Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2024

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN CHIÊNG BA CỦA NGƯỜI HRE, BA TƠ (Phan Đình Độ)

Tóm tắt: Dân tộc Hrê tỉnh Quảng Ngãi sinh sống tập trung ở ba huyện miền núi Ba Tơ, Minh Long và Sơn Hà. Người Hrê là tộc người bản địa sinh sống lâu đời ở miền Tây Quảng Ngãi, là tộc người bảo tồn được nhiều giá trị văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc. Trong quá trình phát triển, bên cạnh nét văn hóa chung với các dân tộc anh em ở miền tây Quảng Ngãi, người Hrê vẫn bảo lưu được vốn văn hóa cổ truyền giàu bản sắc của dân tộc mình như: lễ hội cầu mưa, lễ hội ăn trâu, vốn dân ca dân vũ, hát ca lêu, ca choi, nghề dệt thổ cẩm truyền thống,... Đặc biệt là nghệ thuật trình diễn chiêng ba, mang nét đặc trưng văn hóa của cộng đồng người Hrê ở huyện Ba Tơ.

Từ khóa: Chiêng ba, dân tộc Hrê, huyện Ba Tơ, nghệ thuật trình diễn dân gian, Quảng Ngãi.

1. Qua một số tư liệu nghiên cứu văn hóa cồng chiêng ở Quảng Ngãi, bước đầu cho thấy do vùng núi miền Tây Quảng Ngãi giáp với các tỉnh Kon Tum, nên có sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người. Cồng chiêng từ Tây Nguyên lan tỏa và định hình tại các cộng đồng dân tộc ở Quảng Ngãi. Các dân tộc ở Quảng Ngãi, mua chiêng từ các địa phương khác để sử dụng như: Kon Tum, Quảng Nam và từ vùng đồng bằng Quảng Ngãi. Tuy nhiên, cồng chiêng mua về chỉ là “sản phẩm thô” do vậy người ta phải “chỉnh chiêng” từng chiếc sao cho âm thanh của nó phù hợp với âm sắc riêng của từng tộc mình. Vì vậy, cồng chiêng là sản phẩm sáng tạo mang tính “liên dân tộc” và có quá trình ra đời và phát triển gắn với từng tộc người có cách sử dụng và trình diễn cồng chiêng khác nhau.

Theo quan niệm của người Hre, cồng chiêng cũng được xem là vật “có hồn” được trời ban cho. Tiếng chiêng được xem là tiếng nói của con người để cầu khấn đến thần linh, cầu xin thần linh ban cho con người những điều tốt đẹp và che chở cho làng bản, gia đình có cuộc sống bình an, cây trồng, vật nuôi, mùa màng sinh sôi phát triển. Chính từ những quan niệm mang yếu tố văn hóa tâm linh, nên người Hrê rất coi trọng bộ chiêng được cất giữ trong gia đình và chỉ sử dụng trong các ngày lễ trọng của cộng đồng và gia đình. Biểu hiện rất rõ là người ta phải làm nhiều nghi thức cúng hồn chiêng trước khi đem ra sử dụng. Điều này cũng cho thấy cồng chiêng gắn bó máu thịt với người Hrê, là vật sở hữu có giá trị cao, là vật thiêng của trời ban và là tiếng nói của con người gửi đến thần linh để cầu nguyện.

Qua bao đời người Hrê vẫn xem cồng chiêng là vật báu của tổ tiên, gắn bó với đời sống thường nhật của cộng đồng và từng gia đình. Hằng năm người Hrê tổ chức nhiều lễ hội mang tính cộng đồng như: lễ ăn trâu, tết năm mới, lễ cầu mưa,… và các nghi lễ của từng gia đình như lễ mừng nhà mới, cưới xin, cúng tổ tiên. Trong những dịp lễ hội, các gia đình có cồng chiêng mang ra trình diễn, tạo nên không khí lễ hội vui tươi lành mạnh, tạo sự gắn kết cộng đồng. Với những giá trị về vật chất và văn hóa tâm linh, chiêng và sinh hoạt cồng chiêng của người Hrê là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống thường nhật. Người ta tìm mua chiêng để làm vật giá trị, khẳng định vị thế của gia đình trong cộng đồng và xem bộ chiêng như là thần linh bảo vệ gia đình. Sinh hoạt cồng chiêng vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần của người dân, vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh, cầu nguyện thần linh phò trợ cho gia đình và cộng đồng. Vì vậy, sinh hoạt cồng chiêng của người Hrê là nét văn hóa, mang đậm bản sắc tộc người và trở thành một nghi thức tín ngưỡng, được tồn tại gắn liền với đời sống thường nhật của từng gia đình và cộng đồng dân tộc Hrê.

2. Với quan niệm “vạn vật hữu linh”, người Hrê cho rằng, nhạc khí chiêng (chinh) là thần linh (yang chinh) nên có tục cúng chinh vào đầu năm. Theo lời kể của một số nghệ nhân cao tuổi thì nhạc khí chinh rất thiêng nên người Hrê phải thận trọng và kiêng cữ khi sử dụng, vì cho rằng đó là tiếng nói của thần linh. Vì vậy, khi sử dụng nhạc khí thiêng này họ phải thực hiện một số nghi thức tín ngưỡng liên quan đến nhạc khí chiêng.

Trong suốt quá trình lịch sử của dân tộc Hrê, chinh là loại nhạc khí đặc biệt quan trọng đối với đời sống tinh thần và vật chất của dân tộc này. Chinh có vị trí linh thiêng trong tâm thức của người Hrê, nó có sức cộng cảm, quy tụ cộng đồng trong các lễ hội, tín ngưỡng dân gian, cũng như sinh hoạt thường nhật. Bởi nó là nhạc khí thiêng, cho nên khi sử dụng phải tuân thủ theo nhiều nghi thức tín ngưỡng, đặc biệt là nghi thức cúng chinh. Nghi thức được tổ chức vào sáng sớm ngày đầu năm. Lễ vật gồm: nước suối được lấy từ một ngọn thác trong lành để cho “chinh uống”, để tiếng chinh rền vang như thác đổ; rượu cần (càroh) cho chinh uống để “hồn chinh” được lên men say; lá ré (loại cây có trái đỏ, vị chua) cho “chinh ăn” để mặt chinh luôn đỏ hồng. Khi thực hành nghi lễ, chủ nhà khấn: “Đây, tôi cắt tiết con gà mái tơ cho chinh/ Chinh hãy ăn uống no say/ Để hát cho thật cao, thật khỏe/ Chinh hát xin ông trời cho con cái nhà này/ Được sức khỏe bình an/ Hát xin bông lúa nhà này trỗ đòng, dài bông…” . Người Hrê dùng lá mâm xôi, bông cỏ may lót dưới lưng chinh làm vũ khí chống ác quỷ. Khi hành lễ, chủ nhà cắt tiết gà nhỏ vào bụng chinh, theo thứ tự: chinh vồng (chinh mẹ) trước, sau đến chinh K’tum (chinh cha) và chinh túc (chinh con). Sau đó người ta cho chinh ăn bánh tét, uống nước suối nguồn, uống rượu cần, rồi được chủ nhà đánh vang tiếng chinh để chào đón năm mới.

Theo quan niệm của người Hrê, những âm thanh của chinh được coi là tiếng hát của thánh thần, nên người Hrê luôn gửi gắm những ý nguyện của mình với thần linh, cầu mong một tương lai tốt đẹp, cho nên để chào đón năm mới, vào rạng sáng ngày đầu năm, nhà nào có chinh cũng mang ra đánh để cầu mong thần linh phù trợ cho gia đình và cộng đồng có cuộc sống bình an, mùa màng bội thu. Chinh có mặt hầu hết các lễ hội như mừng nhà mới, ăn cơm mới, ăn trâu, cưới hỏi… Có thể nói chinh gắn liền với sự tồn tại và phát triển của dân tộc Hrê, là nhạc khí thiêng mang lại cuộc sống tốt đẹp cho cộng đồng của người Hrê. Chinh là nhạc khí thiêng, là tiếng hát của thần linh nên họ quy định là không đánh chinh (túc chinh) khi trong làng có người qua đời. Quy định việc sử dụng cồng chiêng trong một số lễ hội lớn của cộng đồng và gia đình là sự trân trọng đối với cồng chiêng, tránh sử dụng bừa bãi. Sự trân trọng này còn thể hiện ở các chi tiết như: trang trí các móc treo chiêng bằng các mảnh gỗ đẽo khắc công phu hình chim cắt, đầu chó, chim cu… để treo chiêng khi đánh.

Chiêng ba là nhạc khí phổ biến nhất của người Hrê và mang tính đặc trưng tiêu biểu của người Hrê ở huyện Ba Tơ. Ba chiếc chiêng (chinh) có kích cỡ không bằng nhau. Chiếc lớn có tên là chinh Vông hay chinh cha, chiếc nhỏ hơn là chinh Tum hay chinh mẹ, chiếc nhỏ nhất là chinh Túc hay là chinh con. Đánh chiêng thì gọi là túc chinh. Khi trình diễn, chinh Vông được để nghiêng, chinh Tum để nằm, chinh Túc treo trên dây. Khi đánh thì chinh Tum đóng vai trò giữ nhịp, chinh Vông và chinh Túc theo giai điệu. Chinh cha và chinh mẹ đánh bằng nắm tay trần, chinh con đánh bằng nắm tay có quấn khăn để tiếng chiêng được ấm. Người đánh chiêng giỏi nhất sẽ đánh chinh Túc, dẫn dàn chinh diễn tấu theo đúng bài bản và nhịp. Khi diễn tấu dàn chinh ba chiếc, nghệ nhân ngồi ở vị trí ổn định, không di chuyển. Nơi diễn tấu thường là đầu tra - gian khách phía trước của nhà sàn.

Người Hrê có bốn điệu chinh cơ bản như sau: Điệu chinh năng, điệu chinh k’oa, điệu chinh h’lay và điệu chinh tuguốc.

- Điệu chinh năng (túc năng): Là điệu chinh phổ biến, nghe vui nhộn, thúc giục và trữ tình. So với các điệu chinh khác, thì điệu chinh này tương đối dễ tấu, nên được gọi là tấu thường (túc năng). Nó được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt của người dân như: vào dịp tết cổ truyền, lễ ăn trâu, lễ cưới… Điệu chinh năng khi diễn tấu thường có ba giai đoạn: Ở giai đoạn thứ nhất đánh thong dong, chậm rãi và có mục đích chờ ổn định nhịp chiêng. Giai đoạn giữa thì tốc độ ổn định và nhanh hơn giai đoạn đầu. Người đánh chiêng lâu, nếu mỏi tay thì có thể tranh thủ dừng để quấn lại khăn trên bàn tay, trong khi điệu chinh vẫn đang được diễn tấu. Đây chính là điểm mở, tự do trong biểu diễn âm nhạc dân gian cũng như trong nghệ thuật trình diễn dân gian.

Điệu chinh k’oa (túc k’oa): Là điệu chinh mô phỏng âm thanh của tiếng ếch, nhái kêu. Điệu chinh k’oa rất khó diễn tấu, bởi tiết tấu, âm sắc, nhịp độ, nhịp điệu ở đây rất tinh tế. Âm thanh của tiếng ếch, nhái ở đây khi mềm mại, thánh thót, dàn trải, thì thào như tiếng thổn thức giữa rừng đêm, như tiếng lòng của người Hrê khao khát, mong chờ những cơn mưa mang lại màu xanh tươi của núi rừng và cây trồng tốt tươi trĩu quả.

Điệu chinh h’lay (túc h’lay): Đây là điệu chinh mô phỏng âm thanh của thác đổ, nước suối chảy. Điệu chinh có có cấu trúc câu, đoạn khá rõ ràng, thường được diễn tấu trong sinh hoạt vui chơi, nhảy múa… Có lẽ vì điệu chinh h’lay vui tươi, sôi nổi nên được thanh niên rất ưa chuộng.

Điệu chinh tuguốc (túc tuguốc): là điệu chinh mô phỏng tiếng hót của một loài chim tuguốc (tượng thanh), rất gần gũi và thân thương với người Hrê. Theo người Hrê chim tuguốc là loài chim báo mưa, khi chim tuguốc cất tiếng hót thì trời sẽ đổ mưa, mang lại cho mùa màng tươi tốt, đời sống ấm no. Tuguốc là loài chim rất hiếm, thường sinh sống trong những cánh rừng nguyên sinh. Người Hrê thường được nghe tuguốc gáy vào mùa thu hoặc lúc trời mưa giông trên nương rẫy. Việc lấy tên một loài chim quý đặt tên cho một làn điệu chinh mang đậm bản sắc độc đáo của dân tộc mình, cho thấy dân tộc Hrê sống hòa nhập với thiên nhiên, gắn bó với thiên nhiên và loài chim quý tuguốc như mẹ thiên nhiên mang lại cuộc sống thanh bình cũng như những điều tốt đẹp cho cộng đồng người Hrê. Điệu chinh tuguốc có tính chất đối đáp, tự sự, tỏ bày.

Người Hrê ở huyện Ba Tơ thường diễn tấu chiêng trong những lễ hội của làng và lễ trọng của gia đình như: tết năm mới, lễ ăn trâu, lễ mừng nhà mới, lễ cưới… Đặc biệt là vào dịp tết năm mới. Người Hrê ăn tết năm mới vào đầu tháng 2 đến hết tháng 3 âm lịch. Hiện nay, tết năm mới của người Hrê cũng đã rút ngắn thời gian, mỗi làng tự chọn ngày ăn tết riêng. Trong những ngày tết người Hrê có nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng như: lễ cúng dọn nhà để đuổi tà ma, lễ cúng các thần sông, thần suối; lễ cúng trâu cho thần linh; các trò chơi dân gian như kéo co, bắn nỏ, bắn cung… và thăm hỏi chúc tết lẫn nhau. Sau những lời chúc tụng, thăm hỏi nhau và mời nhau chén rượu ngày tết là các sinh hoạt văn nghệ dân gian như hát ca lêu, ca choi, chơi các loại đàn Vrook,.. Đặc biệt là cùng nhau diễn tấu chiêng ba tại gia đình.

Với đặc trưng của diễn tấu chiêng ba là ở vị trí ổn định, người chơi không di chuyển, nên không gian diễn ra diễn tấu chiêng ba thường ở nơi tiếp khách của gia đình (đầu tra nhà sàn). Tại đây chủ nhà chuẩn bị sẵn các món ăn, thức uống như rượu cần, rượu trắng, trà… để mời khách và cùng nhau đánh chiêng để vui chơi. Sau khi men rượu say, người chơi say sưa ngẫu hứng với các làn điệu chiêng để thể hiện tài năng, gửi gắm tâm tư và hồn mình vào các giai điệu. Tiếng chiêng có thể vang xa từ làng này đến làng khác, người nghe có thể biết được tiếng chiêng hay hay dở, người đánh có chơi đúng làn điệu chinh hay không và người ta có thể nhận biết được trong làng đang có lễ hội gì.

Tiếng chiêng còn là niềm tự hào của các chàng trai cũng như làng này so với làng khác. Người con trai biết đánh chiêng và biết sử dụng nhuần nhuyễn các giai điệu chiêng sẽ được cộng đồng yêu quý và là niềm tự hào của làng này đối với làng khác. Người ta cũng thường so sánh chiêng của làng này hay hơn làng khác, vì vậy các nghệ nhân cao tuổi trong làng thường cố gắng trau dồi kỹ năng và truyền dạy cho con em trong làng mình biết đánh chiêng để trình diễn trong các ngày lễ hội của làng cũng như tham gia các cuộc liên hoan, hội diễn ở địa phương.

3. Nghệ thuật trình diễn chiêng ba là một loại hình sinh hoạt văn hóa mang nét đặc trưng của dân tộc Hrê. Sản phẩm tinh thần được tạo ra là tạo không khí vui tươi của đồng bào trong những ngày lễ hội, sau những ngày lao động vất vả, thỏa mãn nhu cầu về sinh hoạt văn hóa vui chơi giải trí của đồng bào. Với các làn điệu chiêng ba có tính bài bản, mô phỏng các âm thanh của thác chảy, chim kêu… đã tạo sự ngẫu hứng sáng tạo cho các nghệ nhân dân gian, với các làn điệu mượt mà mà người nghệ nhân trình diễn sáng tạo để làm cho người nghe cảm nhận được hơi thở của thiên nhiên, của cuộc sống, mang lại sự thích thú, sảng khoái, vui tươi, lạc quan trong cuộc sống.

Nghệ thuật trình diễn chiêng ba của người Hrê không chỉ là sinh hoạt văn hóa mà quan trọng hơn chính là lưu giữ những giá trị văn hóa, tín ngưỡng truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Giá trị văn hóa truyền thống của nghệ thuật trình diễn chiêng ba, gắn với các nghi thức tín ngưỡng lễ hội của cộng đồng, những quy định về cách sử dụng chiêng, diễn tấu và sự sáng tạo của nghệ nhân đánh chiêng. Nghệ thuật trình diễn chiêng ba của người Hrê khẳng định sắc thái văn hóa truyền thống độc đáo của tộc người Hrê ở Ba Tơ, thể hiện qua các nghi thức “cúng chiêng”, cách diễn tấu chiêng,... thể hiện nét văn hóa độc đáo của văn hóa tín ngưỡng truyền thống đồng bào Hrê.

Dưới góc độ văn hóa tộc người, trong các hoạt động liên hoan văn hóa cồng chiêng hay giao lưu văn hóa giữa các dân tộc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, nghệ thuật trình diễn chiêng ba của người Hrê ở huyện Ba Tơ nổi lên như một sắc thái độc đáo rất riêng bởi cách diễn tấu, giai điệu chiêng mang nét riêng, đặc trưng không giống với các tộc người khác. Bên cạnh những di sản văn hóa truyền thống của người Hrê như: lễ hội ăn trâu, lễ cầu mưa, mừng lúa mới, nhà mới... thì Nghệ thuật trình diễn chiêng ba cũng góp phần tạo nên một bản sắc văn hóa riêng cho tộc người Hrê ở Ba Tơ.

Người nghệ nhân còn gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình theo từng giai điệu chiêng, phản ánh thế giới tự nhiên gắn bó với con người và cũng là lời cầu nguyện của con người đến với thế giới thần linh để cầu mong về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Giai điệu chiêng vui nhộn, trầm hùng mô phỏng tiếng kêu của chim muông, tiếng thác đổ, dòng suối chảy, những âm thanh gắn với thiên nhiên, núi rừng, vạn vật hữu linh là những gì gần gũi với đời sống của dân tộc Hrê.

4. Cồng chiêng của người Hrê là nhạc khí thiêng và là vật “gia bảo” do tổ tiên để lại, nên được các thế hệ trong gia đình gìn giữ và bảo quản cẩn trọng. Dù có sự thất thoát số lượng cồng chiêng, tuy nhiên nhìn chung số lượng gia đình có chiêng và số lượng chiêng ở huyện Ba Tơ còn khá nhiều trong các gia đình. Hầu hết 18 xã, thị trấn tại huyện Ba Tơ đều có cồng chiêng, trong đó có nhiều xã số gia đình còn lữu giữ bộ chiêng ba khá nhiều, vì vậy tạo điều kiện để cho người dân trong từng thôn làng sử dụng chiêng và phổ biến giá trị cồng chiêng trong cộng đồng.

Trong tâm thức của người Hrê, nhạc khí cồng chiêng là vật thiêng, đã gắn bó lâu đời trong cộng đồng, được truyền từ đời này sang đời khác và trở thành một phần trong đời sống văn hóa tâm linh của đồng bào dân tộc Hrê. Mỗi người Hrê khi sinh ra đã được nghe tiếng chiêng vang trong các ngày lễ của gia đình và đến khi trưởng thành, cồng chiêng là nhạc khí để mang lại niềm vui, là tiếng nói gửi gắm tâm nguyện với tổ tiên, thần linh mong được một cuộc sống tốt đẹp, bình an. Chính vai trò quan trọng không thể thiếu của tiếng chiêng đối với đời sống của người Hrê nên nhiều gia đình có ý thức gìn giữ di sản của tổ tiên, phục vụ cho nhu cầu đời sống của các thành viên trong gia đình.

Với vai trò quan trọng của sinh hoạt cồng chiêng trong đời sống của người Hrê, nên hiện nay do điều kiện kinh tế của đại bộ phận gia đình người Hrê được nâng lên nên họ có ý thức giữ gìn cồng chiêng và mua thêm những bộ cồng chiêng để sử dụng, hạn chế nạn “chảy máu” cồng chiêng như những năm trước đây. Mặt khác, qua công tác tuyên truyền và tổ chức thường xuyên các hoạt động văn hóa tại địa phương nên thế hệ trẻ người Hrê được các nghệ nhân trong làng hướng dẫn cách đánh chiêng để tham gia, đã góp phần duy trì và phát triển nghệ thuật cồng chiêng trong cộng đồng.

Với mong muốn gìn giữ bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Hre, trong những năm qua địa phương, các sở ngành của tỉnh Quảng Ngãi và các nhà nghiên cứu văn hóa đã đầu tư nghiên cứu các đề tài khoa học như: “Điều tra cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng ở Quảng Ngãi” (Đề tài nghiên cứu văn hóa phi vật thể năm 2007); “Âm nhạc dân gian của dân tộc người Hrê ở Quảng Ngãi” và “Nhạc khí Xơ Đăng ở miền tây Quảng Ngãi” của tác giả Nguyễn Thế Truyền; Tổ chức các lớp truyền dạy dân ca, dân nhạc, dân vũ cho các đối tượng thanh thiếu niên tại địa phương. Đồng thời, hằng năm địa phương tích cực xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng tham gia các cuộc liên hoan, hội diễn trong tỉnh và toàn quốc nhằm góp phần giới thiệu và bảo tồn di sản văn hóa cồng chiêng nói chung và Nghệ thuật trình diễn chiêng ba nói riêng.

Chính quyền các cấp cũng đã có sự quan tâm đến chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa của đồng bào các dân tộc. Tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành các Nghị quyết, kế hoạch thực hiện nhằm bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, đã đầu tư kinh phí cho nhiều hoạt động bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc ở Quảng Ngãi. Nhiều di sản văn hóa phi vật thể ở các huyện miền núi được nghiên cứu và đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như: Nghệ thuật cồng chiêng của người Cor, nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Hrê ở Ba Tơ, lễ hội điện Trường Bà (Trà Bồng), nghệ thuật trình diễn Chiêng ba của người Hre, Ba Tơ…; nhiều lớp truyền dạy dân ca, dân vũ của đồng bào các dân tộc ở miền núi Quảng Ngãi được ngành văn hóa và địa phương phối hợp tổ chức, đặc biệt là thường xuyên tổ chức các cuộc liên hoan đàn và hát dân ca của các dân tộc trên địa bàn tỉnh… đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sinh hoạt văn hóa, trong đó có văn hóa cồng chiêng của đồng bào được gìn giữ, giới thiệu rộng rãi và phát huy trong đời sống cộng đồng.

Nghệ thuật trình diễn chiêng ba được duy trì và sử dụng khá phổ biến trong sinh hoạt lễ hội ở các địa phương. Hầu hết các thôn làng có người Hrê sinh sống ở huyện Ba Tơ đều sử dụng chiêng ba trong các ngày lễ của cộng đồng và gia đình. Đặc biệt là trong những ngày tết năm mới vào đầu tháng 2 đến hết tháng 3 âm lịch và trong những ngày lễ trọng của gia đình như mừng nhà mới, cưới hỏi… và trong các dịp lễ hội của địa phương như ngày giải phóng, ngày đại đoàn kết... nhân dân đều trình diễn chiêng Ba và các nhạc cụ truyền thống để vui chơi, giải trí.

Trong định hướng phát triển du lịch cộng đồng của địa phương đã chú trọng đến phát huy tiềm năng văn hóa truyền thống của đồng bào để thu hút khách tham quan. Các điểm du lịch của địa phương như: khu bảo tồn văn hóa Hrê ở làng Teng, Nhà bảo tàng Khởi nghĩa Ba Tơ và các một số thôn làng còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người Hrê đều coi trọng việc giới thiệu và trình diễn chiêng ba để phục vụ khách tham quan, tạo sự thích thú và hấp dẫn cho du khách khi đến Ba Tơ. Ngoài ra, các nghệ nhân biết sử dụng thành thạo chiêng ba được mời tham gia biểu diễn phục vụ nhân dân và khách tham quan tại các địa phương khác trong tỉnh. Việc địa phương biết kết hợp du lịch sinh thái với tìm hiểu lịch sử - văn hóa truyền thống của dân tộc Hrê tại các thôn làng, các điểm tham quan là khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, như là một tài nguyên du lịch hấp dẫn phục vụ cho việc tìm hiểu văn hóa, tham quan, vui chơi, giải trí cho du khách.

Tuy nhiên, hiện nay có sự thay đổi trong sinh hoạt đời sống cũng như môi trường sống của người Hre, đã có những tác động nhất định đến việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong cộng đồng. Tình trạng mua bán cồng chiêng đã giảm, người dân đã có ý thức gìn giữ những bộ chiêng quý do tổ tiên để lại, nhưng qua thống kê số lượng gia đình có chiêng và các bộ chiêng ngày càng giảm dần. Số liệu điều tra di sản cồng chiêng cho thấy: năm 2008, toàn huyện Ba Tơ có 2.157 hộ có chiêng và có 2.298 bộ chiêng thì đến năm 2020 toàn huyện có: 902 hộ có chiêng và 890 bộ chiêng còn lưu giữ. Qua hơn 10 năm số gia đình có chiêng và số bộ chiêng giảm đáng kể. Riêng tại xã Ba Vinh trong năm 2008 có 271 hộ có chiêng và lưu giữ 359 bộ chiêng ba, đến năm 2020 số hộ có chiêng chỉ còn 72 hộ và lưu giữ được 72 bộ chiêng. Đây là thực trạng đáng lo ngại, đặt ra cho các cấp chính quyền và các ngành ở địa phương quan tâm và có giải pháp giữ gìn di sản.

Qua một thời gian dài do sự biến đổi môi trường sống, sự tác động từ nhiều yếu tố khách quan, nên địa phương và đồng bào Hrê chưa thật sự chú trọng đến việc gìn giữ chiêng và sử dụng chiêng trong sinh hoạt đời sống. Số gia đình có chiêng giảm đi cũng đồng nghĩa với việc người biết chơi chiêng giảm. Theo số liệu thống kê năm 2008, toàn huyện Ba Tơ có hơn 2000 người biết chơi chiêng và 26 người biết “chỉnh chiêng” thì đến năm 2020 toàn huyện chỉ còn 741 người biết đánh chiêng và 02 người biết “chỉnh chiêng”. Những người biết đánh chiêng và thường xuyên đánh chiêng trong các lễ hội, hội diễn đa phần là những người lớn tuổi, còn lớp trẻ cũng chưa thật sự đam mê cồng chiêng.

Đặc biệt, số nghệ nhân biết “chỉnh chiêng” giảm cũng là nguy cơ làm biến đổi âm thanh, giai điệu của chiêng ba. Những bộ chiêng được mua về cũng chỉ là “sản phẩm thô”, vì vậy cần có nghệ nhân có kỹ năng “chỉnh chiêng” để tạo được âm thanh phù hợp từng chiếc chiêng và giai điệu của cả bộ chiêng. Việc “chỉnh chiêng” chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm và khả năng nhận biết âm thanh được tạo ra qua cách gõ của người “chỉnh chiêng”. Vì vậy, số nghệ nhân biết “chỉnh chiêng” ngày một ít dần là một thách thức, khó khăn trong việc bảo tồn di sản chiêng ba của người Hrê, Ba Tơ.

Hiện nay, trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào vẫn còn giữ tục “chia của” cho người mất trong gia đình. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây thất thoát chiêng, dẫn đến số chiêng của đồng bào giảm nhanh. Chiêng là vật có giá trị lớn, vì vậy, khi trong gia đình có người mất họ phải “chia của” cho người mất. Có nhiều gia đình khi chia chiêng cho người mất thì bộ chiêng thiếu đi một đến hai chiếc, nếu kinh tế gia đình khó khăn họ không mua được chiêng mới để cho đủ bộ chiêng, vì vậy họ cũng dễ bán đi những chiếc còn lại, làm giảm dần số gia đình lưu giữ cũng như số lượng chiêng trong cộng đồng.

Do đời sống sinh hoạt có sự thay đổi, điều kiện giao thông đi lại với trao đổi mua bán giữa các vùng miền diễn ra mạnh mẽ. Đặc biệt là sự thâm nhập các loại hình sinh hoạt văn hóa mới như: phim ảnh trên sóng truyền hình, âm nhạc hiện đại… đã thu hút giới trẻ, phần nào làm giảm đi sự ưa thích sử dụng cồng chiêng trong cộng đồng và trong các ngày hội của gia đình. Ngày nay, do điều kiện sinh sống và học tập của thanh niên trong các thôn làng đã thay đổi, họ lớn lên đi làm ăn và học tập khắp nơi nên đã tiếp thu các loại hình sinh hoạt văn hóa mới, làm thay đổi ý thức và thói quen sử dụng cồng chiêng trong sinh hoạt văn hóa trong từng gia đình và cộng đồng.

Sự biến đổi không gian sinh hoạt của gia đình và cộng đồng đã có tác động đến bảo tồn, gìn giữ di sản cồng chiêng. Hiện nay do tác động, giao thoa văn hóa giữa các tộc người, nhiều phong tục, tập quán, lễ hội của người Hrê cũng mai một nên môi trường diễn tấu cồng chiêng cũng thu hẹp. Mặt khác, với đặc trưng trình diễn chiêng ba là ở vị trí cố định và không gian diễn tấu diễn ra tại đầu tra của nhà sàn, nhưng hiện nay ngôi nhà sàn truyền thống dần bị thay thế bằng ngôi nhà trệt theo kiểu nhà ở của người Việt, nên việc diễn tấu chiêng ba cũng dần ít đi tại các gia đình đã thay đổi kiến trúc nhà ở.

5. Để bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật trình diễn chiêng ba của người Hrê, huyện Ba Tơ, địa phương cần triển khai nhiều biện pháp bảo vệ và gìn giữ di sản trong cộng đồng, góp phần tạo môi trường văn hóa lành mạnh và giữ gìn bản sắc văn hóa của người Hrê.

Tuyên truyền và nâng cao nhận thức cho cán bộ và đồng bào người Hrê Ba Tơ về việc bảo tồn những giá trị đặc trưng của nghệ thuật trình diễn chiêng ba. Thực tế kết quả cuộc điều tra cho thấy, đa số cồng chiêng tổn thất là do bị bán, là do nhiều người của thế hệ ngày nay không còn thích chơi cồng chiêng như thế hệ trước. Trước sự lan rộng của sóng truyền hình và sự phổ biến của các loại hình âm nhạc mới đến tận các làng nóc, nhiều người ngộ nhận rằng di sản văn hoá cồng chiêng của cha ông truyền lại là lỗi thời, lạc hậu, mà không thấy những giá trị không gì không thay thế được của nó. Do vậy, tuyên truyền, giáo dục ở đây cũng có nghĩa là giúp mỗi người trong cộng đồng tự nhận thức về giá trị và tầm quan trọng của di sản chiêng ba đối với cộng đồng, dân tộc. Bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc, góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Tái tạo và kiến tạo môi trường sử dụng. Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến di sản văn hoá cồng chiêng bị tổn thất chính là môi trường của nó bị hạn chế, thu hẹp. Do vậy, một giải pháp quan trọng là tái tạo hoặc tạo mới cho môi trường sử dụng cồng chiêng. Tổ chức diễn tấu chiêng ba trong những ngày hội vui của cộng đồng như: tổ chức ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc, ngày lễ hội của địa phương. Tổ chức liên hoan cồng chiêng định kỳ ở các cấp huyện, tỉnh và giao lưu cồng chiêng với các địa phương trong và ngoài tỉnh.

Khuyến khích đồng bào Hrê gìn giữ kiến trúc nhà sàn truyền thống để tạo không gian sinh hoạt diễn tấu chiêng ba. Hiện nay một số hộ gia đình người Hre có xu hướng chuyển đổi mô hình nhà ở từ nhà sàn truyền thống sang nhà trệt, nên không gian diễn tấu chiêng ba hạn chế và có nguy cơ mai một. Vì vậy, cần khuyến khích đồng bào giữ gìn kiến trúc nhà sàn truyền thống, vừa bảo tồn di sản kiến trúc của đồng bào Hrê vừa tạo không gian sinh hoạt cồng chiêng.

Truyền dạy về văn hoá cồng chiêng. Cũng như các loại hình văn nghệ dân gian cổ truyền, văn hoá cồng chiêng tồn tại qua nhiều đời chính nhờ sự truyền dạy. Trong gia đình thì ông bà cha mẹ truyền lại cho con cái, trong làng thì người biết truyền dạy người không biết. Nội dung truyền dạy bao gồm cách sử dụng các bài chiêng và cả kinh nghiệm “chỉnh chiêng”. Việc tổ chức các lớp truyền dạy của ngành văn hóa các cấp cần phải được tổ chức định kỳ hằng năm và việc truyền dạy cũng có thể đưa vào dạy ở các trường học tại địa phương.

Hỗ trợ mua sắm cồng chiêng. Do một hoàn cảnh nào đó mà số lượng cồng chiêng của một làng bị tổn thất nặng, dẫn đến việc số lượng cồng chiêng còn quá ít hoặc không còn bộ chiêng nào, vì vậy các cấp chính quyền cần có sự hỗ trợ để làng mua sắm cồng chiêng. Đây cũng là biện pháp thích hợp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các làng bảo tồn và phát huy di sản văn hoá cồng chiêng. Đặc biệt là quy định cấm mua bán cồng chiêng, nhằm tăng cường trách nhiệm của địa phương và cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy văn hoá cồng chiêng trong chính địa phương của mình.

Chính sách đãi ngộ nghệ nhân. Hiện nay nhiều nghệ nhân trình diễn chiêng ba của người Hrê đã được địa phương đề nghị xét tặng Nghệ nhân nhân dân và Nghệ nhân ưu tú, đã khuyến khích các nghệ nhân truyền dạy cho các thế hệ trong thôn làng và gìn giữ vốn di sản quý của dân tộc. Tuy nhiên địa phương cũng chưa có cơ chế, chính sách đãi ngộ để hỗ trợ nguồn kinh phí cho các nghệ nhân truyền dạy và thành lập các nhóm sở thích, câu lạc bộ để thường xuyên tổ chức sinh hoạt và gìn giữ di sản. Vì vậy việc xây dựng và ban hành quy định về chế độ đãi ngộ cho nghệ nhân được phong tặng danh hiệu là việc làm cần thiết để động viên, khuyến khích nghệ nhân gìn giữ và truyền dạy di sản trong cộng đồng.

Nghệ thuật trình diễn chiêng ba của đồng bào Hrê ở huyện Ba Tơ là một trong loại hình nghệ thuật tiêu biểu tiêu biểu, độc đáo nằm trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của đồng bào các dân tộc miền núi tỉnh Quảng Ngãi được nghiên cứu lập đề án bảo vệ và phát huy. Nghệ thuật trình diễn chiêng ba của đồng bào dân tộc Hrê, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia là cơ sở pháp lý quan trọng để địa phương có kế hoạch đầu tư nghiên cứu bảo tồn và phát triển di sản, giữ gìn bản sắc văn hóa của đồng bào Hrê, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho đồng bào Hrê./.


Tài liệu tham khảo

1. Báo cáo Điều tra cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng ở Quảng Ngãi, Sở Văn hóa và Thông tin, 2008.

2. Cao Chư (2009), Văn hóa cổ truyền dân tộc Cor - Tổng thể những giá trị đặc trưng, Nxb. Đà Nẵng.

3. Cao Chư (2023), Di sản văn hóa cồng chiêng ở Quảng Ngãi, Nxb. Khoa học xã hội.

4. Tạ Hiền Minh, Nguyễn Văn Mạnh (1996), Đời sống văn hóa các dân tộc tỉnh Quảng Ngãi, Sở VHTT Quảng Ngãi.

5. Người Hrê ở Việt Nam, Nxb. Thông tấn.

6. Nhiều tác giả (2008), Địa chí Quảng Ngãi, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.

7. Lương Hồng Quang chủ biên (2019), Văn hóa cộng đồng người Hrê tại làng Teng (xã Ba Thành, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi), Nxb. Lao động.

8. Nguyễn Ngọc Trạch chủ biên (2012), Nhà ở và Nghề dệt truyền thống của dân tộc Hrê, Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ngãi.

9. Nguyễn Thế Truyền (2019), Âm nhạc dân gian của tộc người Hrê ở Quảng Ngãi (sách chuyên khảo), Nxb. Giáo dục Việt Nam.

10. Nguyễn Thế Truyền (2019), Nhạc khí Xơ Đăng ở miền Tây Quảng Ngãi, Nxb. Hội Nhà văn.

11. Nguyễn Đăng Vũ (2007), Quảng Ngãi - Một số vấn đề lịch sử văn hóa, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...