Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2024

LỄ HỘI ĐỔ GIÀN AN THÁI - ĐỊNH HƯỚNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ (Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Ngọc)


Ở những năm Tỵ, Dậu, Sửu, vào trung tuần tháng 7 Âm lịch; địa điểm chính tại Ngũ bang Hội quán thuộc thị tứ An Thái, tỉnh Bình Định; một lễ hội truyền thống diễn ra khá quy mô, có sự chuẩn bị trước rất lâu. Lễ hội có nghi thức xô cỗ, đổ giàn, về sau gọi cả diễn trình là lễ hội Đổ giàn.

Trong quá trình tổ chức lễ hội, các võ đường có điều kiện giao lưu, học hỏi lẫn nhau về võ cổ truyền. Hội Đổ giàn phần nào kích thích cho các võ đường ở An Thái (An Nhơn), An Vinh (Tây Sơn) và các làng võ… phát triển. Ngược lại, sự phát triển võ cổ truyền ở những nơi này đã tác động đến lễ hội diễn ra phong phú, sinh động, cuốn hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân.

Diễn trình lễ hội trước đây được diễn ra từ ngày 14 đến 16 tháng 7 Âm lịch, có nghi thức: Rước nước, rước cỗ, rước đèn múa lân, rước hương, rước Phật, rước thập bát binh khí võ cổ truyền, rước cờ lộng, phóng sanh, lễ chay, nghi thức du hương, chưng cộ đất, hội xô cỗ đổ giàn, trình diễn bài chòi dân gian, biểu diễn võ cổ truyền. Năm Ất Dậu 2005, diễn trình lễ hội được chính quyền địa phương khôi phục, gìn giữ và phát huy nét đặc sắc, phục vụ nhu cầu hưởng thụ, tìm hiểu của Nhân dân và du khách thập phương.

Tuy chưa được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nhưng lễ hội Đổ giàn đã lan tỏa sâu rộng nhiều vùng miền đất nước, nhất là những nơi có di sản tương đồng, có người dân Bình Định đến nơi ấy. Nội dung tham luận cũng đặt ra về công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản lễ hội này để bàn bạc, định hướng cho dịp lễ hội năm Ất Tỵ 2025 sắp đến được diễn ra với các hoạt động đã có ở các kỳ lễ hội trong diễn trình lịch sử.

Từ khóa: Di sản Đổ giàn, lễ hội Đổ giàn, Đổ giàn An Thái.

1. Dẫn luận

1.1. Thị tứ An Thái, xã Nhơn Phúc xưa và nay

Địa danh An Thái thuộc xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn ngày nay, vào những năm đầu và giữa thế kỷ XVIII, khi giao thông thuận lợi nhất vẫn còn là đường thủy, bên dòng sông Kôn mở mộng hiền hòa, đã là một vùng đất nổi tiếng với các ngành tiểu thủ công như làm giấy, bún, dệt vải.v.v… kết hợp với các khu thương mại khác trong tỉnh thời bấy giờ như bến Cảnh Hàng, Đập Đá, Nước Mặn… An Thái trở nên một trục giao thông thuận lợi cho cả đồng bào dân tộc kinh thượng và trở thành một khu thương mại sầm uất. Chính vì những điều kiện địa lý và môi trường đặc thù như vậy cho nên thị tứ An Thái nói riêng, Nhơn Phúc đã thu hút và tiếp nhận được những nền văn hóa đặc sắc của các dân tộc khác nhau, đáng kể nhất là nét văn hóa lễ hội tín ngưỡng chùa chiền của những người Hoa ly hương từ các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Triều Châu sang Việt Nam vào những năm đầu, dưới sự cai trị của nhà Thanh và với nền võ cổ truyền Bình Định.

Nhơn Phúc là một trong những xã đồng bằng phì nhiêu, trù phú của huyện An Nhơn (nay là thị xã), nằm về phía tây, cách huyện lỵ 12km. Phía tây giáp huyện Tây Sơn, bắc giáp xã Nhơn Mỹ thị xã An Nhơn và xã Tây Vinh huyện Tây Sơn, nam giáp xã Nhơn Lộc, đông giáp xã Nhơn Khánh thị xã An Nhơn. Nhơn Phúc từ ngàn xưa vốn là vùng gần trung tâm của vương quốc Champa thời kỳ Vijaya, cách về phía đông không đầy 8km đường chim bay là thành Đồ Bàn, về sau là thành Hoàng Đế có tháp Cánh Tiên cổ kính, sừng sững uy nghi, cách phía đông nam 5km là thành Cha, di chỉ khảo cổ học văn hóa Champa với nhiều truyền tích. Phía tây không đầy 2km là đến tháp Dương Long đứng kiêu hãnh bên cạnh núi Thơm, phía tây nam có tháp Thủ Thiện, cũng là di tích kiến trúc nghệ thuật Champa trên đất Bình Định. Bản đồ hành chính xã Nhơn Phúc được xác định từ lâu và được bổ sung, hoàn chỉnh trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh.

Năm 1602 (Nhâm Dần), Nguyễn Hoàng đổi phủ Hoài Nhân thành phủ Quy Nhơn. Năm 1832, Minh Mạng lập phủ An Nhơn gồm các huyện Tuy Phước, Tuy Viễn. Nhơn Phúc thuộc huyện Tuy Viễn, phủ lỵ đầu tiên đóng tại làng Hòa Cư (Nhơn Hưng). Triều Tự Đức vào năm 1852, phủ lỵ An Nhơn dời về làng Mỹ Thạnh, đóng trên một gò cao, rộng, mặt quay về phía nam, nhìn vào cánh đồng Mỹ Thạnh bao la, phía trước là con đường liên phủ huyện xuyên qua các huyện An Nhơn, Bình Khê (khu vực phủ lỵ nay còn lại văn chỉ An Bình, bên cạnh là trường Tiểu học Mỹ Thạnh). Mãi đến năm 1939 chính thức dời về phường Bình Định của thị xã An Nhơn ngày nay.

Trải qua bao thăng trầm, Nhơn Phúc đã chứng kiến bao đổi thay. Nhơn Phúc ngày xưa thuộc tổng Nhơn Nghĩa (1 trong 4 tổng của phủ An Nhơn) với 28 làng bao gồm Nhơn Phúc ngày nay và các xã phía tây An Nhơn là Nhơn Lộc, Nhơn Khánh, Nhơn Thọ, Nhơn Hòa. Năm 1939, chính quyền đương thời tách thành 2 tổng là Nhơn Nghĩa Thượng và Nhơn Nghĩa Hạ. Địa phận Nhơn Phúc ngày nay, trước đây nằm thuộc tổng Nhơn Nghĩa Thượng. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công tổng Nhơn Nghĩa Thượng đổi lại là tổng Nghi Thượng. Cuối năm 1945, bỏ tổng gọi xã và Nghi Thượng chia thành 2 xã: Đôn Tín gồm các thôn Hòa Mỹ, Thái Thuận và Nhơn Nghĩa và xã Tập Phúc gồm các thôn Thắng Công, Mỹ Thạnh, Phụ Ngọc. Tháng 6 năm 1947 xã Đôn Tín và Tập Phúc hợp nhất thành xã Nhơn Phúc thuộc huyện An Nhơn. Nhánh sông Côn chảy dọc qua Nhơn Phúc trước đây gọi là sông Tuy Viễn, phát nguyên từ vùng giáp ranh của tỉnh Bình Định, Gia Lai chảy về Định Quang huyện Vĩnh Thạnh, đổ xuống thị trấn Phú Phong huyện Tây Sơn. Đến đây sông Côn lại tiếp thêm nguồn nước sông Đá Hàn chảy vào nên dòng sông cũng trở nên rộng thêm, đến địa phận An Nhơn thì tỏa ra nhiều nhánh, cuối cùng đổ về đầm Thị Nại. Với Nhơn Phúc và đặc biệt thị tứ An Thái, sông Côn đóng vai trò rất quan trọng, không những là huyết mạch phục vụ tưới tiêu mà xưa kia là trục giao thông đường thủy rất thuận lợi cho đồng bào kinh - thượng, cũng như lái buôn từ các vùng khác nhau. Ngược dòng sông Côn chừng 5km có địa danh bến Trường Trầu, xuôi về đông có bến Đập Đá, bến Cảnh Hàng, bến Nước Mặn, bến Gò Bồi. Bến An Thái (thị tứ An Thái) nằm trên trục đường tơ lụa ấy. Bên cạnh bến An Thái là chợ (vị trí chợ cũ An Thái) và gần sát đường bộ giao thông liên huyện đã hình thành cùng thời phủ lỵ đóng ở Mỹ Thạnh. Chính vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ vùng đất An Thái sớm hình thành và hoàn thiện một thị tứ.

Cùng một số thị tứ khác ở Bình Định, thị tứ An Thái hình thành là kết quả của sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Đàng Trong, song cũng phải kể đến một nguyên nhân quan trọng khác, đó là tác động của cộng đồng người Hoa sinh sống nơi này. Hình thành giữa một vùng nông thôn rộng lớn của Nhơn Phúc và các xã lân cận, nên với một mức độ nào đó thị tứ còn có vai trò thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh hơn.

Vùng đất Nhơn Phúc nói chung, An Thái nói riêng là nói đến vùng đất có truyền thống thượng võ, một trong những nơi có lịch sử lâu đời về võ cổ truyền Bình Định. Để thích nghi với vùng sông nước, người dân nơi đây đã dạy cho nhau miếng võ cổ truyền của nhiều vùng đất góp lại và sáng tạo ra ngón mới. Vùng quê An Thái không phải ngẫu nhiên được lưu danh là miền đất võ: “Roi Thuận Truyền, quyền An Thái”, “Trai An Thái, gái An Vinh” bởi xưa kia có bậc hiền tài Trương Văn Hiến bị lộng thần Trương Phúc Loan hãm hại đã tìm về đây ở ẩn. Không khuất phục bọn gian tà đã làm thế sự đảo điên, dân tình oán thoán; Ông mở trường dạy học, cốt đào tạo nhân tài để thay đổi thời cuộc. Ý nguyện của ông đã được đất trời thấu hiểu, vùng quê An Thái đã chở che, giúp ông phục sinh, hồi khí và gặp được hậu nhân tài trí thực hiện mong ước cháy bỏng mà ông nung nấu trong quảng đời còn lại, làm cho Quốc Thái Dân An. Ba anh em nhà Tây Sơn đã làm tròn ước nguyện ấy của người thầy giáo mà họ từng tôn kính.

Rồi đến thế kỷ XX, có một sự kiện mới ra đời, ông Diệp Trường Phát, (thường gọi là Tàu Sáu) là người Việt gốc Hoa. Ông đã hấp thụ tinh thần thượng võ đất An Thái, tiếp nhận tinh hoa võ thuật lâu đời, nhiều phái, xây dựng một hệ thống quan niệm về võ đạo khá sâu sắc. Tinh thần thượng võ ở vùng quê An Thái được tiếp nối hun đúc và mãi mãi được lưu truyền cho các thế hệ sau, và trở thành truyền thống, từ lâu những nét văn hóa sáng tạo tài hoa ấy được chuyển tải mềm mại qua diễn trình lễ hội để lưu truyền và tôn vinh “tinh thần thượng võ” của làng quê nơi này, đó là lễ hội Đổ Giàn ở An Thái xã Nhơn Phúc thị xã An Nhơn.

Và địa danh Nhơn Phúc nổi tiếng bởi vùng đất này hình thành nhiều nét văn hóa như hát bội, bài chòi dân gian, múa lục cúng; nhiều nghề cổ truyền như bún song thằn, dệt lụa, nghề thiếc, rèn, đúc chiêng, nghề giấy, xem mạch bốc thuốc đông y cổ truyền…

Nón ngựa Gò Găng

Bún Song thằn An Thái

Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

Là một trong những câu ca dao nổi tiếng nói về vùng đất đậm nét văn hóa này.

Khảo sát về cư dân Nhơn Phúc nói chung và An Thái nói riêng, ngoài người Việt sinh sống ở đây từ thế kỷ XVI như họ Hồ, Nguyễn, Lê; phải ghi nhận dấu ấn người Hoa di cư sang, đó là các giòng họ Lâm, Đường, Thái, Quách, Diệp, Tạ, Lục, Lý, Lữ, Trịnh, Trần, Hàn, Vương (sau đổi thành họ Nguyễn), Đỗ… Lớp người sang từ thế kỷ XVII đã Việt hóa hoàn toàn, gọi là Cựu thuộc; lớp người đến sau (thế kỷ XIX) gọi là Tân thuộc. Để mọi hoạt động trong đời sống và sinh hoạt thường ngày thuận lợi, người Hoa đã thành lập những ban hội, bầu vị ban trưởng, người đại diện liên hệ với chính quyền địa phương và chủ tế các cuộc hội hè, bảo vệ quyền lợi chung cho cộng đồng. Vùng đất An Thái đã hun đúc nhiều dòng văn hóa, tạo nên những bản sắc riêng của mình trong nền văn hóa Việt Nam nói chung của Bình Định nói riêng.

1.2. Một số thiết chế cổ truyền là địa điểm diễn ra các hoạt động của lễ hội Đổ giàn

Chùa An Hòa hay còn gọi là chùa Bà Trước, khai sơn năm 1760, do lớp người cựu thuộc Minh Hương thuộc trang An Hòa (Một địa danh thuộc xã Nhơn Phúc lúc bây giờ. Trang là tổ chức quản lý của người Minh Hương, trên hết là vị Trang trưởng, trông coi việc hành chính) đóng góp xây dựng, chủ yếu là họ Lâm, Trịnh, Quách. Đây là một di tích kiến trúc nghệ thuật gắn liền với việc khai hoang lập làng từ thế kỷ XVIII, kiến trúc hiện nay mang phong cách mỹ thuật thế kỷ XIX.

Chùa Ông khai sơn năm 1919 do Nhân dân thuộc trang Xuân Quang (địa danh thuộc xã Nhơn Phúc lúc bấy giờ), tập thể người Hoa (Minh Hương tân thuộc) quyên góp xây dựng, chủ yếu là họ Tạ, Thái và Diệp. Chùa thờ Quan Công. Đây là di tích kiến trúc nghệ thuật thế kỷ XIX, nơi đây cũng gắn liền với nhiều sự kiện, giao lưu văn hóa trong quá trình trải niệm lập làng, bàn luận mỗi khi An Thái đến hẹn lễ hội.

Chùa Bà Hỏa hay còn gọi là chùa Bà Sau, do Nhân dân thị tứ An Thái xây dựng sau khi có cuộc hỏa hoạn xảy ra ở đây vào năm 1847.

Ngũ bang Hội quán xây dựng năm 1873, do tập thể người Hoa ly hương dưới triều nhà Minh tỵ nạn sang Việt Nam (Minh Hương cựu thuộc) thuộc 4 bang: Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, Quảng Đông và những người Minh Hương tân thuộc. Năm tập thể họp lại thành ngũ bang cùng nhau hý cúng ngân khoản để xây dựng hội quán này, gọi là Ngũ bang Hội quán. Hội quán thờ Thiên hậu Thánh mẫu, phía sau đặt tượng Long thần hộ pháp; hai bên trái phải là tượng thờ Thiên lý Nhĩ, Thiên Lý Nhãn; tả vu đặt tượng thờ Bổn xứ Thành hoàng; hữu vu đặt tượng Tiêu diện đại lực sĩ. Tiền thân Ngũ bang Hội quán là chùa thờ Tiêu diện đại lực sĩ, hiện thân của Bồ tát Quán thế âm, là vị Tổ võ cổ truyền ở các võ đường thuộc An Thái, An Vinh và một số võ đường liên quan.

Tiền thân của Hội quán Ngũ bang là chùa thờ Tiêu Diện, một trong những vị Tổ của võ cổ truyền. Theo giáo lý Phật giáo, Tiêu Diện đại lực sĩ là thân đức Quán thế âm bồ tát hóa thân Tiêu Diện thống lĩnh cô hồn âm hồn.

“Quán âm cứu khổ đã đành,

Hiện làm Tiêu Diện quỷ hình lạ thay”.

Bởi vậy thời bấy giờ chùa thờ Tiêu Diện còn có tên là chùa âm hồn và cứ 4 năm một lần vào những năm Tỵ, Dậu, Sửu chùa tổ chức lễ cầu quốc thái dân an và siêu độ cô hồn… Đến thời Tây Sơn, nhằm đề cao và thể hiện tinh thần thượng võ ở vùng đất An Thái, khuyến khích và trọng dụng xứng đáng cho những ai có võ nghệ cao cường, giật được nhiều cỗ, đặc biệt là phướn và heo.

“Tai nghe ở hạt Bình Khê,

Nhiều tay võ sĩ tài nghề giật heo.”

Như vậy lễ hội Đổ giàn có nguồn gốc sâu xa từ nghi thức tế lễ Tiêu diện, hóa thân Quán thế âm Bồ tát; ngày Vu Lan, dịp vui vầy của người Việt xưa, dịp tết Trung nguyên của đạo Lão, cộng với tinh thần võ học cổ truyền đã dần tạo nên một lễ hội truyền thống đặc sắc ở An Thái.

Năm Quý Dậu (1933), một sự kiện kiến tạo Ngũ bang Hội quán, kế thừa tục lệ xưa, cha truyền con nối, gồm có các cụ: Tạ Thủy Quyên, Tạ Thế Diễn, Tạ Thế Tế, Tạ Kim Hỏa, Tạ Thêm Hỏa, Thái văn Tư, Thái Lập Kính, Thái Lập Đôn, Thái Lập Chánh, Thái Lập Thành, Diệp Dụng Hy, Diệp Trường Phát, Diệp Kiến Anh, Diệp Thuận Long - ông bảy Liến, ông Nhất Bò, ông Tân Hưng, ông Thái Phát, ông Đỗ Cẩm Nghi, ông Đỗ Cẩm Khôn, ông Mười Tiền, ông Bảy Hóa, Diệp Trường Nguyên, ông Nguyên Phát, đứng ra trùng tu và xây cất thêm 2 phòng Đông, Tây của Hội quán để có chỗ hội họp sinh hoạt đồng thời mở trường học lấy tên: Dục Hoa học hiệu An Thái, mục đích dạy chữ Quang Thoại (tiếng phổ thông chung cả nước Trung Hoa) và dạy học chữ tiếng Việt. Từ đó các cụ ghi chép và quy ước nghi thức Đại lễ trai đàn, tính theo chu kỳ Tam Hạp: Tỵ - Dậu - Sửu (4 năm 1 lần) cúng ba ngọ 15, 16 và 17 tháng 7 Âm lịch trong diễn trình lễ hội Đổ giàn.

Để duy trì lễ hội tốt đẹp với ý nghĩa trên, cũng phải kể từ năm Quý Dậu (1933) đến năm Ất Dậu (1945) đã có các ông: Diệp Bảo Sơn, Thái Giáo Hiếu, Tạ Cảnh Thâm, Lâm Hữu Tòng, Tồn Văn Hiệp, Trần Tài, Lê Ngọc Long, Tạ Chương Bình, Quách Khải, Lỗ Văn Hữu, Trịnh Đảnh, Đỗ Thức Châu, Đặng Nguyên Phát v.v… từng là những thành viên trong Ban tự quản, Ban tế lễ của Hội quán. Tiếp tục thực hiện lễ hội Đổ Giàn theo tư liệu xưa, Tiền hiền công đức để lại. Lễ hội vô cùng quan trọng, chẳng những cầu an, cầu phồn thịnh mà còn nhằm phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc nói chung, nhân dân An Thái nói riêng và cũng để khơi dậy tinh thần thượng võ còn tiềm ẩn trong các thế hệ của địa phương. Tinh thần ấy được hun đúc từ thế kỷ XVII, thời thầy giáo Trương Văn Hiến mở trường dạy học văn, võ tại An Thái và là người thầy của ba anh em nhà Tây Sơn.

Cách thị tứ không xa lắm về phía đông là ngôi đền thờ đức Khổng Tử, gọi là An Bình (An Nhơn - Bình Khê cũ) văn chỉ, nay thuộc địa phận thôn Mỹ Thạnh, được xây dựng vào nửa cuối thế kỷ XIX. Ngày nay, Đền vẫn còn nhưng khuôn viên đã được sử dụng làm trụ sở thôn Mỹ Thạnh và trường Tiểu học Mỹ Thạnh.

Chùa Phổ Tịnh thuộc thiền phái Lâm Tế, khởi dựng năm 1850. Do một số bà góa chồng (tài liệu của chùa ghi là 16 bà, chúng tôi tìm đọc ghi được tên họ một số bà: Lê Thị Mỹ, Lâm Thị Dư, Nguyễn Thị Tý, Tô Thị Phụng, Nguyễn Thị Đức, Lê Thị Đào, Võ Thị Quyến, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Thảo, Giang Thị Nữ, Phạm Thị Sửa, Trần Thị Lực…) lập nên, đều là những bà vợ của các quan cai trị. Vào dịp rằm tháng 7 Âm lịch, nhà chùa thi thoảng có tổ chức nghi lễ múa lục cúng phục vụ bà con tín đồ và Nhân dân An Thái, cùng với một số nghi thức hội lễ diễn ra tại thị tứ An Thái.

1.3. Về lễ hội Đổ giàn trong diễn trình lịch sử

An Hòa trang (chùa Bà Trước) khai sơn năm 1760; chùa Bà Hỏa (chùa thờ Chúc Dung thần nữ) khai sơn năm 1847; chùa Ngũ bang Hôi quán (thờ Thiên hậu Thánh mẫu) khai sơn năm 1873; chùa Ông Quan thánh (thờ Quan Vân Trường) khai sơn năm 1919. Những hình thức sinh hoạt văn hóa của các chùa đã mang lại những nét đặc sắc cho vùng quê An Thái nói riêng và Bình Định nói chung; gắn kết với chùa Ngũ bang Hôi quán, theo thông lệ cứ đến dịp tam hạp Tỵ, Dậu, Sửu vào khoảng trung tuần tháng 7 âm lịch, khi mùa màng (thời bấy giờ) gặt hái đã xong, tiết thu mát mẻ là địa điểm diễn ra các hoạt động của lễ hội Đổ giàn. Theo lệ của người dân địa phương, Ngũ bang Hội quán tổ chức Trai đàn để cầu Quốc thái dân an, xá tội vong nhân và để mừng mùa bội thu. Ban trị sự của chùa đã chuẩn bị lễ vật để cúng chay cho Bà, cộng thêm những hình thức sinh hoạt khác như Hát bội, hội Xô cỗ, Đổ giàn như câu ca dao quanh vùng đã ghi lại:

Đồn rằng An Thái chùa Bà

Làm chay Hát bội đông đà quá đông;

Đàn bà cho chí đàn ông,

Xem xong ba Ngọ, lại trông Đổ giàn.

Như vậy, hình thức cúng chay tại chùa Bà vào ba ngọ các ngày 14, 15, 16 tháng 7 Âm lịch và kết thúc lễ là nghi thức “Xô cỗ, Đổ giàn” vào những năm Tỵ, Dậu, Sửu, theo các vị lão thành ở Ngũ bang Hội quán thuật lại thì họ đã được xem lần đầu tiên vào năm 1933 (Quý Dậu), 1937 (Đinh Sửu), 1941 (Tân Tỵ). Những năm 1945 trở về sau, vì đất nước trong thời kỳ chiến tranh, hội Đổ giàn không đủ điều kiện thực hiện, dần trở nên mai một và chỉ còn sống trong ký ức của những người lớn tuổi.

Hội Đổ giàn phần nào kích thích cho nền võ cổ truyền ở An Thái (An Nhơn), An Vinh (Tây Sơn) phát triển, ngược lại sự phát triển, thăng hoa của nền võ cổ truyền đã tạo uy tín thêm cho hội Đổ giàn ở An Thái ngày càng phong phú, đa dạng, hào hứng, cuốn hút sự quan tâm tham gia của mọi tầng lớp nhân dân và chính quyền sở tại.

Trải qua 82 năm kể từ năm Tân Tỵ (1941) đến nay, lễ cúng chay (Trai Kỳ) tại Ngũ bang Hội quán ở An Thái vào các năm Tỵ, Dậu, Sửu vẫn được duy trì thường xuyên. Năm 1989 (Kỷ Tỵ), An Nhơn có khôi phục một số nghi thức lễ và một vài chi tiết của hội Đổ giàn, nhưng vẫn ở dạng sân khấu hóa, chưa phải đích thực là một lễ hội truyền thống đã từng tồn tại trong lịch sử hình thành thị tứ An Thái, trong lòng dân An Thái và người Bình Định nói chung. Năm 2001 từ khi luật Di sản văn hóa ra đời với mục đích bức thiết là phải duy trì, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam cả về vật thể lẫn phi vật thể, có lẽ đã kích thích mạnh đến việc tái hiện lại một lễ hội Đổ giàn đặc sắc đã bị lãng quên sau 60 năm không hoạt động.

Năm 2005, sau khi được gợi ý của ngành Văn hóa - Thông tin và các cấp chính quyền địa phương, Ban tự quản quyết định tiến hành tái hiện hội Đổ giàn tại chùa Ngũ bang. Qua những cuộc họp báo cáo xin tổ chức lễ hội, đáng lưu ý là cuộc họp công khai tại UBND xã Nhơn Phúc, có sự tham gia của ngành Văn hóa - Thông tin tỉnh và huyện vào tháng 5 năm 2005. Riêng Ban tự quản của chùa Ngũ bang Hội quán cũng cấp tốc họp đề ra kế hoạch triển khai tổ chức lễ hội, trao đổi đi đến thống nhất tiến trình chuẩn bị lễ hội trong các thành viên vào các dịp vía 13 tháng Giêng, 23/3, 24/6 Âm lịch. Trong những lần như thế này, Ban tự quản đã cố gắng thu thập mọi thông tin, dữ liệu cần thiết cho lễ hội qua sự truyền miệng của những người lớn tuổi đã từng mục kích lễ hội cách đây 64 năm. Bởi vậy, những bổ sung, đóng góp của từng cá nhân được lưu chép hệ thống hóa lại cho mạch lạc để tiến hành soạn thảo nội dung tư liệu cần thiết cho lễ hội. Qua đó, Ban tự quản chùa cũng dự kiến nhân sự, dự toán tài chính cụ thể, hoạch định một chương trình lễ hội hoàn chỉnh để trình cho các cấp chính quyền xét duyệt. Về mặt chính quyền địa phương, để thực hiện công tác quản lý trên địa bàn và tổ chức lễ hội Đổ giàn, UBND xã đã thành lập Ban chỉ đạo và Ban Tổ chức lễ hội Đổ giàn An Thái năm 2005. Ban Tổ chức gồm 15 thành viên, Trưởng thôn An Thái làm Trưởng ban và ông Thái Giáo Thông, đại diện Ban tự quản đồng Trưởng ban. Nhân sự được điều động và phân công nhiệm vụ một cách cụ thể, chi tiết. Bên cạnh tác nhân quan trọng trên còn phải kể đến sự quan tâm của ngành Văn hóa - Thông tin và những nghệ nhân cao tuổi lúc bấy giờ (2005) có tâm huyết đi đầu trong việc bảo tồn nét văn hóa của địa phương như các ông: Lê Ngọc Long, 89 tuổi, ngụ tại thôn Thắng Công xã Nhơn Phúc; Thái Giáo Hiếu, 84 tuổi, ngụ tại thôn Phụ Ngọc xã Nhơn Phúc; Lâm Thái Hòa Hiếu, 84 tuổi, ngụ tại thôn Thắng Công xã Nhơn Phúc…

Mọi sự diễn ra trong quá trình tổ chức lễ hội được thông qua hai Trưởng ban (hội và lễ) và với sự tư vấn, tham mưu của các cụ cao niên trong Ban tự quản. Ngoài ra, sau khi nhận nhiệm vụ xong, Ban tổ chức đề nghị các tiểu ban vạch kế hoạch hoạt động cụ thể của mình trong công tác triển khai, những khó khăn, trở ngại về vật chất, tài chính, nhân sự hoặc những nhu cầu khác sẽ được Ban tổ chức giúp đỡ tháo gỡ và đáp ứng kịp thời.

Khi công việc bàn bạc soạn thảo chương trình lễ hội của Ban tự quản đã được Nhân dân đồng tình hưởng ứng, các ban ngành có chức năng thống nhất xong. Ban trị sự, những người được sự tín nhiệm của các thành viên ủy thác trọng trách tổ chức lễ hội, cấp tốc xây dựng lên một kế hoạch tài chính cụ thể, để trù bị cho lễ hội. Vì đây là một tổ chức tự quản, nguồn tài chính chưa được quyên góp từ chính nó, như các chùa chiền khác nhờ vào các dịch vụ du lịch tham quan và bán tặng phẩm như chùa Bà ở Hội An v.v… mà hầu hết nguồn tài chính là nhờ vào sự đóng góp của người dân với tấm lòng tín ngưỡng và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương. Đây là một phần của nguồn tài chính lớn ở chùa mà Ban tự quản có được trong những Trai kỳ trước. Nhưng trong năm Ất Dậu 2005, trước sự chuẩn bị cho lễ hội với quy mô lớn, Sở Văn hóa - Thông tin đã quan tâm hỗ trợ một phần tài chính để giúp Ban tổ chức lễ hội trang trải.

Sau bao lần cân nhắc, rà soát để tìm phương án tối ưu cho việc chi phí tiến hành lễ hội thuận lợi. Ngoài các khoản do dân tự nguyện đóng góp vật lễ, các đêm hát, thiết án trước đường phố cổ; các khoản chi phí dựng đài, trang trí, tế lễ, bồi dưỡng nhân công, nghệ nhân, võ sinh các võ đường, đội lân, kinh phí khen thưởng lên đến hàng chục triệu đồng. Phần kinh phí này chưa tính đến kinh phí tổ chức bảo vệ an ninh trật tự do UBND xã Nhơn Phúc (Ban chỉ đạo) thực hiện.

Cần phải nói thêm tài chính đóng góp chính cho các cuộc lễ trước đây, phần đông trích từ nguồn thu từ hoa màu, sản phẩm mà thiện nam, tín nữ đã phụng cúng cho chùa tích trữ lại sau 4 mùa và tài trợ của một số thương gia trong khu vực thị tứ An Thái.

Có thể nói, qua truyền thông đại chúng, mối liên hệ chặt chẽ của cộng đồng và Ban tổ chức, sự háo hức mong chờ của người dân địa phương và cư dân ở xa. Vào những ngày trước lễ hội, không khí ở An Thái đã sôi động thật sự. Vệ sinh đường làng và những vùng phụ cận nằm thuộc khu vực có diễn ra các hoạt động lễ hội đã được người dân ý thức dọn dẹp sạch sẽ. Đa số hộ thành tín tự nguyện mua sắm đèn lồng treo trước nhà, thiết lập hương án trang nghiêm, chưng cỗ…

Đúng vào chiều ngày 16/7 Âm lịch (năm 2005), vào lúc 13 giờ 30, tất cả mọi ngả đường dẫn đến địa điểm tiến hành hội Xô cỗ, Đổ giàn đã được chính quyền địa phương tăng cường giám sát, tuyệt đối không cho phương tiện xe đạp. mô tô, ô tô qua lại tránh sự cản trở giao thông, để phục vụ cho du khách thưởng lãm. Nhưng thật sự ngoài dự kiến ban đầu, những đoàn người đông nghịt từ các địa phương lân cận của xã Nhơn Khánh, Nhơn Mỹ, Nhơn Lộc, Nhơn Tân của An Nhơn; Tây Vinh, Bình Nghi, Tây Bình, thị trấn Phú Phong huyện Tây Sơn, An Khê tỉnh Gia Lai đổ dồn về, khiến cho thời tiết tuy đã vào thu nhưng cũng trở nên khô nóng vô cùng. Mồ hôi nhỡ nhãi trên từng khuôn mặt du khách, lẫn người dân bản địa, phóng viên nhà báo dự hội. Quanh khu vực sân chùa, nơi dựng giàn chẩn, thực hiện Xô cỗ Đổ giàn, bên cạnh những người có trách nhiệm, một cảnh tương đối mất trật tự diễn ra lúc xô cỗ, một số người chen lấn mong tìm được một vị trí thuận lợi mà quan sát. Ban tổ chức đã bao lần nhắc nhở các bộ phận an ninh cố gắng bảo vệ tốt hiện trường và làm tròn nhiệm vụ của mình, nhưng vì quá hiếu kỳ nên đã có nhiều trẻ em tiến sát vào khu vực dành riêng cho các võ sĩ tranh tài. Bởi vậy, thời gian tiến hành lễ hội đã bị đình lại trong một thời gian. Chính điều này đã ảnh hưởng đến sự thành công nhất định của lễ hội và tạo nên chất lượng không đạt như dự kiến của Ban tổ chức và đáp ứng sự mong đợi của khách tham quan.

Tuy vậy, lễ hội Đổ giàn ở An Thái năm 2005 đã tạo cho cộng đồng sự gắn bó chặt chẽ nhau hơn với cùng một mục đích cố gắng thực hiện thành công khi tái hiện và phục hồi lễ hội, một di sản văn hóa phi vật thể đã bị lãng quên. Tạo điều kiện cho mỗi cá nhân thể hiện tính tự chủ, phát huy sáng tạo và ý thức trách nhiệm của mình trước tập thể. Phục hồi một hoạt động văn hóa làm hấp dẫn du khách, thể hiện sự giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc ở lễ hội đối với lớp trẻ và du khách. Tạo một sân chơi lành mạnh cho mọi tầng lớp nhân dân không kể tuổi tác. Ý nghĩa quan trọng nhất là góp một phần vào nền văn hóa đa sắc màu của dân tộc Việt Nam, phục hồi lại một nét văn hóa phi vật thể đã bị mai một và thất truyền.

Những kỳ lễ hội Đổ giàn tiếp theo, các gia đình và địa phương chỉ làm nghi thức tế lễ. Mùa lễ hội Đổ giàn năm 2020, có bước chuẩn bị các hoạt động hội nhưng tình hình Covid-19 nên không triển khai được.
2. Ghi chép qua kỳ lễ hội Đổ giàn năm 2005

2.1. Các hoạt động ở kỳ lễ hội 2005

Diễn trình lễ hội năm 2005, được diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 7 âm lịch, có những nghi thức:

- Lễ rước nước, lấy nước từ sông Côn về Hội quán, dâng lên bàn thờ Thiên hậu Thánh mẫu và các bàn thờ khác trong Chánh điện Hội quán; chuẩn bị các vật dụng cần thiết, ban nhạc cổ truyền với đầy đủ nghi thức lễ rước do Ban tế lễ thực hiện.

- Lễ rước cỗ, được tiến hành đến từng nhà mà người ta đã chuẩn bị lễ vật dâng lễ những mâm cỗ gạo, cỗ muối, bánh, cỗ heo… các cỗ này rước về đặt trước bàn thờ ở Hội quán.

- Lễ rước Phật, được tiến hành từ chùa Phổ Tịnh về nơi tổ chức lễ hội (Ngũ bang Hội quán); gồm có kiệu, trống, chiêng, ban nhạc, cờ nhà chùa do Ban tế lễ điều hành.

- Lễ rước hương, được tiến hành từ chùa Ông, chùa Bà, chùa Bà Hỏa về Ngũ bang Hội quán.

- Chưng cộ đất, dùng xe cộ bánh bằng gỗ (có người kéo) dựng cảnh trên một số địa điểm để thể hiện tích xưa như thầy trò Tam Tạng đánh nhau với Ngưu Ma Vương, Bà-la-sát, Hồng Hài Nhi hoặc cảnh Thiên hậu Thánh mẫu cứu nạn...

- Lễ rước đèn múa lân, được biểu diễn khắp các ngả đường trong thị tứ vào chiều và tối các đêm diễn ra lễ hội.

- Nghi thức cúng chay liền ba Ngọ (ngày 14, 15, 16 tháng 7 âm lịch) được tiến hành tại Ngũ bang, chùa Bà, chùa Bà Hỏa. Ban ngày tiến hành nghi thức dâng hương, cúng lễ ba ngọ chay, dâng sớ, lễ chẩn tế (cúng chẩn) liên tiếp 3 ngày.

- Khi tổ chức xong ba ngọ chay thì các cỗ tế được chuyển về Trai đàn trước sân chùa, tiến hành nghi thức khai đàn, chẩn tế, lá phướn lúc này được treo trên nóc chùa, nghi thức cầu an, chuẩn bị cho diễn trình xô cỗ đổ giàn.

- Cùng thời điểm diễn ra nghi thức cầu an, cầu siêu (tại Ngũ bang Hội quán), nghi thức du hương, chưng cộ đất (trên các ngả đường và vị trí đã định: Ngũ bang Hội quán, chùa Ông, chùa Bà, chùa bà Hỏa và các ngả đường An Hòa trang, Xuân Quang trang) được tiến hành. Lúc bấy giờ võ sư, võ sĩ của các võ đường về tham dự lễ hội đã sắp xếp bố trí khá chu đáo, tất cả đều tập trung tinh thần, quyết tâm thể hiện tính thượng võ trong biểu diễn võ cổ truyền để được cỗ heo trang trọng nhất và lá phướn danh dự, tượng trưng cho tinh thần thượng võ.

Trước giờ đổ giàn, được tiến hành đăng đàn chẩn tế, kết thúc hạ đàn có nghi thức phóng sanh. Ba hồi bảy tiếng trống, chiêng khai lễ vừa dứt, Nhân dân tập trung ào vào trong tiếng hò reo vang động cả một vùng. Lúc bấy giờ võ sĩ của các võ đường ra trận theo thỏa ước quy định của Ban tổ chức, họ thể hiện tài trí quyết liệt. Nếu giành được phần thắng, uy tín và tiếng vang của võ đường sẽ nhân lên gấp bội, mang phần danh dự về cho địa phương và bản thân mình. Tuy nhiên, thắng thua trong việc tranh đấu là lẽ thường tình, các võ sư vẫn thường xuyên nhắc nhở các võ sĩ không vì mục đích giành phần thắng mà sử dụng những thủ đoạn trong thi đấu; đã là võ sư võ sĩ phải đặt chữ “Tâm” “Nhẫn” “Thiện” “Đạo” lên hàng đầu, phải quyết giành chiến thắng trong danh dự, phải biết học hỏi kỹ năng, kỹ xảo giao chiến của đối phương trong từng trận đấu để liên tục bổ sung kinh nghiệm cho bản thân… Có như thế mới góp phần nâng cao năng lực bản thân và uy tín võ đường, từ đó đề cao “tinh thần thượng võ” của cha ông đã lưu truyền và giữ vững truyền thống võ nghệ Bình Định nói chung, vùng quê An Thái nói riêng.

Trước đây, điều vinh dự và quyền lợi thiết thực mang lại cho các sư sĩ nhân dịp lễ hội Đổ giàn là các quan phủ trấn đến dự lễ hội sẽ tuyển chọn ngay người tài đã giành được phần thắng qua trận quyết đấu để giúp địa phương trong việc luyện binh, giữ gìn an ninh trật tự địa phương lúc bấy giờ.

Sau nghi thức đổ giàn, buổi chiều và ban đêm người dân tiếp tục được thưởng thức các hoạt động văn hóa dân gian, phóng sanh, hoa đăng bên bờ sông Côn, múa lân đi khắp các ngả đường trên địa bàn thị tứ An Thái và tổ chức hát bội tại Hội quán.

2.2. Về Ban nghi lễ

Để thực hiện công tác quản lý trên địa bàn và tổ chức triển khai lễ hội Đổ giàn, UBND xã Nhơn Phúc đã ban hành Quyết định số 101/QĐ-UB ngày 27/7/2005 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổ chức lễ hội Đổ Giàn thôn An Thái xã Nhơn Phúc năm Ất Dậu 2005 và Quyết định số 103/QĐ-UB ngày 09/8/2005 về việc thành lập Ban tổ chức lễ hội Đổ Giàn thôn An Thái xã Nhơn Phúc năm 2005. Theo hai quyết định trên, Ban Chỉ đạo gồm 14 thành viên, Phó Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, Ủy viên VHXH xã làm Phó ban trực, Trưởng Công an làm Phó ban và các ban, ngành, đoàn thể, ban thôn An Thái làm thành viên. Ban Tổ chức gồm 15 thành viên, Trưởng ban điều hành thôn An Thái làm Trưởng ban và ông Thái Giáo Thông, đại diện Ban tự quản đồng Trưởng ban, Phó ban là ông Phan Minh Bá và Tạ văn Thọ và các thành viên trong Ban Tự quản Hội quán.

Nhân sự thực hiện tế lễ đã được Ban Tổ chức chọn những người gắn bó với Ban Tự quản Hội quán và am hiểu tinh tường nghi thức tế lễ, diễn trình lễ. Cụ thể như sau:

Chánh bái: Tạ Chương Bình

Bồi bái: Tạ Chương Phát, Lâm Văn Xuân.

Phụ trách trang trí và đổ giàn: Phan Minh Bá, Hoàng Vũ.

Chưng cộ đất: Tạ Thành Hải.

Võ cổ truyền: Lâm Ngọc Phú (Bình Sơn).

Chung cổ: Hàn Lập Thành.

Quản sở: Lâm Mười, Lữ Văn Hay.

Chuyên hành (phụ trách hậu cần): Tân Trường Hải.

Dưỡng tăng (phụ trách Trai đàn): Tạ Thành Tín, Nguyễn Luận.

Du hương (phụ trách rước hương): Trần Văn Hương, Huỳnh Trang.

Âm thanh, ánh sáng: Huỳnh Văn Vũ, Tạ Thành Hải.

Hương du (phụ trách tài chính và tiếp khách đi lễ Hội quán): Trịnh Văn Nung và Đường Triều Toàn.

Phụ trách đội lân: Trịnh Văn Nung.

Chánh bái, bồi bái là người hiểu biết rộng, phải được mọi người kính trọng. Ban Tế lễ nếu thực hiện động tác không đúng nghi thức sẽ bị bà con bắt vạ. Tất cả những thành viên trong ban nghi lễ, nhất là phụ trách tế lễ đều phải được giữ mình sạch sẽ, sử dụng trang phục cổ truyền khi hành lễ.

2.3. Trần thiết hương án

Tại Chánh điện Ngũ bang Hội quán được trần thiết hương đèn ở các bàn thờ: Thiên hậu, Tiêu diện, Bổn xứ, Thiên lý nhĩ, Thiên lý nhãn và các bàn thờ cô hồn âm hồn. Tiền đường đặt Long đình để làm lễ rước và nơi thực hiện cung an chức sự, cuối cùng là sàn diễn hát án. Phía trước Tiền đường thiết án Trai đàn (khán đài) nơi hành lễ chẩn tế. Long đình, giống như một miếu thờ, được làm bằng gỗ, bên trong Long đình là khoảng không gian để đặt vò nước khi hành lễ rước nước, đặt tượng Phật khi hành lễ rước Phật. Xung quanh Long đình được trang trí cờ lọng. Hai bên tả hữu treo câu đối. Đồng thời chùa Bà, chùa Ông, chùa Bà Hỏa, chùa Phổ Tịnh và các gia đình đều trần thiết trang trọng.

Khán đài sẽ được đặt các giàn cỗ bánh, gạo, muối… trước khi tiến hành chẩn tế, trần thiết nơi khai kinh, niệm hương và đặt biệt là án lễ vật heo, nơi diễn ra nghi thức chẩn tế, phóng sanh (thả chim) và Ban Tổ chức tuyên bố thể lệ đổ giàn. Khán đài có diện tích 15m2 (8m x 7m), cao 2m. Khán đài được xây dựng trước mặt Hội quán. Phía trước khán đài là khu vực quy định biểu diễn múa lân và tổ chức biểu diễn võ thuật và tranh heo, nhận lộc (bánh, gạo). Khán đài sẽ được dựng một trụ treo lá phướn dài vào vị trí cân đối từ phía trước, cao 9m từ mặt sàn khán đài. Phướn từ đỉnh bay phất phới trước sân Hội quán.

Gạo, muối, bánh trái… của các gia đình tín cúng được trang trí xung quanh cỗ bánh có hình tháp, được đan bằng tre. Cỗ bánh cao chùng 1,2m, đường kính đáy khoảng chừng 0,6m đến 0,8m. Mỗi vòng tre đan cách nhau khoảng 0,1m, được treo xung quanh là các bì đựng gạo, muối, bánh, kẹo… Cỗ bánh được trang trí đường viền bằng giấy màu, thiết hương án trước nhà khi chuẩn bị cho lễ rước cỗ.

Phía trước Long đình, chính giữa là đỉnh trầm hương. Hai bên có đôi hạc đứng trên lưng rùa - biểu hiện sự trường cửu. Mỗi bàn thờ đều có bộ đèn nến, bát hương, lọ hoa, mâm ngũ quả, bộ đài đặt chén đựng rượu - nước. Trang trí xung quanh bàn thờ Thiên hậu tàn lọng vóc nhiễu vàng xanh tím đỏ, thêu rèm rủ tai bèo, cờ đuôi nheo rực rỡ. Từ trong ra ngoài, hai bên trái, phải là những tấm liễn đề một số câu đối.

Tất cả cô đọng thành không gian tâm linh, phát tín hiệu tôn kính thiêng liêng, gây ý thức “Uống nước nhớ nguồn , Ăn quả nhớ người trồng cây”, luôn ghi nhớ về truyền thống dân tộc, hướng tới chân thiện mỹ và luôn đặt cái “Tâm”, “Nhẫn”, “Thiện”, “Đạo” lên hàng đầu trong các mối quan hệ.

Trong ngày hành lễ, quang cảnh tại Hội quán, chùa Bà, chùa Bà Hỏa, chùa Ông, chùa Phổ Tịnh, tại các gia đình, các ngả phố thị tứ, đường làng được trần thiết rực rỡ trang nghiêm, với cờ đại, cờ ngũ hành, cờ hội cắm xung quanh nơi hành lễ và dọc hai bên đường. Trong mỗi gia đình ở An Thái đều trần thiết hương án trước nhà, bàn thờ có lọ hoa, bát hương, trái cây, xôi, chè và không thể thiếu giàn cỗ tín cúng để đoàn rước cỗ về Hội quán.

Lá phướn được Ban Tổ chức may vải đỏ, khổ 6m x 0,3m. Nội dung ghi trên phướn bằng chữ Hán. Toàn văn do Thích Từ Mẫn trụ trì chùa Nhơn Nghĩa viết:

Án Dạ Hồng

Nam mô ốc tiêu sơn hạ diện nhiên đại sĩ; diện khẩu quỷ vương chứng minh. Thống lãnh Tam thập lục bộ nhứt thiết âm hồn cô hồn, hà sa đẳng chúng; lai đáo đạo tràng thọ hưởng cam lồ pháp thực siêu sanh giải thoát, hộ kỳ dân chúng đắc bình an.

Tạm dịch nghĩa:

Án Dạ Hồng (Trên lá phướn)

Cúi lạy Đại sĩ Diện nhiên vương, thị hiện quỷ vương. Đầu đội núi, chân đi trên lửa, miệng phun lửa dữ, cai quản 36 bộ, tất cả âm hồn cô hồn, hằng hà sa số, vô lượng vô biên, thỉnh đáo đạo tràng, thọ hưởng cam lồ pháp Phật, siêu sanh giải thoát và luôn phù hộ dân chúng được bình an.

(Phiên âm và dịch nghĩa: Thích Từ Mẫn)

2.4. Về phần hành lễ

Chương trình lễ gồm có các nội dung:

a) Lễ chay

Diễn ra đúng ngọ (12 giờ) vào các ngày 15 và 16 /7 năm Ất Dậu (19 và 20/8/2005) tại các gia đình.

b) Lễ rước nước

Tiến hành vào lúc 13 giờ đến 14 giờ chiều ngày 15/7 năm Ất Dậu (19/8/2005), Đoàn rước xuất phát từ Hội quán đi lấy nguồn nước ở giữa dòng sông Côn về dâng lên bàn thờ Thiên hậu Thánh mẫu và các bàn thờ khác trong Chánh điện Hội quán; Ban Tổ chức chuẩn bị các vật dụng cần thiết như một cái vò mới rửa sạch, chiêng, trống, ban nhạc cổ truyền với đầy đủ nghi thức lễ rước do Ban tế lễ thực hiện. Đoàn rước có Ban tế lễ 3 người (một chánh bái 2 bồi bái), ban nhạc lễ 6 người, 4 lễ sinh mặc lễ phục khiêng kiệu và một số thành viên cùng đội lân theo hầu kiệu. Tất cả các thành viên trong trang phục đại lễ cổ truyền. Trên kiệu là một vò đất mới phủ vải đỏ, dùng để lấy nước thiêng. “Nước” lấy về với ý nghĩa để sử dụng vào các dịp cúng Thiên hậu trong chu kỳ 4 năm.

c) Lễ rước cỗ

Tiến hành vào lúc 14 giờ đến 17 giờ chiều ngày 15/7 năm Ất Dậu (19/8/2005). Đoàn rước có xe cộ, kiệu rồng, cờ, ban nhạc, thực hiện nghi lễ như rước nước. Đoàn tuần tự đi các ngả đường có nhà dân tín cúng các cỗ, rước về đặt tại Ngũ bang Hội quán để phục vụ chẩn tế

d) Rước đèn múa lân

Tiến hành vào chiều và đêm ngày 15 và 16/7 năm Ất Dậu (19 và 20 tháng 8/2005). Chiều ngày 157 âm lịch còn diễn ra một số trò chơi dân gian như nặn tò he, biểu diễn mặt nạ…

e) Rước hương

Tiến hành vào lúc 7 giờ đến 9 giờ sáng ngày 16/7 năm Ất Dậu (20/8/2005). Đoàn rước có kiệu rồng, cờ, trống, chiêng, ban nhạc, chánh bái, bồi bái, học trò gia lễ, lân, cộ v.v... từ Hội quán tuần tự đến chùa Phổ Tịnh tiến hành nghi lễ rước Phật; đến chùa Ông tiến hành nghi lễ rước thập bát binh khí; đến chùa Bà tiến hành nghi lễ rước cờ lọng để tăng uy nghiêm, trang trọng cho lễ hội.

f) Chưng cộ đất

Tiến hành vào lúc 7 giờ 30’ đến 9 giờ sáng ngày năm Ất Dậu 20/8/2005, cùng thời điểm thực hiện nghi thức rước hương. Đoàn du hương trên các trục phố chính, dùng ngựa diễn tích Tây du ký cùng với đội lân đi qua bốn địa điểm được chưng cộ đất, cảnh như núi đá, hang động thể hiện động quỷ nhện nhện, động Hồng Hài Nhi, Ngưu Ma vương, động Bà la sát cản trở thầy trò Tam Tạng trên đường thỉnh kinh.

g) Đăng đàn chẩn tế

Từ 9 giờ 30’ đến 10 giờ sáng ngày 16/7 năm Ất Dậu (20/8/2005), tại Ngũ bang Hội quán diễn ra nghi thức cung an chức sự, niệm hương, thượng phan (treo phướn), kế đến là nghi thức tế lễ Thiên hậu Thánh mẫu. Thành phần tham gia tế lễ, ngoài Ban tế lễ của Hội quán còn có 12 vị sư Phật giáo từ các chùa trong xã và một số nơi ở huyện An Nhơn.

Chiều ngày 16/7 năm Ất Dậu (20/8/2005), từ 13 giờ đến 15 giờ tiến hành chẩn tế cầu an tại Trai đàn, sau khi đã nhập vật tế lễ lên trai đàn.

h) Nghi thức phóng sanh

Nghi thức đăng đàn chẩn tế kết thúc, vào lúc diễn ra nghi thức hạ đàn, chuẩn bị vào hội xô cỗ-đổ giàn là nghi thức phóng sanh (thả chim) tại trai đàn được thiết lập trước sân Hội quán, (thả cá) trên bến sông Côn.

i) Hội Đổ giàn

Nghi thức hạ đàn kết thúc, ông Phan Minh Bá, đại diện Ban Tổ chức tuyên bố thể lệ tham gia xô cỗ-đổ giàn, sau ba hồi bảy tiếng chiêng, trống dứt.

Ba võ đường: Võ đường Bình Sơn ở Thắng Công xã Nhơn Phúc, võ đường Hải Sơn ở An Thái xã Nhơn Phúc huyện An Nhơn, võ đường Trần Dần ở An Vinh xã Tây Vinh huyện Tây Sơn tham dự trong tinh thần thượng võ, đoàn kết, tự giác; thể hiện tính Chân - Thiện - Mỹ trong võ đạo truyền thống của Bình Định cùng đông đảo nhân dân tham gia dự hội Đổ giàn.

k) Xây chầu Hát bội

Tiến hành hát Lễ vào lúc 17giờ ngày năm Ất Dậu 20/8/2005 tại sân Chánh điện Hội quán với trích đoạn của vở tuồng Cổ Thành. Sau đó hát bội 7 đêm liền tại khu vực chợ cũ An Thái.

Tiến hành các lễ tiết: Rước nước, rước cỗ, rước Phật, rước thập bát binh khí, rước cờ lọng, du hương, chưng cộ đất đều có đội nhạc lễ và đội lân. Tế lễ Thiên hậu Thánh mẫu và chẩn tế thì có đội nhạc lễ và Cung an chức sự đạo tràng (12 thành viên chức sắc Phật giáo).

Bước vào nghi thức tế Thiên hậu Thánh mẫu: Vị thủ xuớng điều hành lễ tế giọng ngân nga cất lên:

- Chánh bái: (tên của vị chánh bái, chánh bái bước vào bái 3 bái, sau đó lui ra)

- Tả hữu phân hiến: (tên của hai vị bồi bá (phụ bái)i, 2 vị bước vào bái 3 bái)

- Khởi chinh cổ: (tên của 2 vị: đánh trống và đánh chiêng, cầm dùi vào bái ba bái)

-Đọc văn lễ cúng: (tên của vị đọc chúc văn).

Ghi chú: Chánh bái, tả hữu phân hiến, khởi cổ viên, chinh cổ viên, độc chúc tùy từng năm tổ chức lễ hội có sự thay đổi.

* Khởi lễ

- Nghi củ soát lễ vật (kiểm tra vật tế lễ, do chánh bái thực hiện).

- Chấp sự giả cát tư kỳ sự (trách nhiệm người nào vào việc nấy).

- Khởi chinh cổ (cử chiêng trống theo kiểu Xuân Tam. Chiêng đánh ba hồi dài, trống đánh ba hồi dài, chiêng đánh hai tiếng, trống tiếp hai tiếng, chiêng đánh một tiếng, trống đáp một tiếng).

- Khởi nhạc (cử nhạc lễ).

- Phân hiến tựu vị (hai bồi bái vào vị trí chính thức).

- Chánh bái tựu vị (Chánh bái vào vị trí chính thức).

- Nghệ quán tẩy sở (Chánh bái ra thau nước để chuẩn bị rửa mặt, phải đi vuông góc với quán tẩy).

- Quán tẩy (Chánh bái rửa mặt).

- Thuế cân (Chánh bái lau mặt; Người xưa quan niệm rằng người đối diện với thần linh cần phải sạch sẽ).

- Phục vị (Chánh bái trở về vị trí cũ).

- Nghệ hương án tiền (lễ dâng hương: Giai qùy, phần hương, niệm hương, hưng bình thân).

- Nghi tổ sư cúc cung bái (lễ bái: ba tuần bái).

- Hành sơ hiến lễ nghệ tôn tổ sư vị tiền (lễ dâng rượu lần thứ nhất, Chánh bái quỳ, hai bồi bái nâng ly rượu và bình rượu đi điện vào, cả ba người đều quỳ).

- Chước tửu (Chánh bái cầm bình rượu tay phải rót qua ly rượu phía bên cạnh).

- Hiến tửu (Chánh bái dâng rượu, bái 3 bái).

- Phân hiến (Bồi bái rót rượu ra các bàn tả hữu).

- Hưng bình thân (Bồi bá, Chánh bái đều đứng dậy và lui ra một bước).

- Phục vị (Chánh bái và Bồi bái đều bước vào một bước).

- Nghệ độc chúc vị (Xướng lễ từ vị trí thủ xướng đi về phía lễ sinh, hai lễ sinh đứng vào hai bên Xướng lễ,dâng bản văn cho Xướng lễ đọc văn tế Thiên hậu Thánh Mẫu).

- Giai quỳ (Chánh bái và Bồi bái quỳ).

- Độc chúc (Xướng lễ chính thức đọc văn tế).

- Phủ phục hưng bái (Đứng dậy và lạy hai lạy).

- Phủ phục hưng bình thân (Chánh bá, Bồi bái đều đứng dậy và lui ra một bước).

- Hành á hiến lễ nghệ tôn tổ sư vị tiền (Lễ dâng rượu lần thứ hai).

- Chước tửu.

- Hiến tửu.

- Phân hiến.

- Hành chung hiến lễ nghệ tôn tổ sư vị tiền (Lễ dâng rượu lần thứ ba, tương tự như lần thứ hai).

- Nghệ ẩm phước vị (Lễ nhận rượu tàn).

- Ẩm phước (Chánh bái nâng ly rượu vái một vái rồi đưa cho Lễ sinh).

- Thọ tộ (Lễ sinh dâng ẩm thực tượng trưng cho Chánh bái; Chánh bái trịnh trọng bưng lấy rồi bái một bái, sau đó trao cho Lễ sinh).

- Phủ phục hưng bái. (Chánh bái thực hiện hai lạy).

- Điểm trà (Lễ dâng trà).

- Chước trà (Rót trà).

- Hiến trà (Dâng trà lên bàn thờ Thiên hậu và các bàn thờ khác).

- Thối khước (Chánh bái bước lui ra).

- Sĩ nông công thương đồng hiến lễ (đại diện bà con dân An Thái và du khách thập phương vào lễ Thiên hậu).

Lễ tất

- Đồng phục vị (Chánh bái và Bồi bái vào vị trí phục vị).

- Lễ thành cúc cung bái (Lễ lạy 4 lạy).

- Thối khước (Chánh bái, tả hữu phân hiến bước lui ra).

- Phần chúc lễ tất (Đốt văn tế và vàng mã).

- Lễ tất (Lễ tế Thiên hậu Thánh mẫu đã hoàn thành, bái tất).



Chúc văn rước nước

Hôm nay ngày 15 tháng 7 năm Ất Dậu, nhằm ngày 19/8/2005, chúng tôi cử hành lễ hội Đổ Giàn tại chùa Thiên hậu Thánh mẫu (Ngũ bang Hội quán) thôn An Thái. Trên bến Côn giang, Đất lề quê thói, Ban tế lễ chúng tôi nhất tâm dâng nén tâm hương triệu thỉnh. Xin Thủy quan hà bá như xưa nay thường gọi cho chúng tôi được rước nguồn nước mát ngọt ngào, tinh khiết mà Thủy quan đời đời gìn giữ và ban phát cho muôn nhà. Nguồn nước huyền diệu, anh linh ấy chúng tôi rước về dâng hiến tế lễ Thiên hậu và chư vị thánh thần, tâm linh chứng giám tâm thành của nhân dân địa phương hằng cầu nguyện quốc thái dân an, địa phương hùng cường, muôn dân hạnh phúc.

Chúc văn rước cỗ

Hôm nay ngày rằm tháng 7 năm Ất Dậu, nhằm ngày 19/8/2005, thay mặt Ban Tổ chức lễ hội Đổ Giàn ở An Thái kính cáo Thổ thần, Địa môn gia chủ chứng giám cho chúng tôi rước những cỗ muối, gạo, bánh, kẹo… mà gia chủ đã tín cúng Thiên hậu Thánh mẫu và chư vị thánh thần âm tướng âm binh, các đẳng cô hồn thọ hưởng.

Kính bái chư vị Thổ thần

Xin chú nguyện toàn gia chủ khỏe mạnh, an lạc.

Chúc văn rước Phật

Nam mô A Di Đà Phật

Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.

Hôm nay là ngày Vu lan năm Ất Dậu cũng là ngày lễ Trai đàn chẩn tế đổ giàn lễ hội Thiên hậu Thánh mẫu tại An Thái. Trước Điện tiền Tam bảo chùa Phổ Tịnh, chúng tôi là những người con của quê hương An Thái xã Nhơn Phúc huyện An Nhơn tỉnh Bình Định thành kính dâng nén tâm hương đảnh lễ chư Phật từ bi cho phép chúng tôi được cung thỉnh chư Phật Du hương về Ngũ bang Hội quán để chứng minh soi đuốc tuệ giác trợ lực cho Thánh mẫu và chư thánh thần, tâm linh đồng độ trì, âm binh âm tướng, các đẳng cô hồn được thọ hưởng phép Phật nhiệm mầu an nhiên tự tại siêu thoát. Nhân dân địa phương an cư lạc nghiệp trong ánh sáng giác ngộ của chư Bồ Tát.

Kính bái bạch.

Chúc văn rước thập bát binh khí

Hôm nay ngày rằm tháng 7 năm Ất Dậu, nhằm ngày 19/8/2005, thay mặt Ban Tổ chức lễ hội Đổ Giàn ở An Thái thành tâm kính thỉnh Quan thánh Đế quân du hương về chùa Thiên hậu Thánh mẫu tăng lực oai đức của Ngài độ trì lễ hội được thành quả viên mãn. Đồng xin Quan thánh cho phép chúng tôi rước thập bát binh khí để thực hiện du hương và hành lễ tăng phần tôn nghiêm trọng thể.

Kính bái

Chúc văn rước cờ lọng

Hôm nay ngày rằm tháng 7 năm Ất Dậu, nhằm ngày 19/8/2005, thay mặt Ban Tổ chức lễ hội Đổ Giàn ở An Thái thành tâm kính thỉnh Lâm nương nương du hương về chùa Thiên hậu Thánh mẫu tăng lực oai đức của Bà độ trì lễ hội được viên mãn. Đồng xin Thánh Lâm mẫu cho phép chúng tôi rước Cờ lọng để thực hiện du hương và hành lễ tăng phần tôn nghiêm trọng thể.

Kính bái

Văn tế Thiên hậu Thánh mẫu

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhơn Phúc, ngày 16/7 Ất Dậu, nhằm ngày 20/8/2005.

Kính cáo bạch Thiên hậu Thánh mẫu

Theo Tiền hiền công đức lưu lại: Thường lệ tam hạp Tỵ-Dậu-Sửu (4 năm một lần) cử hành Đại lễ Trai đàn lễ hội Đổ Giàn tại An Thái, nhưng 64 năm qua bị gián đoạn, thể theo nguyện vọng của những người dân An Thái và nhờ sự tạo điều kiện thuận lợi của các cấp chính quyền, quê nhà thanh bình, đời sống nhân dân an cư lạc nghiệp, phồn thịnh.

Nay chúng tôi quy tụ về Hội quán Ngũ bang tiến hành lễ hội Đổ Giàn để tưởng nhớ công đức của Thánh mẫu và chư vị Thiên lý nhĩ, Thiên lý nhãn, ông Bổn, ông Tiêu, âm tướng, âm binh, các đẳng cô hồn đời đời che chở, phù hộ độ trì nhân dân địa phương sinh sống sung túc, phát đạt thịnh vượng.

Chúng tôi thành kính cúi đầu đảnh lễ Thiên hậu và chư vị thánh thần, tâm linh thọ hưởng lễ vật tâm thành do nhân dân hiến cúng. Chúng tôi tha thiết nguyện cầu mưa thuận gió hòa, quê hương cường thịnh, muôn nhà hạnh phúc.

Xin Thánh mẫu chứng giám

Kính bái.



2.5. Về một số hoạt động hội và nét đặc sắc trong diễn trình lễ hội

Có thể nói võ cổ truyền An Thái nói riêng, nền võ cổ truyền Bình Định có từ lâu đời trong diễn trình lịch sử Bình Định, đã in đậm trong ca dao dân ca, đến nỗi nói về Bình Định là nghĩ ngay đến hình tượng:

"Ai về Bình Định mà coi

Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền".

Lễ hội Đổ giàn ở An Thái là cả diễn trình nhiều tiết lễ, nhiều hoạt động văn hóa. Nhưng thực sự từ xưa nay, nói đến lễ hội Đổ giàn thì mọi người chú ý đến nghi thức xô cỗ đổ giàn, một hội tràn đầy tinh thần thượng võ. Chế Lan Viên tâm sự: "Chả lẽ lại nói là những kiểu kiến trúc đặc biệt nhà lá mái, bộ cửa bàn khoa Bình Định hay cái vòng quay kiên trì triền miên của các xe nước ngoài Quảng Ngãi đã cho tôi sự chịu khó trong thơ? Nhưng quả là những đêm hát bội ở An Vinh, các cuộc đổ giàn ở An Thái làm cho tôi yêu chất hùng tráng - sau này ta gọi là sử thi hay là gì nhỉ? Rồi đây các bạn cũng nên tổ chức lại hội đổ giàn, đó chả là Olympic của ta đấy sao? Một cái giàn cao hàng chục mét, có con heo trên ấy và dưới đất là hàng chục võ sĩ từ Quy Nhơn, Đập Đá lên, Bình Khê xuống, Hoài Ân, Hoài Nhơn vào, cùng với các võ sĩ An Thái, An Vinh tại chỗ đang chờ đợi. Khi con heo ném xuống là một cuộc "Tỉ thí lôi đài" dữ dội để giành cho được con heo kia, dấu hiệu đoàn nào sẽ là vô địch năm này. Chất hùng ca trong thơ làm sao không dính líu, cái dây hồng trong thơ làm sao không dính líu với các cuộc đổ giàn thượng võ này?" (Chế Lan Viên - Thơ văn chọn lọc, Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình, 1988).

Hội Đổ giàn năm 2005 được Ban Tổ chức xây dựng trên cơ sở nhằm tái tạo không gian hội với ba võ đường Bình Sơn, Hải Sơn và Trần Dần trên tinh thần đoàn kết, học hỏi, cố gắng thể hiện những nét tinh túy của võ cổ truyền. Điều không lường hết, đó là lượng người dự hội quá đông, khâu chuẩn bị chưa được chu đáo, nhất là an ninh trật tự. Mọi người đều nô nức xem cho bằng được giây phút thăng hoa của võ đường nào đây, phướn sẽ như thế nào trong biểu tượng danh dự và tín ngưỡng.

Một sự vật, hiện tượng nào cũng có mặt trái, tranh tài quá khích đồng nghĩa với ẩu đả hỗn loạn, tín ngưỡng quá cuồng nhiệt đồng nghĩa với mê tín. Trong lễ hội Đổ giàn năm 2005, điểm sâu sắc và hấp dẫn đối với giới trẻ là biểu diễn múa lân, trò chơi nghệ thuật nặn tò he, làm mặt nạ bằng giấy, diễn tích Tây du ký thông qua nghi thức du hương - chưng cộ đất…

Nghệ thuật làm đồ chơi cho trẻ em đã xuất hiện từ lâu ở Việt Nam cùng với sự hình thành của rất nhiều làng nghề, phường nghề vào thế kỷ XVI-XVII. Các sản phẩm được sản xuất quanh năm để bán trong ngày thường, trong các phiên chợ quê và đặc biệt là phục vụ tết Trung Thu. Đã xuất hiện những làng nghề chuyên nặn tò he như làng Phượng Dực, Phú Xuyên (Hà Tây), làm mặt nạ, đầu sư tử bằng giấy bồi ở phường Hàng Mã (Hà Nội)...

Các làng nghề nói trên là nơi thu hút hầu hết những thợ giỏi từ khắp nơi và dưới sự khéo léo của đôi bàn tay cùng óc sáng tạo, họ đã tạo nên những sản phẩm đồ chơi thật giản dị nhưng không kém phần hấp dẫn. Chúng làm say mê biết bao trẻ nhỏ chỉ bằng những nguyên liệu dễ kiếm nhất, đơn giản nhất nơi làng quê như nắm đất, cục bột, ít phẩm màu, tờ giấy hay cành tre… Các nghệ nhân từ các làng nghề nói trên đã tỏa về nhiều tỉnh miền Trung và miền Nam, trong đó An Thái là một điểm dừng chân của nghệ thuật nặn tò he, làm đầu lân, sư tử.

Sản phẩm tò he là loại đồ chơi xuất hiện rất nhiều trong các phiên chợ quê An Thái trong những dịp hội hè của những năm qua và hiện nay. Nó được nghệ nhân sáng tạo và lấy cảm hứng từ những chủ đề, những điển tích về các nhân vật nổi tiếng trong dân gian như Lưu Bình - Dương Lễ, Quan Vân Trường, Trương Phi, bát tiên quần thú, những mâm ngũ quả, chim, hoa lá... Các mẫu vật được làm bằng bột gạo nếp, gạo tẻ, đôi khi cũng được làm bằng mạch nha để chơi xong là có thể ăn được. Những hòa sắc xanh, đỏ, tím, vàng... được nhuộm bằng màu tự nhiên, có độ tương phản cao nên hết sức hấp dẫn mắt nhìn của trẻ em.

Một hình ảnh đặc trưng chỉ xuất hiện trong dịp lễ hội là các loại đồ chơi cắt dán bằng giấy nhiều màu. Màu sắc sặc sỡ cùng khả năng tạo dáng tinh tế đã đưa những con vật trong đời sống hàng ngày đến với thế giới trò chơi đầy tưởng tượng của các em. Hình ảnh con thú cách điệu dưới dáng vẻ của những chiếc đèn con thỏ, con tôm, con công, đèn ông sao, ông sư... đầy màu sắc lung linh trong ánh nến được thắp sáng ở giữa đèn. Cách tạo dáng bằng cốt tre sau đó dán giấy màu phủ bên ngoài là đặc trưng riêng của loại đồ chơi này. Các họa tiết hoa văn trang trí được vẽ trực tiếp lên sản phẩm hay đính kèm làm cho chiếc đèn trở nên rực rỡ, vui mắt hơn. Trong những loại đèn đốt lửa thì đèn kéo quân là món đồ chơi thực sự lôi cuốn không chỉ trẻ em mà cả người lớn. Một chiếc đèn có cấu tạo rất đa dạng với nhiều hình dáng như vuông, tròn hay bát giác. Có thể nói đây là sự sáng tạo lớn của nghệ nhân khi sử dụng những kỹ thuật, nguyên tắc khí đối lưu để chế tạo nên chiếc đèn kéo quân.

Đầu lân, sư tử hay mặt nạ làm bằng giấy bồi cũng là trò chơi đã thể hiện vào dịp lễ hội Đổ giàn ở An Thái năm 2005. Thông qua hình thức đeo mặt nạ để giấu mình, trẻ em đã gửi gắm vào đó ước mơ về sự mạnh mẽ, lòng dũng cảm trong sự hóa thân vào nhân vật, con thú mình yêu thích. Hình tượng con lân, sư tử được cách điệu hóa, uy nghiêm nhưng vẫn vui nhộn, hiền từ. Cùng với điệu múa sư tử, không thể thiếu được tiếng trống ếch rộn ràng, tiếng mõ tre lách cách - những âm thanh đặc trưng trong dịp lễ hội.

2.6. Võ cổ truyền và diện mạo làng võ An Thái tác động đến lễ hội Đổ giàn

Truyền thống võ nghệ ở An Thái được hun đúc qua những bước thăng trầm của thời gian, trải niệm lịch sử. Bây giờ, chúng ta chỉ biết vị thầy giáo Hiến (Trương Văn Hiến) đáp thuyền cập bến An Thái vào một ngày lịch sử nào đó của thế kỷ XVIII và quyết định ở lại lập nghiệp trên mảnh đất này. Ông quyết định chọn địa điểm gò cao nhìn xuống dòng sông Côn uốn khúc, ươm trồng những hàng cây cổ thụ bên những ngôi nhà nhìn ra dòng sông lịch sử, rồi lập trường luyện võ, dạy văn. Ba anh em Tây Sơn đến xin nhập học được ông thâu nhận. Sang thế kỷ XIX, vùng đất này đã đón tiếp nhiều người Hoa, trong đó có các võ sư và dần hình thành hai phái: Phái người Việt của ông Đoàn Dũ và phái người Hoa của ông Khánh Ngôn.

Cơ duyên hội tụ rồi lại đến, An Thái có dịp hun đúc tinh hoa võ nghệ nhiều phái võ. Hàng năm, vào các dịp vui xuân, các võ đường lại cùng dựng trường đài trình diễn, giao lưu và cũng thách đấu tại nơi này. Hội Đổ giàn, địa điểm là tại Ngũ bang Hội quán (Thời bấy giờ khuôn viên Hội quán rất rộng, nhìn ra trước là dòng sông Côn tấp nập thuyền bè. Ngày nay Hội quán đã bị thu hẹp lại quá nhiều, xung quanh và phía trước đã xây nhà). Đây là dịp cho các võ sĩ học hỏi và rút tỉa những tinh hoa võ thuật của nhiều môn phái, võ đường khác mà rèn đúc, nâng cao võ nghệ.

Đầu thế kỷ XX, có một sự kiện với làng võ An Thái là quá trình xuất hiện của phái quyền Tàu mà Diệp Trường Phát, hiệu Thoại Chi (thường gọi là võ sư Tàu Sáu) là người khai mở. Võ sư Tàu Sáu sinh năm 1896, là người Việt gốc Hoa. Ở quê mẹ, Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ. Năm 13 tuổi (1909), ông được gửi về Tàu, rồi sang Hồng Kông học. Sau 15 năm, Tàu Sáu lúc này đã 28 tuổi, quay trở về An Thái và mở trường dạy võ hơn 40 năm, tiếp nhận những tinh hoa võ nghệ lâu đời, nhiều phái, trên quy mô tổng hợp, tinh lọc, xây dựng một hệ thống quan niệm về võ thuật khá sâu sắc. Về mặt tinh thần, võ sư Tàu Sáu lấy "Ngưu giác chỉ" làm biểu tượng của môn phái.

Võ sư Tàu Sáu đã đào tạo được nhiều đệ tử nổi danh như Ba Phùng, Chín Kỷ, Phó Tuần Chuẩn, Năm Tường. Năm Tường vốn là hảo thủ Nam Kỳ từng bất phân thắng bại với A-bu-đu (một võ sĩ hạng nặng của Pháp có lối luyện võ rất dã man, tương truyền là mỗi sáng dùng tay không đấm chết hai con bò mộng). Nhưng khi Năm Tường ra Bình Định thọ giáo võ sư Tàu Sáu một thời gian trở về thì A-bu-đu sợ, không dám nhận lời tái đấu và tự rút lui khỏi các đấu trường Đông Dương. Một võ sĩ tài năng khác là Kim Anh, cựu vô địch Đông Dương cũng đã từng được võ sư Tàu Sáu chỉ giáo mà thành danh trên các võ đài quốc tế, góp phần làm rạng rỡ tên tuổi làng võ An Thái nói riêng và đất võ Bình Định nói chung.

Khi võ sư Tàu Sáu mất, con của Ông là Diệp Bảo Sanh nối nghiệp. Năm 1971, đổi gọi là phái Bình Định - An Thái, gọi tắt là phái Bình Thái. Hiện nay, võ đường này được các đệ tử lớp sau của Diệp Bảo Sanh tiếp tục truyền dạy tại nhiều nơi, kể cả nước ngoài như Anh, Mỹ, Úc.

Ngoài phái võ đường Tàu Sáu, An Thái còn có nhiều người học võ nổi tiếng khác như ông Lài, Chín Chung, Lâm Bình Sơn, hoặc Ấm Hổ đã thành lập võ đường mình... Về nữ giới, có Đào Thị Sanh là người đầu tiên mở lò luyện võ cho phái nữ ở vùng này.

Những năm sau 1975, An Thái được sử liệu địa phương ghi nhận có bốn võ đường lớn là Bình Sơn, Hải Sơn (Tạ Cảnh Thâm), Quách Cang và Hồ Hoành. Nhưng nay, trên đất An Thái (đất An Thái ngày xưa thuộc cả khu vực thôn Thắng Công, An Thái, Mỹ Thạnh ngày nay) còn duy nhất võ đường Bình Sơn do võ sư Lâm Đình Phú là chưởng môn. Võ sư Lâm Đình Phú là con của võ sư Lâm Đình Thọ (tức Hương kiểm Lài) kể: "Ông nội tôi là người đã học võ, rồi ông thân tôi vừa học võ của gia đình, vừa học thêm cụ Tàu Sáu. Ông cụ kết hợp hai nguồn võ Tàu, võ Ta như vậy nên khi mở võ đường ở Quy Nhơn lấy tên là Bình Sơn với ý võ Bình Định - Tây Sơn". Võ sư Lâm Đình Phú học võ từ nhỏ, 35 tuổi lên đài để lấy bằng võ sư, gặp một võ sư taekwondo từ miền Nam ra. Suốt cả hiệp đầu, ông chỉ tìm cách né đối thủ để quan sát. Biết đối thủ chỉ giỏi đòn chân, trong giờ giải lao, ông nghĩ cách để đối phó. Sang hiệp hai, ông dùng thế Mạnh Lương đoạt ngựa, hốt đối thủ quăng vào một góc sàn đài, rồi bay đến giáng một đòn vào khủy tay. Đối thủ chịu bại…

Tiếp nối võ sư Lâm Đình Phú là Lâm Ngọc Oanh, Lâm Ngọc Ánh, là những người con của ông, cũng đã gặt hái những thành tích bước đầu trên con đường võ học bằng những huy chương, giải thưởng cao. Cả mấy đứa cháu nội, ngoại mới hơn chục tuổi, cũng được ông cho học thêm về võ. Ông tâm sự: "Tui dạy là để truyền thống võ nghệ gia đình, của làng, của quê hương, của tỉnh nhà luôn được duy trì, không mai một, cũng là để rèn sức khỏe, nhưng nghĩ cho cùng võ thuật cũng phải là một cái nghề như mọi nghề thì mới góp phần trau dồi, duy trì và phát triển” [1].

Bên kia sông, đối diện An Thái là làng võ An Vinh thuộc xã Tây Vinh huyện Tây Sơn. Từ khu vực chợ cũ, ngó về phía tây bắc dưới lũy tre là làng võ này. Những năm trước đây đã có chiếc cầu tre nối liền giữa hai làng võ, và nay đã thay bằng cầu bê tông, đứng ở bên chợ cũ An Thái, tôi mường tượng những ngày sầm uất trên bến dưới thuyền và mạo mụi nghĩ về chiếc thuyền đã chở thầy giáo Hiến một chiều ghé bến chợ lúc bấy giờ...

“Trai An Thái, gái An Vinh”

Phải chăng cô gái ấy là cô Tám Cảng ở An Vinh, con gái cưng của cụ Hương Mục Ngạc, một trong những võ sư nổi danh của đất An Vinh. Tám Cảng nổi tiếng đẹp, giỏi võ nhưng đã hơn hai mươi tuổi vẫn chưa lấy chồng. Cụ Hương Mục Ngạc hẹn: Ai trị nổi Tám Cảng mới được lấy làm chồng. Khốn thay, Tám Cảng đã thử sức nhiều võ sĩ, thuộc các môn phái khác nhau nhưng chưa hề thất bại. Có ba người bị cô đá văng tuốt từ giữa sân ra hàng rào cây duối. Một hôm, anh Dư Hựu, người làng Tiên Thuận thuộc xã Tây Thuận huyện Tây Sơn ngày nay, đến xin đấu. Dư Hựu bị Tám Cảng đạp vô bể nước. Vậy là Dư Hựu về học võ một năm, rồi quay lại xin thử sức lần nữa. Lần này thì Tám Cảng bị vứt trả vô bể nước năm trước...

Lại có lần, Tám Cảng sang đất An Thái để xem hội Đổ giàn, bị một số con trai trêu ghẹo. Nổi cơn lôi đình, Tám Cảng tát cho tên có ý định sàm sỡ một bạt tai rồi đạp hắn ngã lăn kềnh. Một số thanh niên xông vào đánh, Tám Cảng đành dùng quyền cước đánh trả. Mỗi lần Tám Cảng đưa chân là một đứa con trai lăn luôn mấy vòng...

Cô Tám đã đi vào huyền thoại làng võ cổ truyền Bình Định như là một võ sư tên tuổi. Thực ra Tám Cảng cũng chỉ là một trong những võ sĩ nữ, một trong những câu chuyện truyền tụng về truyền thống võ cổ truyền Bình Định. Ngày nay ở làng võ An Vinh vẫn còn nhiều võ đường tiếp nối truyền thống như võ đường Trần Dần, võ đường Văn Xuân Ngọc.

Cũng phải nói thêm về đường quyền An Thái để nhận rõ diện mạo làng võ cổ truyền ở đây mà một thời đỉnh cao là võ sư Diệp Trường Phát.

Võ sư Hồ Ngạnh sinh năm 1906, người làng Thuận Truyền thuộc huyện Tây Sơn, có đường roi đi tuyệt tác và đã trở thành điểm sáng của làng võ Tây Sơn. Năm 1943 ông quyết tâm tìm đến thử tài cùng võ sư Tàu Sáu để xem ngọn roi của mình đã đạt đến đỉnh cao chưa, đồng thời học hỏi thêm những đường quyền mà ông biết võ sư Tàu Sáu là người khai thác “Võ đạo kinh thư” của ông Trương Văn Hiến để lại hơn 200 năm nay và được ông Trương Văn An, cháu năm đời thầy giáo Hiến tặng lại võ sư Tàu Sáu. Tàu Sáu đã rút tỉa những tinh hoa, phối với nhiều phái võ, nhất là phái Thiếu Lâm, tạo ra diện mạo võ An Thái hiện nay.

Khi Hồ Ngạnh đến An Thái, được võ sư Tàu Sáu tiếp rước niềm nở, vui vẻ nhận lời đấu giao hữu trong tinh thần thượng võ. Sau khi trà nước xong hai ông bàn luận, đồng tình đưa ra phương thức thi đấu:

- Để tránh gây nguy hiểm cho nhau, cả hai phải mặc võ phục. Võ sư Hồ Ngạnh màu vàng, võ sư Tàu Sáu màu lam, chân tay đều phải mang vớ và quấn bằng vải màu trắng. Khi đấu không được chạm mạnh vào thân thể, chỉ dùng thủ thuật lưu lại vết mực trên võ phục mà thôi. Võ sư Hồ Ngạnh thoa chân tay vào nghiên mực đỏ, Tàu sáu vào nghiên mực đen.

- Thời gian tàn một cây nhang ba tấc mộc.

- Đấu quyền trước, đấu roi sau.

Hai ông bước ra sân tập, cây nhang vừa đốt lên, đôi bên bái tổ theo nghi thức riêng của môn phái và nhập cuộc.

Nhanh như chớp, họ quấn nhau tới tấp, hơi gió nghe hực hực, kẻ đánh người đỡ, kẻ tới người lui. Càng lúc càng nhanh, hai màu vàng lam lẫn lộn, mờ mờ ảo ảo trông rất hấp dẫn. Bỗng võ sư Hồ Ngạnh nhảy rút ra ngoài vòng đấu, phả tay nói:

- Thôi đủ rồi! Quả “danh bất hư truyền” lợi hại quá! Đáng kính. Võ sư Tàu Sáu ngạc nhiên, tiến lại gần võ sư Hồ Ngạnh bắt tay rồi chỉ vào mình:

Nhưng các vết của anh đây mới thật sự…

Ông Hồ Ngạnh vội đỡ lời:

-Nếu quyết đấu, thì những dấu vết ấy chẳng thấm gì anh. Một trong hai vết tay trên ngực tôi cũng đủ mất mạng rồi! Bái phục anh lắm. Sau này nhờ anh chỉ dạy cho.

Giờ xin anh cho tôi xem đường roi của anh đi.

Hai đoản côn đem ra, mỗi cây hai đầu đều được bao vải trắng có độn bông. Một thấm mực đen được võ sư Hồ Nganh cầm, một thoa mực đỏ võ sư Tàu Sáu giữ.

Cây nhang được đốt lên, hai ông bước vào vị trí bái tổ và bắt đầu gióng roi. Hai đấu roi vừa chạm nhau “bốp” ông Hồ Ngạnh nhanh như tên bắn, gặc mạnh đầu roi xuống, lướt ngựa đôi đâm thẳng tới, đồng thời bước chân trái lên đưa ngược đốc roi phạt ngang hông đối phương. Võ sư Tàu Sáu cũng nhanh chóng giở tuyệt kỹ công phu ra hóa giải đường roi chí mạng ấy. Cùng lúc xoay mình phản công lại không kém phần nguy hiểm. Sau đòn thử sức hụt, võ sư Hồ Ngạnh đem hết sở trường ra bằng những đường roi sát thủ bí truyền tấn công tới tấp. Võ sư Tàu Sáu bình tĩnh tránh né, thăm dò khai thác những nhược điểm của đối phương rồi chống trả lại quyết liệt.

Tiếng chuông vang lên, cây nhang vừa tàn, cả hai cùng nhảy ra ngoài vòng đấu, nhìn nhau cười đắc ý. Võ sư Tàu Sáu lại bàn rót nước mời Hồ Ngạnh cùng uống và nói: Cảm ơn anh đã nương tay. Đường roi của ông anh thật tuyệt diệu! Độc đáo lắm! Hiện nay không có ngọn roi thứ hai nào hơn.

Võ sư Hồ Ngạnh mỉm cười: Anh khiêm nhường quá, tôi kính phục anh. Những vết mực anh điểm vào các hiểm tuyệt của tôi không sai sẩy. Thật đáng sợ! Từ nay xin kính anh bậc sư huynh của tôi vậy, mong anh nhận cho.

Sau đó hai võ sư kết nghĩa đệ huynh. Tàu Sáu lấy bút mực viết tặng Hồ Ngạnh câu đối:

Côn đoản Thuận Truyền duy hữu nhất,

Thủ quyền An Thái quảng vô song.

Phan Phú Sơn tạm dịch:

Roi ngắn Thuận truyền chỉ có một;

Võ tay An Thái cũng không hai.

Sau này nói đến võ Bình Định, người đời thường đọc nôm na: “Roi Thuận Truyền, quyền An Thái” [2].

3. Ghi chép về một vài ứng xử của các nghệ nhân, các cụ lão thành trong sinh hoạt thường ngày ở Ngũ bang Hội quán

Nhân dịp lễ hội Đổ Giàn năm 2005, có nhiều Việt kiều quê hương An Thái đang sinh sống ở các nước Mỹ, Úc, Anh, Pháp. Trong đó có tộc họ Diệp Trường Phát (Diệp Bảo Sanh, Diệp Bảo Sơn) lập nghiệp, mở trường dạy võ thuật cổ truyền Việt Nam tại Anh và Mỹ cũng về. Ông Diệp Bửu Quang từ Mỹ về thăm quê, dự lễ hội, đã cung cấp cho Ban tự quản Ngũ bang Hội quán một bài thơ của Thoại Chi (Diệp Trường Phát):

AN THÁI ĐỔ GIÀN

Thông lệ bốn năm hội đổ giàn

Trai đàn ba ngọ, lễ Vu lan

Trau dồi võ đạo danh An Thái;

Sự nghiệp kế thừa tiến Ngũ bang

Bá tánh phụng thờ linh Thánh mẫu

Nhất tâm cầu nguyện xứ Bình An.

Đời đời đất nước luôn bền vững

Lừng lẫy quê nhà mãi vẻ vang.

Thoại Chi

Phan Phú Sơn sưu tầm

Sau đây là một bài cổ văn tế Thánh mẫu do Lê Tử Văn, hiệu Hoài Chi, 80 tuổi, ghi chép lại (Hiện cư ngụ tại Bình Tường huyện Tây Sơn) từ thân phụ của ông trong những dịp tham gia lễ hội Đổ Giàn trước năm 1933.

Phiên âm

NIỆM TỤNG KỆ THÁNH MẪU

Điện tiền đồng xuất hữu sơ thân

Thử định ưng vi vị chính chân

Nhược thị hóa công vô hậu bạc

Luật hồi hà xứ bấc dương xuân

Cổ Văn - Hoài Chi - Phụng Lục



Tạm dịch

LỜI TƯỞNG NIỆM THÁNH MẪU

Đứng trước Điện tiền có lạ quen

Hẳn chưa tất cả được chân truyền

Hóa công ví chẳng phân dày mỏng

Lần lượt hơi xuân ấm mọi miền

Phan Phú Sơn phiên âm, dịch nghĩa

………………

HOÀI CỐ HƯƠNG AN THÁI

An Thái quê tôi thật hữu tình

Sông Côn nước biếc lũy tre xinh

Đường xưa xe ngựa hồn thu thảo

Lối cũ đình chùa văn chỉ đường

Phố xá liền nhau trông dấu mặt

Chợ búa thường ngày lại có phiên

Mùa chay hội võ, chùa đình hát

Nam thanh nữ tú dịp hẹn hò.

Miêu thảo(1), côn, quyền, thập bát ban;

Kim kê(2), hổ chưởng đả lôi đài

Bình Định võ môn nôi An Thái

Đàn bà con gái đánh quyền côn.

Cảnh cũ người xưa nhiều kỷ niệm

Chúng tôi, ai cũng cố hương hoài.



Ghi chú: (1)Miêu thảo là bài thảo Miêu tẩy diện (mèo rửa mặt)

(2)Kim kê là bài thảo Kim kê quyền

Thái Giáo Nhật

Việt kiều Úc châu



Gia đình ông Tân Xuân Ba hiện sống ở Gia Lai, là người con của An Thái. Đối với gia đình ông cứ đúng tam hạp (rằm tháng 7 vào các năm tỵ-dậu-sửu) là cả gia đình ông về thăm quê và dự lễ tế tại Hội quán. Nhân dịp lễ hội năm 2005, gia đình ông đã về dự lễ hội. Ông tâm sự, ngày xưa lễ hội diễn ra 3 ngày đêm liền, có nghi thức rước nước, rước Phật, rước thánh thần (du hương), hát bội, chưng cộ xe, rước cỗ, múa lân, đấu võ, xô cỗ đổ giàn. Trong ba ngày luôn có đan xen các trò chơi múa chim, cờ người, diễn võ; ban đêm tổ chức hát bội, rước đèn múa lân, hoa đăng, lục cúng, cộ xe (chưng cảnh, người tích tuồng, lịch sử…). Về vật dâng cúng gồm là không thể thiếu muối, gạo, bánh, vàng mã. Thỉnh thoảng có gia đình tín cúng gà vịt, trái cây và heo nguyên con. Lễ vật được gắn xung quanh và đặt trong lòng cỗ được làm bằng tre, có dáng hình chóp và được trang trí hoa văn xung quanh. Hầu hết các dịp lễ hội, Ban tổ chức chuẩn bị chu đáo, tích cực, không có ý vụ lợi. Lễ hội năm này, ít nhiều là có điều thiếu sót, chưa chặt chẽ về phân công phân nhiệm chức sự. Hy vọng dịp lễ hội sau Ban tổ chức chuẩn bị chu đáo hơn.

Ông Diệp Bửu Quang, 75 tuổi, Việt kiều ở Mỹ, là người con của An Thái, ông là là cháu của Diệp Trường Phát tâm sự: Trong hội đổ giàn trước đây không hạn chế số lượng võ đường tham dự, do vậy có rất nhiều võ đường ở các địa phương từ các tỉnh Quảng Ngãi, Phú Yên, Gia Lai, riêng ở Bình Định có những dịp tổ chức lễ hội trên 10 võ đường. Trai đàn, tên nôm gọi là giàn chẩn, khi tổ chức xô cỗ đổ giàn thông thường chỉ có một cụ lão uy tín của Hội quán, một phụ trách đổ giàn, một số vệ sĩ bảo vệ để thực hiện xô cỗ, xô heo được đứng trên giàn chẩn. Lá phướn được treo trước giàn chẩn vào ngày đầu tiên tổ chức lễ hội. Nghi thức xô cỗ đổ giàn sẽ được thực hiện sau khi kết thúc chẩn tế rồi đến đồng loạt phóng sanh (thả chim trước giàn chẩn và thả cá bên bờ sông trước Hội quán). Nghi thức xô cỗ đổ giàn tuần tự thực hiện xô cỗ bánh gạo muối, rồi đến xô lá phướn, cuối cùng là xô giàn heo.

Ông Tạ Chương Bình, Chánh bái dịp lễ hội 2005 vừa qua kể rằng ngày xưa việc xây dựng giàn chẩn và lá phướn luôn truyền lại là lấy số 3 làm đơn vị nhân lên chiều cao, rộng và dài. Bởi vậy, ngày xưa giàn chẩn cao tối thiểu là 3m; phướn dài 6m hoặc 9 m; diện tích giàn chẩn thông thường là 9m x 12m. Và theo ông, múa chim là một trò chơi khá hấp dẫn với mọi lứa tuổi, thông thường từng cặp phục trang thành đôi bồ câu biểu diễn quanh sân Hội quán vào dịp lễ hội, sau này nên khôi phục cùng với chưng cộ xe, diễn võ, cờ người.

Bà Lý Thị Hương, nghệ nhân làm bún song thằn ở An Thái, năm nay đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn. Bà rất lấy làm xúc động khi dịp lễ hội 2005 được tổ chức. Bà tâm sự: “Cứ vào dịp mùa lễ chay Tam hạp là tôi cứ dâng trào kỷ niệm thời mà lễ hội tổ chức quy mô. Hồi đó, sân Hội quán rộng rãi và thoáng, đứng ở giữa sân nhìn ngút tầm mắt theo hai bên dòng sông Côn. Nghi lễ hồi đó thiêng lắm, không có cảm giác hơi gượng như nay; còn các trò diễn thì dân làng lẫn khách thập phương thích lắm. Tôi nhớ nhất là nghi thức rước nước sao mà mọi người không ai bảo ai mà cứ đứng tề tựu hai bên lối đi của đoàn rước nước trong không khí trang nghiêm. Nước sông dâng cao hơn bây giờ, thuyền phải chèo ra đến giữa sông để lấy ngưồn nước dâng cúng Bà (Thiên hậu). Nước sông Côn bây giờ không còn như trước đây. Còn đối với những người làm bún song thằn thì tha hồ phục vụ khách thập phương thưởng thức hương vị ẩm thực địa phương. Khách đi lễ hầu như không ai không mua cân bún An Thái làm quà gia đình”.

Di sản Bài chòi dân gian ở An Thái cũng là một loại hình cần quan tâm, Ban Tổ chức lễ hội năm 2005 tuy không đưa vào là một nội dung; song ở trong quần chúng nhân dân đã có sinh hoạt mang tính nhóm nghệ nhân bài chòi do nghệ nhân Minh Trạng[3] và nghệ nhân Nguyễn Thanh Hòa chủ trì tổ chức sinh hoạt vào dịp lễ hội Đổ giàn. Nhóm bài chòi dân gian ở An Thái là tinh túy, còn lưu lại của gánh Bài chòi dân gian do ông Bầu Trạng tập hợp để thực hành và truyền dạy những năm trước năm 1975 (giai đoạn 1934 - 1975).

4. Ghi chép về ứng xử của thế hệ trẻ đối với lễ hội Đổ giàn

Ngày nay, nhu cầu hưởng thụ nhiều loại hình văn hóa và sự mới lạ là hiển nhiên. Chúng ta bước vào thế giới văn minh - hiện đại, quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế, sự lớn mạnh vược bậc, bùng nổ về xã hội thông tin, internet, các dòng nghệ thuật đương đại như điện ảnh, ca nhạc nhẹ, thính phòng… đã chiếm một vị thế quan trọng trong nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của nhân dân. Song lễ hội truyền thống nói chung cũng đã có những bước phát triển mới, lễ hội Đổ giàn ở An Thái cũng đã có những tiếp thu, chọn lọc những tinh túy thời đại cộng với sự thể hiện nét đặc sắc và cần thiết của diễn trình lễ, góp phần làm cho lễ hội phong phú thêm, hấp dẫn hơn như hoạt động trò chơi dân gian (tò he, mặt nạ). Thế hệ trẻ rất nhạy cảm với những loại hình văn hóa hiện đại, lễ hội hiện đại, nhưng chúng cũng rất để ý, chú tâm với lễ hội truyền thống, một phần vì hiếu kỳ, nhưng cái chính là các em cảm nhận được niềm tự hào về truyền thống của địa phương. Rõ ràng thế hệ trẻ chưa có được ý thức đích thực về lễ hội, chưa nắm bắt lịch sử thị tứ An Thái, chưa am hiểu ngọn ngành nhưng thể hiện niềm tự hào về nền võ cổ truyền, làng võ An Thái, về một An Thái đa sắc. Hay nói cách khác, ở lớp trẻ chưa có dịp xâm nhập vào máu thịt về các hoạt động nhưng đã thể hiện niềm tự hào truyền thống địa phương.

Tại lễ hội năm 2005, dịp triển khai nhiệm vụ phục dụng, số lượng các em quan tâm đến lễ hội không phải là ít, các em cũng phải chen chúc nhau tìm chỗ thích hợp để xem với tâm trạng chưa từng xem, đồng thời hòa lẫn cảm giác thiêng liêng cùng với gia đình, bà con quanh vùng. Các em đã được một dịp vui chơi thỏa thích không kém gì một ngày tết truyền thống, được xem nặn tò he, được trổ tài gõ mõ, sử dụng mặt nạ, được hòa cùng đội lân đi rước đèn, múa lân lấy lèo, được xem các cô, bác diễn tích trong ngày hội.

Và không ít các em thiếu niên ở An Thái rất đam mê, thích thú được coi hát bội và xem võ cổ truyền. Khi được chúng tôi trò chuyện “Cháu có thích trở thành võ sư không” thì em Lâm Thị Thục Quyên, con gái của võ sư Lâm Ngọc Ánh, cháu nội của võ sư Lâm Đình Phú vui vẻ trả lời “Cháu cũng không biết, nhưng cháu mê tập võ lắm, ước gì cháu đi các đường quyền được sắc và thông như ông nội. Đâu đó, rải rác các em nhỏ thích diễn tích như hôm biểu diễn chưng cộ đất, đánh động, thể hiện tài nghệ của mình học được trong diễn mặt nạ, múa lân.

Song chúng ta cũng phải nhìn nhận nghiêm túc về các hoạt động trong chương trình lễ hội vừa qua, khâu chuẩn bị chưa được chu đáo, rất nhiều sơ xuất đã ảnh hưởng đến tính chất thiêng và trang nghiêm, lịch sự, văn minh trong lễ hội. Tuy nhiên, mặt khác là Ban chỉ đạo, Ban tổ chức chưa lường hết số lượng người đi xem hội. Vì quá đông người mà sân Hội quán thì hẹp, do vậy ảnh hưởng rất nhiều đến trật tự và các nghi thức, nhất là nghi thức xô cỗ đổ giàn. Nếu chúng ta không định hướng, xây dựng kế hoạch, chương trình, phân công trách nhiệm cụ thể trong những dịp lễ hội sau thì khó khai thác và phát huy những tinh hoa, đặc sắc vốn có từ lễ hội Đổ giàn ở An Thái từ xưa nay.

…………………….
LỄ CHAY HỘI QUÁN

Hội quán bốn năm lệ một lần

Làm chay hát bội nức lòng dân

Nhiều câu đối đỏ, phô trên vách

Một lá phướn dài, phất giữa sân

Chuông mõ trong chùa sư niệm Phật

Trống, chiêng ngoài cổng Địa đùa Lân

Trẻ già, trai gái luôn mong đợi

Dậu, Sửu qua đi Tỵ đến gần.
Thái Hóa Thị

(Đinh Sửu 1997)

5. Một số thành công trong phục dựng lễ hội Đổ giàn năm 2005

Để đạt được những thành công nhất định trong việc tái hiện, phục hồi lễ hội Đổ giàn An Thái sau 64 năm bị gián đoạn (1941 - 2005) có thể kể đến:uan sat vuh

- Sự năng nổ nhiệt huyết của từng cá nhân trong Ban tổ chức. Các thành viên trong Ban tổ chức đã lắng nghe và nghiên cứu thực hiện theo sự chỉ dẫn của một số vị lão thành đã từng mục kích lễ hội Đổ giàn năm xưa.

- Biết chọn người để giao việc cụ thể.

- Sự tư vấn của chính quyền và nhất là ngành Văn hóa - Thông tin trong suốt quá trình chuẩn bị lễ hội và trong lễ hội.

- Sự cộng tác chặt chẽ giữa Ban tổ chức, Ban chỉ đạo lễ hội, cùng các cấp các ngành địa phương xã Nhơn Phúc trong công tác bảo vệ an ninh trật tự, góp ý chương trình lễ hội, kinh phí cần thiết cho lễ hội.

- Sự đoàn kết, học hỏi lẫn nhau của các võ đường có võ sinh tham dự.

- Sự quan hệ mật thiết, đoàn kết của các tín đồ tôn giáo, tín ngưỡng trong và ngoài địa phương đã hỗ trợ cho công tác tế lễ tại các địa điểm diễn ra lễ hội, nhất là tại Ngũ bang Hội quán.

- Sự tích cực biểu diễn phục vụ của đội lân và các trò chơi dân gian của địa phương, tăng thêm sự vui nhộn, đa dạng.

- Sự thành tâm của người dân địa phương và khách thập phương đã tự nguyện hỹ cúng, góp một phần tài chính đáng kể cho việc tổ chức lễ hội.
6. Những khó khăn, trở ngại, thách thức nảy sinh từ lễ hội Đổ giàn năm 2005

Đây là một lễ hội bị gián đoạn sau 64 năm, một khoảng thời gian khá lâu đối với một đời người. Bởi vậy, tái hiện lại là một việc không dễ làm. Ban tổ chức cố gắng thu thập mọi thông tin, dữ liệu cần thiết và rút kinh nghiệm qua những lần hội họp với các vị lão thành, bằng phương thức truyền khẩu. Có thể những chi tiết người này mục kích, người khác không chứng kiến được đã bổ sung cho nhau rất nhiều, và trở ngại đầu tiên có thể nói là lực lượng tham mưu còn mỏng. Ngoài ra, những khó khăn trở ngại do khách quan và chủ quan gồm có:

- Có một số người tham gia nhiệt huyết, năng nổ nhưng có những hạn chế về hiểu biết ngọn nguồn. Lần đầu tiên được giao trọng trách nên tầm nhìn và ý thức trách nhiệm chưa cao, đôi lúc ngẫu hứng dẫn đến tính hiệu quả thấp.

- Đây là một lễ hội truyền thống bị gián đoạn quá lâu, bởi vậy hiếm có người đã từng tham dự lễ hội xưa còn tham dự trực tiếp, do đó kinh nghiệm vấp phải khá nhiều trong sự phân công phân nhiệm, còn đùn đẩy chồng chéo.

- Ý thức chưa rõ ràng giữa trách nhiệm tổ chức của chùa Ngũ bang hay của cộng đồng dân cư thị tứ An Thái.

- Chưa có quy định (quy ước) bảo đảm tính nhân văn, võ học trong quá trình tham gia giao lưu các miếng võ cổ truyền và tham gia tranh đoạt cỗ heo và phướn.

- Chưa có một địa điểm thích hợp để tiến hành tốt hội xô cỗ đổ giàn. Vẫn biết rằng không gian lễ hội phải gắn liền với không gian di tích, nhưng địa điểm hiện nay của Ngũ bang rất hẹp bởi năm tháng trôi qua nhà dân xung quanh đã mọc lên, ngôi chùa nguy cơ xuống cấp, sân tường không đủ sức chịu đựng với một số lượng khách khá đông, dễ xảy ra sập tường, nguy hại đến tính mạng người xem.

- Đường xá chật hẹp, lượng khách đông, khó thực hiện các hoạt động nghi lễ đúng giờ.

- Về mặt kỹ thuật và tinh thần giao lưu, thi đấu của các võ sinh: Vì sợ phát sinh những mâu thuẫn quá khích nên đã sắp xếp, dàn dựng dẫn đến sự tranh chấp thiếu nhiệt tình, ảnh hưởng đến tính thiếu trung thực, chưa cuốn hút thật hấp dẫn người xem.

- Nguồn thu tự phát, chưa có ngân quỹ chính thức. Bởi vậy, tài chính bất ổn định, dẫn đến hình thức sinh hoạt thiếu tính đa dạng và còn phụ thuộc.

7. Bài học rút ra từ lễ hội Đổ giàn năm 2005

7.1. Bài học tích cực

- Tất cả cộng đồng dân cư đều hưởng ứng, chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi nhất, các ban ngành, nhất là ngành Văn hóa - Thông tin quan tâm hết mực đến việc tái hiện lễ hội.

- Người dân địa phương tỏ ra ý thức trước ngày hội lớn của quê hương, nhiệt huyết sẵn sàng tham gia vào mọi công việc được ủy thác.

- Có sự chuẩn bị lâu dài (tham khảo, hội họp, bàn bạc, tập dợt…)

- An ninh trong suốt lễ hội khá tốt.

- Kích thích sự trau dồi, học hỏi, dòng võ của các địa phương được phát huy.

- Cuốn hút sự đầu tư và quan tâm của một số Việt kiều.

7.2. Nhược điểm

- Khách quan mà nói, thời gian là một nhược điểm lớn nhất trong việc tái hiện lại lễ hội Đổ giàn để đạt kết quả tốt hơn. Một khoảng thời gian 64 năm không có sự kế tục, thành phần ban cố vấn quá mỏng, tư liệu không nhiều, chỉ dựa vào ký ức và sự truyền khẩu của những người lớn tuổi.

- Kinh nghiệm chưa từng trải.

- Địa điểm tiến hành lễ hội trong một khoảng không gian hạn chế trước một lượng khách tham quan quá đông, ngoài dự kiến, trục lộ giao thông chưa thuận lợi, nơi giữ phương tiện đi lại bị động nên đã dẫn đến hơi hỗn độn, mất trật tự ở giờ cao điểm diễn ra hội Đổ giàn.

- Thiếu sót chưa quan tâm đáp ứng kịp thời nơi làm việc cụ thể của đội ngũ làm công tác tuyên truyền thông tin đại chúng.

- Sự phân nhiệm còn chồng chéo, đôi lúc chưa rõ ràng nên ảnh hưởng đến hiệu quả.

- Hội Đổ giàn còn mang tính ước lệ, áp đặt, diễn tập nhiều hơn là thực tế bởi chưa có được quy định thật khoa học trong trình diễn võ cổ truyền, khiến người xem chưa được thuyết phục.

- Diễn trình lễ hội cần phải được nghiên cứu kỹ và lập thành một quy ước chính thức.



7.3. Một số ghi nhận cần tháo gỡ

- Cần chuẩn bị trước một thời gian nhất định về mọi mặt, để tháo gỡ khó khăn, trở ngại, thách thức nảy sinh.

- Thông tin đại chúng cần có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong quá trình phổ biến và phát huy giá trị của lễ hội dân gian để ngày càng mang lại hiệu quả xã hội và không đánh mất tính thiêng.

- Về tài chính: Vì nguồn vốn tài chính bất ổn định, bởi vậy nên lập một kế hoạch cụ thể, dựa trên tinh thần tự nguyện thành tín của mọi cá nhân, tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nước hỷ cúng và tài viện trước thời gian độ khoảng gần một năm để dễ dàng hoạch toán cụ thể, phương thức hoạt động một cách sinh động, đa dạng mà không bị động. Đồng thời phải kêu gọi sự giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức liên quan và chính quyền sở tại.

- Về địa điểm: Cần phải di dời một địa điểm thích hợp thuận lợi cho các đoàn võ sinh giao lưu, tranh tài và khách tham quan có thể thưởng lãm hiệu quả nhất.

- Về mặt võ học: Nên thành lập Hội đồng võ cổ truyền tại lễ hội Đổ giàn, đặt ra ban giám khảo và trọng tài để điều phối cuộc Đổ giàn, giành phần thưởng cao quý một cách công minh, nghiêm túc và đầy tính thượng võ. Trước đó phải làm công tác tư tưởng và võ đạo cho võ sinh của các võ đường tham gia. Nêu cao tính Chân, Thiện, Mỹ trong tinh thần thượng võ; không gièm pha ác ý để tránh những hậu quả bất cập về sau.

- Về nhân sự: Nên rà soát kiểm tra năng lực của các thành viên ban tổ chức và xây dựng kế hoạch, giao nhiệm vụ từng cá nhân cụ thể đảm nhận, phải có ý thức trách nhiệm cao, sáng tạo và nhiệt huyết.

Trải qua diễn trình lịch sử, lễ hội đã tích hợp nhiều nét văn hóa, nhiều dòng văn hóa đa dạng và hấp dẫn của một vùng quê giàu tinh thần thượng võ được kết hợp hài hòa với ngày hội chùa theo truyền thống dân gian rằm tháng Bảy âm lịch. Nhưng cũng có những thời gian thể hiện sự ganh đua giữa các phái võ, bang hội ở Hội quán mỗi lúc một căng thẳng, nhiều võ đường tham dự rất nhiều lần nhưng không một lần được nếm mùi danh dự, trọng vọng tại lễ hội, nên cũng đã có sự manh nha thù oán. Tính chất sát phạt, hằn thù mỗi lúc một căng; chính quyền đương thời thì đôi lúc có hiện tượng chẳng ngó ngàng can thiệp. Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, thực hiện “tiêu thổ kháng chiến” để bảo vệ đoàn kết dân tộc, dồn sức người sức của đánh thực dân Pháp xâm lược, lễ hội đã không được tổ chức. Năm Tân Tỵ (1941) lễ hội đã diễn ra hơn 3 ngày đêm với đầy đủ các nghi thức trong diễn trình không gian, thời gian hội lễ. Trước và sau năm 1975, nhiều lần cho mở lại lễ hội nhưng rất èo uột và lễ hội chỉ còn trong kỷ niệm. Năm 1989, huyện An Nhơn có khôi phục lại một số nghi thức lễ và một vài tiết mục hội của lễ hội Đổ giàn, nhưng vẫn ở dạng sân khấu hóa, chưa phải đích thực là một lễ hội truyền thống đã từng tồn tại trong lịch sử hình thành thị tứ An Thái và trong lòng dân An Thái nói riêng, Bình Định nói chung. Những năm gần đây, khá nhiều du khách mọi miền đất nước tìm hiểu về truyền thống thượng võ và những nét văn hóa đặc sắc thể hiện thông qua diễn trình lễ hội Đổ giàn, tinh thần nhân ái thấm nhuần trong phần nghi lễ chẩn tế cũng là điều đáng ghi nhận. Lễ hội cũng đã được các cấp chính quyền chú ý đến, tìm biện pháp để khôi phục, bảo tồn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc đã được người xưa gầy dựng. Trải qua 64 năm bị gián đoạn (Tân Tỵ 1941 - Ất Dậu 2005), năm định kỳ tổ chức lễ hội, Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Sở Văn hóa và Thể thao) đã phối hợp UBND huyện An Nhơn (nay là thị xã) chỉ đạo xã Nhơn Phúc triển khai, khôi phục một số nghi thức, hội lễ trong diễn trình lễ hội Đổ giàn, đáp ứng phần nào nhu cầu hưởng thụ nét văn hóa đặc sắc từ lễ hội Đổ Giàn ở An Thái của người dự hội.

8. Định hướng bảo vệ và phát huy giá trị trong giai đoạn thiếp theo

Để chuẩn bị chu đáo lễ hội Đổ giàn Ất Tỵ 2025, cũng như đề ra kế hoạch bảo vệ, phát huy giá trị di sản lễ hội Đổ giàn đem lại đáp ứng mong đợi của các tầng lớp nhân dân, tín đồ và du khách, chính quyền địa phương cần lên kế hoạch và thể nghiệm trong năm 2024, rồi tiến đến thực hiện tổ chức lễ hội theo định kỳ cho năm 2025. Cụ thể xin nêu ra một số nội dung sau:

8.1. Về thể chế và quản lý:

- Lễ hội Đổ giàn có sức lan tỏa lớn, rất cần được ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia để từ đó có định hướng lâu dài và cụ thể về nhiệm vụ bảo vệ và phát huy giá trị. Vì vậy chương trình lễ hội năm 2025 cần nghiên cứu thực hiện chu đáo, nghiêm túc và khoa học trên nền tảng dữ liệu di sản để lại và vận dụng nhiều nguồn lực để đem lại hiệu quả cao. UBND thị xã An Nhơn cần chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao, các tổ chức, các nhân liên quan nghiên cứu, tiến hành lập hồ sơ khoa học lễ hội Đổ giàn An Thái đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với ngành Văn hóa và Thể thao, ngành Du lịch để xác định được phạm vi và trách nhiệm của từng lĩnh vực trong việc chung tay xây dựng và phát huy các giá trị của lễ hội phục vụ nhu cầu hưởng thụ của Nhân dân, nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu của du khách và gắn kết để phát triển du lịch.

- Cần có chỉ đạo chủ động thực hiện quy hoạch trong tổng thể quy hoạch của địa phương đối với không gian thiêng ở lễ hội Đổ giàn. Trước mắt quan tâm đặc biệt đưa ra phương án điểm cần tổ chức hội xô cỗ, đổ giàn, chạm phướn cho kỳ lễ hội năm 2025. Vì không gian sân Hội quán (nơi tổ chức hoạt động xô cổ, đổ giàn ở kỳ 2005) không bảo đảm để tổ chức trong thực trạng hiện nay. Từ thực tế hiện nay, có thể di chuyển hoạt động này ra bờ cát sông Côn, đồng thời phối hợp đồng bộ tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian đã từng diễn ra trong diễn trình lịch sử.

- Cần nghiên cứu, soạn thảo quy chế, thể lệ tổ chức các hoạt động, đặc biệt là nghi thức đổ giàn, xô cỗ trong lễ hội Đổ giàn trên cơ sở những quy ước, quy định để tổ chức các hoạt động trong chương trình lễ hội Đổ giàn qua các kỳ. Quan tâm thật đặc biệt đối với quy chế tổ chức, điều hành hội xô cỗ, đổ giàn nhằm hạn chế tối đa việc xảy ra các điều đáng tiếc về tính mạng con người, về an ninh trật tự, về môi trường.

- Quan tâm nghiên cứu, đề xuất phục dựng lại một số nghi thức, hội lễ, hoạt động dân gian từng tồn tại và diễn ra tại An Thái, đáp ứng phần nào nhu cầu hưởng thụ nét văn hóa đặc sắc từ lễ hội của người dự hội, phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ hiện nay.

- Có chính sách xã hội hóa phù hợp và tạo điều kiện để các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cùng tham gia đầu tư nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ tầng, các công trình phụ cận bổ trợ thiết chế truyền thống trên địa bàn phục vụ lễ hội.

8.2. Thực hành, sáng tạo và truyền dạy:

Tạo điều kiện trong hoạt động thực hành, sáng tạo và truyền dạy các hoạt động trong diễn trình tổ chức lễ hội Đổ giàn.

Trước mắt trong năm 2024, chính quyền địa phương cần tổ chức với hình thức diễn tập, tiếp tục phục dựng; cụ thể:

a) Lễ chay

Diễn ra đúng ngọ (12 giờ) vào các ngày 15 và 16 /7 tại các gia đình (gia đình tự làm). Ta nên thị xác để có định hướng gắn kết với hoạt động hỗ trợ cho kỳ lễ hội năm 2025 (sao cho phù hợp).

b) Lễ rước nước

Vì không còn cầu tre nên rất cần chọn vị trí để diễn tập hoạt động này nhằm phù hợp với không gian hiện nay và sử dụng các vật dụng tương đồng trong diễn trình lễ hội và phù hợp không gian sử dụng các vật phẩm.

c) Lễ rước cỗ

Nên diễn tập để bổ sung, gạn lọc những tình tiết không phù hợp.

d) Rước đèn múa lân

Đây là hoạt động cần khôi phục các nét đẹp từng tồn tại ở đội Lân của An Thái; hoạt động này tiến hành vào chiều và đêm ngày 15 và 16/7. Chiều cùng ngày còn diễn ra một số trò chơi dân gian như nặn tò he, biểu diễn mặt nạ… Nếu Nhân dân An Thái làm thì bàn việc địa phương cần định hướng hỗ trợ chế tác mặt nạ Tuồng.

e) Lễ rước hương

Ta nên diễn tập, tiến hành vào lúc 7 giờ đến 9 giờ sáng ngày 16/7. Đoàn rước có kiệu rồng, cờ, trống, chiêng, ban nhạc, chánh bái, bồi bái, học trò gia lễ, lân, cộ v.v... từ Hội quán tuần tự đến chùa Phổ Tịnh tiến hành nghi lễ rước Phật; đến chùa Ông tiến hành nghi lễ rước thập bát binh khí; đến chùa Bà tiến hành nghi lễ rước cờ lọng để tăng uy nghiêm, trang trọng cho lễ hội.

f) Chưng cộ đất

Rất cần phục dựng lại một cách bài bản tại 04 điểm để thực hiện cho mùa lễ hội 2025. Tiến hành vào lúc 7 giờ 30’ đến 9 giờ sáng ngày 16/7, cùng thời điểm thực hiện nghi thức rước hương.

g) Đăng đàn chẩn tế

Chuẩn bị nội dung chu đáo cho năm 2025.

h) Nghi thức phóng sanh (không làm)

Nghi thức này chỉ cần chuẩn bị chu đáo, phù hợp với thực tế cho mùa lễ hội năm 2025.

i) Hội Đổ giàn

Ta không tổ chức nhưng cần diễn tập sau khi xây dựng được quy chế, thể lệ tham gia hội đổ giàn cho các võ sinh, đồng thời đề ra phương án an ninh trật tự khi nghi thức xô cỗ, đổ giàn diễn ra nhằm bảo đảm tính khách quan và ràng buộc, hạn chế các miếng nghề, đòn võ có tính nguy hiểm cho đối phương.

8.3. Công tác truyền thông, quảng bá:

- Rất cần xuất bản tập gấp, tập sách giới thiệu di sản lễ hội Đổ giàn An Thái và các hoạt động dân gian đã từng tồn tại, phát triển trên địa bàn.

- Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khai thác, đầu tư; nhận thức của cộng đồng dân cư và du khách nhằm bảo tồn và phát huy di sản, gìn giữ môi trường không gian di sản, không gian lễ hội theo hướng bảo vệ và phát triển một cách bền vững.

- Tăng cường công tác truyền thông, giới thiệu, quảng bá các giá trị của lễ hội, các nét đặc trưng của văn hóa thị tứ An Thái trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và quốc tế để người dân và du khách biết và hiểu thêm về các giá trị di sản lễ hội Đổ giàn và thị tứ An Thái trong giai đoạn hiện nay.

- Xây dựng các sản phẩm du lịch, chương trình với sự tham gia của du khách vào các hoạt động bảo vệ di sản và môi trường tự nhiên tại điểm đến, … góp phần lan tỏa ý thức, trách nhiệm của các bên liên quan.

8.4. Tôn vinh các nghệ nhân, người nắm giữ di sản:

- Tôn vinh, biểu dương, khen thưởng các nghệ nhân, cá nhân, tổ chức có những đóng góp xuất sắc trong quá trình hoạt động bảo vệ, thực hành và truyền dạy những giá trị văn hóa của di sản lễ hội Đổ giàn An Thái.

- Lồng ghép các chương trình, dự án, kế hoạch của trung ương, của tỉnh, của thị xã trên địa bàn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chương trình xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trên địa bàn nhằm kịp thời tôn vinh, biểu dương, khen thưởng.


9. Kết luận

Việc tổ chức lại lễ hội Đổ giàn sẽ gặp không ít khó khăn và điều đó đã diễn ra tại kỳ lễ hội năm 2005. Tuy nhiên công bằng mà nói, cần phải gạn lọc, khắc phục tồn tại, hạn chế đã diễn ra, cần phải né tránh những hiềm khích sinh mâu thuẫn như trong thời kỳ Pháp thuộc; không thể để ngày hội lớn của địa phương biến thành những trận quyết tử vì danh dự của một cá nhân hay của một tổ chức, thậm chí của một võ đường. Bởi vậy cần có sự giám sát, can thiệp và chỉ đạo cụ thể của lãnh đạo các cấp các ngành và của những người có chức sự. Cái hay của lễ hội truyền thống này ngày xưa cần phải được phục hồi và phát huy. Nhưng bên cạnh đó những bất cập và hậu quả xung quanh lễ hội cần phải tính trước để loại trừ những tình huống xấu có thể xảy ra. Việc này là chuyện quá tầm của chính quyền cấp xã. Tôi thiết nghĩ, UBND thị xã An Nhơn đã tổ chức Tọa đàm này là tín hiệu rất mừng cho kỳ lễ hội Đổ giàn sắp đến. UBND xã Nhơn Phúc và các ban, ngành, đoàn thể, nhất là ngành Văn hóa và Thông tin thị xã cần nghiên cứu, tham mưu UBND thị xã có kế hoạch tổ chức lễ hội Đổ giàn năm 2025 từ trong năm 2024, quan tâm giúp đỡ để có thể bảo vệ và phát huy giá trị một loại hình di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của địa phương.

Lễ hội Đổ giàn An Thái có thể xuất phát từ nghi thức tế Tiêu diện, xuất phát từ hình thức sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng người dân bản địa, của người Minh Hương trên đất An Thái. Song, về lâu dài với những chuyển biến trên nền tảng hiện có để bảo vệ và phát huy giá trị một lễ hội truyền thống của địa phương, không những tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả mọi người dân Bình Định mà tất cả những người yêu mến, trân quý di sản này được tham gia đóng góp sức mình giúp cho những kỳ lễ hội sau hoạt động tốt hơn, đem lại hiệu quả cao hơn, đồng thời góp sức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát huy giá trị di sản./.

_________________________________



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quách Tấn (1965), Non nước Bình Định, Nam Cường xuất bản.

2. Lộc Xuyên Đặng Quý Địch (1971), Nhân vật Bình Định, Sàigòn.

3. Hoàng Thị Liên (1991), Lịch sử hình thành thị tứ An Thái, Báo cáo kết quả khảo sát sưu tầm lưu tại Trung tâm VHTT-TT An Nhơn.

4. Ban Chấp hành Đảng bộ xã Nhơn Phúc (1996), Truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Nhơn Phúc; Lưu hành nội bộ.

5. Ban Tuyên giáo Huyện ủy An Nhơn (1998), Lịch sử Đảng bộ huyện An Nhơn 1930-1945, Nhà xuất bản Tổng hợp Nghĩa Bình.

6. Chế Lan Viên (1988), Thơ văn chọn lọc; Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định.

7. Phạm Đình Phong (2000), Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định, Quy Nhơn.

8. Sơn Nam (2002), Đình miễu và lễ hội dân gian, Nxb TP. Hồ Chí Minh.

9. Trần Duy Đức, Lễ hội Đổ Giàn ở An Thái; Báo Bình Định số ra ngày 12/10/2004.

10. Bùi Việt Thanh, Nguyễn Văn Ngọc, Lâm Chí Hoàng (2005), Báo cáo khoa học, Hồ sơ lễ hội Đổ giàn ở An Thái, xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, Thư viện tỉnh Bình Định.



[1] Tư liệu ghi chép qua đợt khảo sát, điền dã của Nguyễn Văn Ngọc năm 2005 tại làng võ An Thái.


[2] Tư liệu dẫn của nghệ nhân Phan Phú Sơn.


[3] Nghệ danh Minh Trạng tên khai sinh là Lê Thị Đào, được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú năm 2015, Nghệ nhân Nhân dân năm 2019.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...