Người Hoa đến Bình Định và An Nhơn vừa rải rác, vừa tập trung thành những đợt lớn, đông đảo nhất là vào thế kỷ XVI, Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục chép rằng vong thần nhà Minh vì không chịu làm tôi tớ cho nhà Thành đã theo đường biển xuống phía Nam sinh sống. Sau này trong thế kỷ XIX do ảnh hưởng của chiến tranh thuốc phiện Hoa - Anh của phong trào Thái Bình Thiên Quốc còn có thêm một bộ phận đáng kể người Hoa đến định cư ở đây.
Tới Đàng Trong, người Hoa đã gặp được điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng và phát triển kinh tế. Một mặt, các chúa Nguyễn - cũng như các chính quyền thống trị sau này - đã dựa trên đạo lý nhu viễn nhân (mền dẻo với người phương xa) để đối xử với người Hoa, không những họ không bị ngăn cấm mà có lúc còn được chính quyền giúp đỡ trong việc làm ăn sinh sống. Nhằm mục đích xây dựng cơ sở cát cứ, các chúa Nguyễn đã dựa vào người Hoa, lợi dụng khả năng tổ chức kinh tế của họ trong việc chiêu dụ dân phiêu tán để khai khẩn ruộng đất. Ngược lại người Hoa cũng cần phải dựa vào các chúa Nguyễn để được bảo vệ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong sinh hoạt hàng ngày[1].
An Thái huyện An Nhơn là những đầu mối giao thông, dân cư tập trung thuận lợi cho thương nghiệp là một nơi tập trung đông đảo nhiều người Hoa vào đầu thế kỷ XX, tỷ lệ người Hoa ở đây chiếm 60% dân cư. Sau năm 1975, cùng với sự suy giảm của các ngành sản xuất kinh doanh truyền thống, người Hoa đã chuyển hướng di cư sang nới khác, tới các thành phố. Hiện An Thái chỉ còn 40 hộ trên tổng số 580 hộ .
Người Hoa đến định cư ở An Thái sau một thời kỳ tạm cự tại các đô thị, các hải cảng lớn như Hội An, Nước Mặn. Họ Lậm, họ Quách là những người đến đây sớm nhất. Từ đường họ Lâm do Lâm Tăng Thọ, đời thứ 9 lập năm Nhâm Tuất, Tự Đức thứ 15 (1862) nay vẫn còn. Theo gia phả, thủy tổ của họ này là Lâm Liên Quang, quê ở trang Tân An Tam Đô, huyện Đông Khê, phủ Thường Châu, tỉnh Phúc Kiến sang Việt Nam cuối đời nhà Minh (giữa thế kỷ XVII). Tính đến thế hệ cháu của Lâm Kỳ Ngoạn (đời cuối cùng là đời thứ 12 được ghi trong gia phả) họ Lâm đã trải qua 14 đời ở Việt Nam. Ban đầu họ Lâm chủ yếu buôn bán thuốc Bắc sau mở rộng ra các lĩnh vực kinh doanh khác, mua ruộng đất trở thành những thương nhân kiêm địa chủ. Vào đến thế kỷ XIX (đời thứ 8 Lâm Quang Nhữ) họ Lâm nắm gần như toàn bộ đất ở An Thái. Sau “cải cách ruộng đất” ở Bình Định năm 1839 - 1949, mặc dù bị chiết cấp 50% ruộng đất, Lâm Quang Nhữ vẫn còn hàng trăm mẫu ruộng. Gia phả Lâm Duy chép thủy tổ của họ này là Lâm Văn Hạnh, người làng Khê Vĩ, Tam Thuận Lục Đô, phủ Nam An, Phủ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, rời nước năm Khang Hy thứ 18 (1679) đến Việt Nam năm thứ Vĩnh Trị thứ 14 đời nhà Lê (1680). Lúc đầu tới Việt Nam ông trú tại phố Nước Mặn, trang Vĩnh An, xã Minh Hương, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định). Sau một thời gian ông tìm đến An Thái, mở hiệu thuốc Bắc. Là họ lớn, có thế lực, nắm giữ phần lớn các hoạt động buôn bán thuốc Bắc ở An Thái, đồng thời cũng có nhiều người làm quan to trong triều đình nhà Nguyễn. Đời thứ 4 có Lâm Tấn Đạo làm quan đến chức Phó đô Ngự sử, hàm Chánh nhị phẩm. Con Lâm Tấn Đào là Lâm Duy Nghĩa, nhà thờ họ còn bức đại tự do ông cúng vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) cho biết ông làm quan đến chức tả tham tri Bộ Binh sung thị vệ đại thần. Sau này ông làm quan Phó sứ cho Phan Thanh Giản sang Pháp (câu Phan Lâm Mãi quốc, triều đình khí dân” chính là Lâm Duy Nghĩa).
Dòng họ đến An Thái muộn hơn là họ Thái. Gia phả họ này chép từ thủy tổ là Thái Doãn Cung (627- 650), đến Thái Lập Đôn (1904 - 1955) cho biết người đầu tiên của họ Thái đến Việt Nam là Thái Dĩ An, niên hiệu Đạo Quang thứ 9 nhà Thanh (1829), mất năm Mậu Tý hiệu Quang Tự thứ 14 nhà Thanh (1888).
Ngoài 3 họ trên, An Thái còn có nhiều người Hoa khác chủ yếu đến đợt cùng với họ Thái vào cuối thế kỷ XIX.
Ngoài An Thái, ở Đập Đá còn có họ Diệp, họ Lý gốc cũng ở tỉnh Phúc Kiến định cư.
Ở Gò Găng có họ Hàn gốc Quảng Đông, họ Hàn (Phúc Kiến), họ Ngô (Quảng Đông) đến đây vào thế kỷ XVIII, hiện ở Gò Găng còn có 8 họ gốc Hoa xưa gồm họ Diệp, Trương, Hứa, Ngô, Hàn, Tống, Lâm với 35 hộ.
Ở thị trấn Bình Định (nay là phường) có 22 họ người Hoa trong tổng số 57 dòng họ ở đây trong đó họ Lâm là họ nhập cư đầu tiên, gốc Phúc Kiến.
Tại Nước Mặn (Phước Quang, Tuy Phước), đây là vốn là cảng thị, một diểm tập kết của người Hoa khi tỏa đi các địa phương khác trong tỉnh (xã của người Minh Hương - tên gọi người Hoa đã nhập quốc tịch Việt Nam) dược lập ra ở đây đã thể hiện điều đó.
Ở An Thái, người Hoa chia thành 5 bang, 4 bang mang tên các tỉnh hành chính ở Trung Quốc - quê hương của họ, gồm những người nhập cư vào thế kỷ XIX; 1 bang mang tên Cựu thuộc gồm những người nhập cư vào thời gian trước đó. Năm bang này cùng nhau lập ra chùa riêng của mình gọi là Ngũ bang hội quán, là nơi diễn ra các sinh hoạt quan trọng liên quan đến đời sống kinh tế - văn hóa - tín ngưỡng của toàn bộ cộng đồng. Đứng đầu mỗi bang là Bang trưởng, được toàn bộ cộng đồng bầu lên. Đối với các thành viên, bang bao hàm cả một số chức năng hành chính nữa.
Tín ngưỡng của người Hoa - nhất là người Hoa vùng duyên hải Đông Nam Trung Quốc khá đậm nét. Ở những nơi định cư của họ đều có chùa Ông, chùa Bà. Ở mỗi gia đình đều thờ thần Tài. Tục thờ thần Tài của người Hoa lan tỏa sang người Việt, phổ biến ở tất cả các gia đình làm nghề buôn bán.
[1] Châu Thị Hải (1989), Tìm hiểu các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam trong bối cảnh lịch sử Đông Nam Á, Luận án PTS. Sử học, Hà Nội.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét