, hoàn thiện thể chế văn hóa, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa tại lễ hội và các di tích liên quan phục vụ lễ hội. Xây dựng, ban hành các bộ tiêu chí đánh giá đối với các môi trường văn hóa khác nhau, góp phần chấn chỉnh nếp sống, hành vi ứng xử trong các không gian văn hóa cụ thể.

* Nhóm giải pháp liên quan hành vi của cộng đồng địa phương:

- Giáo dục, nâng cao lòng tự hào cho người dân địa phương về bản sắc, các giá trị văn hóa truyền thống của quê hương và ý thức, hành vi tham gia quản lý, bảo tồn những di tích lịch sử - văn hoá liên quan tại lễ hội.

- Trong quá trình xây dựng môi trường văn hóa tại lễ hội, địa phương cần căn cứ vào đặc điểm riêng về địa lý, văn hóa truyền thống để có những chính sách, nguồn lực và phương thức triển khai phù hợp. Tăng cường trao đổi những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm cần khắc phục để xây dựng môi trường văn hóa tại lễ hội phù hợp và thiết thực với người dân.

- Tuyên truyền, giáo dục các hành vi trong việc giữ gìn môi trường cảnh quan sạch, đẹp; ý thức giữ gìn vệ sinh chung ở nơi công cộng, hạn chế sử dụng các sản phẩm tạo ra rác thải nhựa, không thân thiện với môi trường; ý thức trong việc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc địa phương trong việc phục vụ du khách.

- Tuyên truyền hành vi thể hiện trong văn hóa kinh doanh tại điểm đến lễ hội của địa phương như việc thể hiện sự hiếu khách trong đón tiếp, phục vụ khách; niêm yết công khai và bán đúng giá, không bán hàng giả, hàng kém chất lượng; cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ, dịch vụ mua sắm, giải trí phong phú, giàu bản sắc văn hóa địa phương; bảo đảm an toàn, an ninh cho du khách về ăn uống, trong di chuyển hoặc trong quá trình tham quan trải nghiệm tại lễ hội.

* Nhóm giải pháp liên quan các yếu tố về truyền thông:

- Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của các cơ quan, doanh nghiệp khai thác, đầu tư; nhận thức của cộng đồng dân cư và du khách nhằm bảo tồn và phát huy di tích, gìn giữ môi trường không gian di tích, không gian lễ hội theo hướng bảo vệ và phát triển một cách bền vững.

- Tăng cường công tác truyền thông, giới thiệu và quảng bá các giá trị của lễ hội, các di tích lịch sử - văn hóa liên quan trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và quốc tế để người dân và du khách biết và hiểu thêm về các giá trị.

- Xây dựng các chương trình tuyên truyền, giáo dục cho du khách về hành vi có trách nhiệm với môi trường văn hóa ở lễ hội và các di tích.

- Xây dựng các chương trình với sự tham gia của du khách vào các hoạt động bảo vệ môi trường văn hóa và môi trường tự nhiên tại điểm đến (đóng góp thùng công đức, quỹ bảo tồn di sản, các hoạt động bảo vệ môi trường ở điểm đến như nhặt và phân loại rác, …), góp phần lan tỏa ý thức, trách nhiệm của các bên liên quan.

* Nhóm giải pháp liên quan đến du khách:

- Hướng dẫn, thông tin một cách đầy đủ, hấp dẫn, cuốn hút du khách trong suốt chuyến đi về dự lễ hội, thăm các di tích lịch sử - văn hóa. Đầu tư đúng mức cho công tác thuyết minh, xây dựng nội dung và tạo điểm nhấn cho các di tích, thiết chế truyền thống tại địa phương theo hình thức đa ngôn ngữ để có thể tiếp cận, thu hút được nhiều đối tượng du khách khác nhau.

- Tại một số di tích, thiết chế hoặc khu vực xung quanh trên địa bàn An Thái còn mặt bằng, không gian rộng, nên đầu tư xây dựng phòng trình chiếu phim 3D có nội dung lịch sử - văn hoá liên quan về di tích, thiết chế truyền thống, lễ hội để tăng tính hấp dẫn, lôi cuốn du khách.

6. Kết luận

Trải qua diễn trình lịch sử, lễ hội Đổ giàn ở An Thái đã tích hợp nhiều nét văn hóa, nhiều dòng văn hóa đa dạng và hấp dẫn của một vùng quê giàu tinh thần thượng võ được kết hợp hài hòa với ngày hội chùa theo truyền thống dân gian rằm tháng bảy âm lịch. Những năm gần đây, lễ hội cũng đã từng bước được các cấp chính quyền chú ý đến, tìm biện pháp để khôi phục, bảo tồn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc truyền thống riêng có. Chính đội ngũ những người tổ chức lễ hội cũng đã mạnh dạn tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo, thể hiện được nét đặc sắc và cần thiết của diễn trình lễ, góp phần làm cho lễ hội phong phú thêm, hấp dẫn hơn. Khá nhiều du khách mọi miền đất nước đã quan tâm, đổ về tìm hiểu truyền thống thượng võ và những nét văn hóa đặc sắc thể hiện thông qua tham gia lễ hội.

Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng môi trường văn hóa mới cần được gắn kết với vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống xã hội. Muốn lễ hội và các di tích lịch sử - văn hóa vùng đất An Thái nói riêng, An Nhơn nói chung là nguồn tài nguyên có giá trị để phục vụ du lịch hiệu quả thì phải biết cách làm cho du khách hiểu, cảm nhận được các giá trị vô giá và có ý thức muốn khám phá, trải nghiệm. Phát triển du lịch trên cơ sở phát huy các giá trị di tích lịch sử - văn hóa, các thiết chế là hướng đi có tính chiến lược của rất nhiều địa phương, quốc gia trong những năm qua. Do đó, việc bảo tồn, phát huy tốt Lễ hội Đổ giàn ở vùng An Thái và các di tích lịch sử - văn hóa, thiết chế liên quan cũng chính là gìn giữ và lưu truyền cho các thế hệ mai sau mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội tỉnh nhà, xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước tạo nên thế và lực của quốc gia trên trường quốc tế trong thời gian tới./.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...