Tóm tắt: Văn học miền Trung giai đoạn nửa sau thế kỷ XX phát triển qua nhiều khúc quanh, tạo nên nhiều dòng chảy với các điểm nhấn văn học chiến tranh 1945-1975, hậu chiến 1975-1986 và từ Đổi mới (1986) đến hết thế kỷ XX. Bài viết phác thảo khái lược diện mạo văn học 1945-1975 và bước đêm, chuyển giao, tạo đà thời hậu chiến và tập trung khảo sát điểm tựa ngưỡng Đổi mới (1986) đã góp phần giải phóng sức sáng tạo, làm nên thành tựu văn học thời Đổi mới.
Xác định đặc điểm văn học thời Đổi mới đặc biệt phức tạp, trong đó có yêu cầu kế thừa, tiếp nối, có bản lĩnh phản tư, tự phê bình, nhận thức lại và đặc biệt chú trọng điều chỉnh, hướng tới xác lập những tiêu chí giá trị nghệ thuật mới, nội dung hiện thực mới, cách thể hiện mới, mở đường cho những sáng tác phản ánh sâu sắc, phong phú, trực diện và toàn diện cuộc sống muôn màu ở chặng đường 15 năm cuối thế kỷ XX, đáp ứng nhu cầu tinh thần người đọc và thực tế xã hội, đất nước, dân tộc. Nhấn mạnh các giá trị khơi mở tính nhân văn, tiến bộ, tự do sáng tạo của vùng văn học miền Trung trong bối cảnh đất nước hội nhập, phát triển…
*** Từ khoá: Văn học miền Trung, Huế, Đổi mới
Diện mạo văn học miền Trung nửa sau thế kỷ XX bao quát phạm vi địa lý hành chính gồm ba khu vực (Bắc Trung Bộ từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên – Huế; duyên hải Nam Trung Bộ từ Đà Nẵng tới Phan Thiết và Tây Nguyên) nhưng thành tựu văn học tập trung chủ yếu ở Huế; thời gian tính từ khoảng 1945 đến năm 2000, trong đó có dấu ấn văn học 1945-1975 (chia hai dòng văn học cách mạng và văn học yêu nước vùng đô thị tạm chiếm), giai đoạn sau thống nhất trong quỹ đạo văn học cách mạng xã hội chủ nghĩa (1975-2000). Thêm nữa, lược quy về văn học miền Trung có tác giả sinh ra ở miền Trung, có tác giả bốn phương nhập tịch miền Trung, có người đi ngang miền Trung mà có được những tác phẩm viết về miền Trung để đời. Bài viết lựa chọn hệ quy chiếu văn học miền Trung nhìn từ ngưỡng Đổi mới (1986), xác định diện mạo và chiều hướng mở cho một giai đoạn văn học.
Trong tính phức hợp của phạm vi văn học miền Trung nửa sau thế kỷ XX có thể lấy giá trị văn chương làm tiêu chí chung cho việc xác định đội ngũ tác giả và chất lượng tác phẩm, vượt lên sự phân chia dòng phái địa - chính trị. Trên tổng thể, đã định hình thế hệ các nhà văn trước 1975 quê Thừa Thiên - Huế và miền Trung với tên tuổi những Thanh Tịnh (1911-1988), Tố Hữu (1920-2002), Linh Bảo (sinh 1926), Thanh Hải (1930-1980), Hải Bằng (1930-1988), Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017), Phùng Quán (1932-1995), Hồng Nhu (1934-2022), Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937-2023), Trần Nguyên Vấn (sinh 1937), Túy Hồng (1938-2020), Nhã Ca (sinh 1939), Nguyễn Thị Hoàng (sinh 1939), Nguyễn Khắc Phê (sinh 1939), Phan Duy Nhân (1941-2017), Đynh Hoàng Sa (?), Đynh Trầm Ca (sinh 1941), Luân Hoán (sinh 1941), Tô Nhuận Vỹ (sinh 1941), Vũ Hữu Định (1942-1981), Nguyễn Quang Hà (sinh 1942), Hà Nguyên Thạch (sinh 1942), Nguyễn Khoa Điềm (sinh 1943), Hoàng Lộc (sinh 1943), Nguyễn Nho Sa Mạc (1944-1964), Hà Khánh Linh (sinh 1945), Viêm Tịnh (sinh 1945), Nguyễn Nho Nhượn (1946-1969), Phạm Ngọc Lư (1946-2015), Thái Ngọc San (1947-2005), Mường Mán (sinh 1947), Trần Dzạ Lữ (1948-2024), Võ Quê (sinh 1948), v.v…
Với thế hệ nhà văn trước 1975 này có thể phân chia thành nhiều nhóm tác giả (Cách mạng và Việt Nam Cộng hoà, phục vụ Việt Nam Cộng hoà và ở vùng tạm chiếm, chiến trường Trung Bộ và tập kết ra Bắc, ở Huế và vùng miền khác, nội đô Huế và vùng giải phóng, nam và nữ, người còn và mất, sáng tác dừng lại trước 1975 và nối tiếp sau Đổi mới 1986…); với tác phẩm cũng có thể chia thành nhiều nhóm (sáng tác và phê bình, chủ đề quê hương và đất nước, thời cuộc, văn và thơ, thơ thế sự và thơ tình, văn xuôi hư cấu và phi hư cấu, truyền thống và cách tân…). Như vậy, có thể xác định diện mạo văn học miền Trung nửa sau thế kỷ XX bao gồm sáng tác trước 1975 và đặc biệt đáng chú ý là dòng mạch tiếp nối trước và sau thời Đổi mới (1986)…
Trong dòng chủ lưu của nền văn học cách mạng nửa sau thế kỷ XX có thể thấy dấu mốc ngưỡng Đổi mới (1986) có vai trò đặc biệt quan trọng. Trước Đổi mới, văn học chặng đường mười năm (1975-1986) thuộc thời kỳ hậu chiến cơ bản vẫn theo quán tính của giai đoạn văn học thời chiến (1945-1975) với các nội dung “Yêu, căm, chiến, lạc”. Thực sự đã có một thời chúng ta sống trong hào khí thơ Tố Hữu: Chào 61 đỉnh cao muôn trượng (Bài ca mùa xuân 1961), Ta vì ta, ba chục triệu người/ Cũng vì ba ngàn triệu trên đời (Miền Nam, 1963), Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai (Theo chân Bác, 1970) và toàn bộ hệ thống đề tài, chủ đề, nhân vật, sự kiện, nội dung trong các bộ tiểu thuyết nổi tiếng thời chiến tranh như Nguyên Ngọc với Đất nước đứng lên (1955; chuyển thể phim, 1995; nhạc kịch, 2005), Phan Tứ với Mẫn và tôi (1972); Nguyễn Minh Châu với Dấu chân người lính (1972), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những người đi từ trong từng ra (1982) căn bản đều xoay quanh định hướng giá trị tinh thần “Yêu, căm, chiến, lạc”…
Trường hợp nhà văn Tô Nhuận Vỹ cũng sáng tác đúng theo các nội dung quy chuẩn với ba tập truyện ngắn: Người Sông Hương (1970), Em bé làng chài (1971), Làng thức (1973) và bộ tiểu thuyết Dòng sông phẳng lặng (1974, 1977, 1982) được chuyển thể phim truyền hình 23 tập (2004) và trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2012)… Điều này có lý do bởi sự quy định của hoàn cảnh lịch sử, cả dân tộc phải gồng mình cho ngày chiến thắng và buộc phải giản lược nhiều phương diện nhân văn, nhân tính, cuộc sống đời thường. Từ tư tưởng đến hành động, thật khó có một sự lựa chọn nào khác.
Văn học miền Trung giai đoạn giao thời Hâu chiến – Đổi mới (1975-1986) vừa phát triển theo quán tính, góp phần phản ánh, chiêm nghiệm lịch sử đất nước một thời đã qua với hình ảnh con người trải qua chiến tranh và làm nên chiến thắng lại vừa ngỡ ngàng trước thực tại mới với muôn ngàn khó khăn, thách thức mới... Có thể kể đến các tác giả, tác phẩm tiêu biểu như Tố Hữu với tiếng thơ reo ca mừng chiến thắng:
Hương Giang ơi... dòng sông êm,
Quả tim ta, vẫn ngày đêm tự tình.
Vẫn là duyên đó, quê anh,
Gió mưa tan, lại trong lành mặt gương.
(Bài ca quê hương, 1975)
Thơ định hướng chuyển đổi từ nhiệm vụ chiến đấu sang mặt trận sản xuất, cầm súng sang tay cày tay cuốc:
Lại hành quân như năm nào đánh Mỹ
Những sư đoàn, không súng, lại xung phong
Ta sẽ thắng, như những chàng dũng sĩ
Biến hoang vu thành cơm áo, hoa hồng.
(Một khúc ca, 1977)
Tiếng thơ tự vấn, trăn trở, đau đáu suy tư, một mình đối diện với chính mình, tự mình so sánh hôm nay với ngày hôm qua và tự đặt ra câu hỏi trước thực tại:
Đêm cuối năm. Riêng một ngọn đèn
Dở hay, khôn dại những chê khen
Làm ăn, hai chữ, quen mà lạ
Thế cuộc, nhân tình, rõ trắng đen.
(Đêm cuối năm, 1981)
Với trường hợp nhà văn chiến sĩ Tô Nhuận Vỹ, tiểu thuyết Ngoại ô (1982) đan kết các vấn đề nhận thức thời chiến tranh và hậu chiến, có nhân vật chính diện (Thạch) và phản diện (Bửu Sanh, Huệ, mụ Lép), có sự phân hoá trong quan niệm địch - ta, sai - đúng. Tác phẩm đã được chuyển thể điện ảnh (1987), trao Giải thưởng loại A của UBND tỉnh Bình Trị Thiên và trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2012)…
Nhà văn Ngô Minh nhận xét: “Sau năm 1975, quan điểm “địch - ta” vẫn rất quyết liệt trong việc xử lý đối với những người thuộc quân đội và chính quyền Sài Gòn cũ, trong cải tạo công thương nghiệp miền Nam, thì Tô Nhuận Vỹ lại nghĩ khác. Anh muốn làm sao để tất cả mọi người cùng đồng hành với cách mạng, xây dựng cuộc sống mới (…). Cách mạng phải nhân văn hơn, độ lượng hơn về cách đánh giá con người sau chiến tranh. Anh tâm sự: “Đây là tiểu thuyết luận đề tâm huyết của tôi về việc giải quyết những xung đột trong xã hội miền Nam ngay sau 1975, xoay quanh tư tưởng “Ai không theo địch là TA, chứ không phải ai không theo ta là ĐỊCH”… Từ tư tưởng đó, ở một xã ngoại ô Huế, qua đấu tranh gay gắt trong nội bộ, đã quyết định trả lại một ngôi nhà bị tịch thu không đúng chính sách cho gia chủ - một gia đình có nhiều dính dáng đến chế độ cũ - và chính thức xin lỗi gia chủ cũng như nhân dân vì sai lầm của mình…
Đó là một tầm nhìn và một thái độ cách mạng cao cả tôi muốn khắc họa trong tiểu thuyết. Tiểu thuyết Ngoại ô cũng được Hãng phim Giải phóng dựng thành phim nhựa rất sớm (1987)… Nhưng đạo diễn đã thay việc xã trả lại nhà vì đã xử lý sai bằng cảnh vị chủ tịch xã ngoại ô tuyên bố trả lại nhà cho gia chủ vì phát hiện gia đình có một người con là liệt sĩ đã hy sinh trên chiến khu! Xem phim, Tô Nhuận Vỹ kêu lên: “Toàn bộ luận đề của tiểu thuyết đã bị vứt bỏ bởi “sáng kiến” thêm thắt tày trời này!” [1] … Ý tưởng của nhà văn Tô Nhuận Vỹ là người cách mạng - vị chủ tịch xã kia phải công khai, minh bạch nhận ra cái sai và dám sửa sai.
Sau khoảng mười năm giao thời, chuyển tiếp, bước sang giai đoạn Đổi mới từ 1986 đến cuối thế kỷ XX (và tiếp nối đến ngày nay), hiện thực đời sống xã hội có những thay đổi nhanh chóng, căn bản. Việc nhìn nhận, soát xét lại kinh nghiệm đời sống văn học quá khứ là nhu cầu của cả một thế hệ với tinh thần thức tỉnh, phản tư “Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua” - chủ nghĩa hiện thực phải đạo (Hoàng Ngọc Hiến, 1979), “Khi thực tiễn lên tiếng” (Ngô Thảo, 1987), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa” (Nguyễn Minh Châu, 1987), “Về vấn đề văn học phản ánh hiện thực” (Lê Ngọc Trà, 1988), v.v…
Trong quá trình khởi động và phát triển đường lối văn nghệ thời Đổi mới có thể coi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là lá cờ đầu. Nắm bắt được thực tế tình hình đất nước và yêu cầu đổi mới của đời sống văn học, ông đã dành ra hai ngày tham dự hội thảo và có bài phát biểu quan trọng trong cuộc gặp gỡ các nhà quản lý, hoạt động văn hóa, văn nghệ sĩ và tác động trực tiếp, sâu sắc đến nhận thức của giới văn học (ngày 6, 7 tháng 10-1987): “Các đồng chí có nói nhiều đến sự “cởi trói”. Có như vậy mới phát huy được hết khả năng trong lĩnh vực của các đồng chí. “Cởi trói” như thế nào? “Cởi trói” nói ở đây trước hết tôi nghĩ rằng Đảng phải cởi trói. Cởi trói trong lĩnh vực tổ chức, chính sách, trong các quy chế, chế độ. Chính các đồng chí cũng đòi hỏi rằng trong lĩnh vực của các đồng chí, không được áp đặt mọi công việc như đặt con tàu chạy trên đường ray, các đồng chí cần được tự do lo liệu cho các công việc của mình. Nếu như trong lĩnh vực kinh tế hiện nay cần phát huy dân chủ cho người sản xuất thì ở lĩnh vực của các đồng chí, các đồng chí cũng phải làm chủ” (NHS nhấn mạnh) [2] … Ở đây có thể nói đến tinh thần phản tư về những khuôn thước tư tưởng gò bó trước đây, khả năng nắm bắt nhu cầu cần mở rộng đường biên sáng tạo nghệ thuật thước yêu cầu của đời sống hiện thực, xu thế giao lưu, hội nhập và phát triển đất nước [3]...
Trên tinh thần Đổi mới, văn học miền Trung cũng như cả nước diễn ra hai trạng thái biện chứng: vừa phản tư, soát xét, thẩm định, kiểm định lại (nhất là những phương diện chủ quan, ấu trĩ, đơn giản, công thức, một chiều do hoàn cảnh chiến tranh) vừa hướng tới mở rộng đường biên nghệ thuật, xác lập những tiêu chí mới, cách nhìn mới, đề cao các giá trị nhân văn, tiến bộ, hoà giải, hoà hợp dân tộc, hướng tới giao lưu, hội nhập, phát triển. Đến thời Đổi mới, cánh chim đầu đàn của nền thơ cách mạng Tố Hữu cũng dần chiêm nghiệm, ngỡ ngàng dự cảm trước một thực tại mới, sự việc và sự thực mới, hướng tới cách nói mới:
Có anh bộ đội sắm đồng hồ,
Thật giả không rành, bụng cứ lo.
Bèn hỏi cô hàng. Cô tủm tỉm:
Giả là như thật. Khó chi mô!
(Thật giả, 1987)
Có thể thấy suối nguồn tư duy “mới” đã thấm vào thơ Tố Hữu trong quan hệ cái tôi và cái ta cộng đồng, hiệu quả nội lực và cái hình thức khuôn mẫu chung chung:
Ông “Vua” dệt về hưu
Gia đình thành xưởng nhỏ
Tự chủ, đủ phong lưu
Chẳng lo ai gò bó.
Nhập sợi về làm vải
Hàng đẹp, lắm người mua
Khỏi nợ đời nhiễu sãi
Không ai đóng cửa chùa!
(Xưởng nhà, 1991)
Thêm một lần Tố Hữu đau đáu dự cảm, suy tư, day dứt trước những mới – cũ, có phần bàng hoàng trước thực tại cuộc sống mới, trang đời mới, chặng đường mới và những thử thách mới:
Xuân đang ở đâu, đang về đâu?
Mênh mang trời đất trắng sương mù
Chập chờn nắng ửng, từng cơn rét
Xen mỗi niềm vui, mấy nỗi đau!
(Xuân đang ở đâu…, 1992)
Trở lại chứng dẫn nhà văn chiến sĩ Tô Nhuận Vỹ thì tinh thần Đổi mới ngày càng sắc nét hơn, sáng rõ hơn, rộng mở và toàn diện hơn với tiểu thuyết Phía ấy là chân trời (1988) đã được tặng Giải thưởng Cố Đô hạng A của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế. Nội dung thiên tiểu thuyết nằm trong văn mạch cảm hứng địch - ta và tiếp tục triển khai sâu rộng hơn. Nhà văn Ngô Minh nhấn mạnh tâm thế, xu thế phát triển nhận thức và tư duy nghệ thuật: “Tô Nhuận Vỹ viết hai cuốn tiểu thuyết Ngoại ô và Phía ấy là chân trời cũng là để phát biểu những luận đề về nhận thức mới đó” [4]… Việc khai thác sâu kiểu nhân vật chính diện (Thư, Thái, Trừng) và phản diện (Vĩnh) cho thấy sự quyết liệt, phức tạp và gianh giới đúng - sai trong cuộc chiến cam go, cần thêm thời gian để thấu hiểu, đánh giá đầy đủ hơn mọi phương diện. Điều này cho thấy sự vận động, chuyển hoá ngày càng rõ nét hơn giữa bảng màu văn học trước và sau làn song Đổi mới.
Trong một trường hợp khác, có thể nói ngưỡng Đổi mới đã in dấu sâu sắc trong đời thơ Nguyễn Khoa Điềm, người đã đạt tới tầm cao trong nền thơ kháng chiến với tập thơ "Đất ngoại ô" (1973) và trường ca "Mặt đường khát vọng" (1974) rồi đã tiếp tục vượt ngưỡng Đổi mới (1986), tiếp tục có đóng góp mới cho chặng đường thơ những năm cuối thế kỷ XX và tâm thế thập niên đầu thế kỷ XX như một đánh giá khá chuẩn mực, toàn diện trên báo Văn nghệ (2011): “Sau ngày nước nhà thống nhất, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lần lượt được giao nhiều trọng trách: Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin; Tổng Thư ký Ban Chấp hành Hội Nhà văn khóa V; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương... nên ít có thời gian làm thơ. Tuy vậy, vào năm 1986, anh vẫn cho ra đời tập Ngôi nhà có ngọn lửa ấm. Chỉ một thời gian ngắn sau khi nghỉ hưu, anh đã hoàn thành tập thơ "Cõi lặng" (NXB Văn học, 2007) gây xôn xao dư luận. Trong Ngôi nhà có ngọn lửa ấm và "Cõi lặng", Nguyễn Khoa Điềm nghiêng về chiêm nghiệm đời sống xã hội, nhân tình thế thái.
Bên cạnh những cái hay, cái đẹp anh còn nhận thấy những cái chưa hay, chưa đẹp trong cuộc sống hiện tại. Anh nói với đứa con trai khi cháu mới cất tiếng khóc chào đời: Cái thế kỷ của cha còn lắm điều xấu hổ (Ngôi nhà có ngọn lửa ấm). Đi trên cánh đồng buổi chiều thấy sự vất vả của người nông dân, anh nghiệm ra rằng: Khi mồ côi trở nên quá rẻ/ Kẻ ranh ma trở nên quá giàu (Cánh đồng buổi chiều). Nghe tin hai nhà khoa học bị tai nạn xe máy, anh đề cập đến sự hung bạo: Hung bạo trên mạng, trên sàn diễn, trong lớp học/ Hung bạo giữa bàn nhậu, cửa sau công sở, hung bạo đường phố/ Hung bạo văn chương, tố giác nặc danh/ Lạng lách thời thượng và sành điệu. Đến tuổi 63, anh thú nhận: Bánh xe đạp không tròn nữa/ Chỉ một hòn đá vô tình cũng đủ ngã lăn chiêng, và Các cô gái đều lẫn vào mây trắng/ Như là thần tiên, như cánh diều vàng…
Ngắm những quả bầu, quả bí anh liên tưởng đến giọt mồ hôi của mẹ và hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi/ Mình vẫn còn một thứ quả non xanh? (Mẹ và quả)... Để có được những giây phút bình thản, thoải mái, thanh tịnh, nhà thơ tìm cách hòa mình và thiên nhiên: Nhưng chiều nay có con bò gặm cỏ/ Bên dòng sông như chưa biết chiều tan./ Tôi với nó lặng im bè bạn/ Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương Giang (Chiều Hương Giang). Anh thèm cái ung dung của nó: chậm rãi/ không nghe tiếng người, tiếng xe cộ lại qua./ Bụi bặm một ngày kiếm sống/ Nó nghe vị ngọt của từng cọng cỏ (Cỏ ngọt). Anh ngạc nhiên trước sức chịu đựng và sự lạc quan của Cây vú sữa trước sân nhà: Đêm qua mưa bão đen vườn cũ/ Sáng dậy trên cao lá nói cười. Anh khâm phục dòng sông Hương: Không có nỗi đau đớn nào sông không rửa sạch... Anh phát hiện đức tính thầm lặng của một loài hoa nở giữa đêm: Một đời mơ mộng chẳng nguôi quên/ Những khi ta ngủ thì hoa thức/ Hoa nhắn giùm ta bí ẩn em (Trong đêm). Làm bạn và học hỏi thiên nhiên, anh đúc rút thành những châm ngôn: Đôi khi đá dạy ta mềm mỏng/ Sự tàn nhẫn nhắc ta điều lành/ Nỗi buồn đánh thức hi vọng; và: Giữa thế giới không nhiều may mắn/ Ta học cách vừa lòng với mình/ Chia sẻ sự bình tâm của cỏ (Hy vọng). Đặc biệt là cỏ - cỏ đã tiếp cho anh sức sống và niềm tin: Cỏ yên tĩnh, cỏ xanh đến cuối đời/ Trước và sau ngày làm việc/ Cỏ làm lời nhắc nhở/ Xanh (Cỏ trước Ba Đình)... Những chiêm nghiệm này không chỉ cần thiết cho bản thân tác giả mà còn là những bài học hết sức quý giá cho tất cả mọi người” [5]…
Xác định bước chuyển của nền văn học cách mạng giai đoạn nửa sau thế kỷ XX - trong đó có văn học miền Trung - chúng tôi từng đặt ngưỡng Đổi mới (1986) trong tương quan những cuộc vận động “nhận đường” (tranh luận Việt Bắc, 1947-1949; thời hậu chiến chống Pháp, 1956-1959): “Giai đoạn văn học đương đại từ sau 1975 tiếp tục vận động trong quá trình “nhận đường” và khẳng định dòng chảy chủ lưu cho đến hết thập kỷ Tám mươi. Đặc điểm sự nhận đường này quy định những kiến giải, những định hướng lớn cả về tính tổ chức lẫn thực tiễn sáng tác: “Cởi trói” và kỷ cương, mở cửa và đóng cửa, tiến bộ và đạo đức, tự do và trách nhiệm, văn nghệ và chính trị… và việc nảy sinh tranh luận, phân hoá trong nhận thức, trăn trở truy tìm dòng chảy chính giữa hai bờ “thái quá” và “bất cập” cũng là lữ đương nhiên” [6], đồng thời nhấn mạnh tính lịch sử và khả năng vận động của chính tinh thần Đổi mới: “Chỉ tiếc rằng, đáng lẽ tư duy văn học đã tiến xa, đáng lẽ những vướng mắc nặng nề ấy đã được giải toả từ lâu, song “Dầu lòng vậy…”, có phản tỉnh còn hơn không. Đó cũng chính là một dấu hiệu của giai đoạn văn học nhận đường đương đại” [7]. Bước sang thập kỷ Chín mươi, có thể nói nền văn học hiện đại đã cơ bản bước qua giai đoạn “nhận đường” thời hậu chiến - đặc biệt với việc đi tới tổng kết, xác định điểm tựa khoa học…
Nhận diện nền tảng dòng chảy văn học miền Trung thời chiến tranh - Hậu chiến và Đổi mới 1986, nhà phê bình Phạm Phú Phong phân tích tác phẩm đan xen kỷ niệm về những ngày ghi chép hồi ký hay một sự quen biết tâm giao, một lần gặp gỡ với các nhà văn quê miền Trung như Nguyễn Văn Bổng, Đào Xuân Quý, Phạm Hổ; rộng hơn là lời luận bình về vai trò nhà văn hóa Phạm Văn Đồng – người thổi hồn cho văn nghệ khu Năm chân và dung nhà thơ triết lý Bùi Giáng – Thi Sĩ Trung Niên… Trong Phần hai- Để gió cuốn đi, Phạm Phú Phong hướng đến phác vẽ chân dung nhà văn và khảo sát, phân tích, bình luận tác phẩm thực sự công phu với các tác giả góp công xây nền đắp móng nền văn học miền Trung nửa sau thế kỷ XX như Nguyễn Văn Xuân, Trịnh Công Sơn, Trần Vũ Mai, Thái Ngọc San,… Nhà phê bình chủ ý đưa thêm những chi tiết đời thường, những kỷ niệm thân thương, những điều tai nghe mắt thấy, tạo nên những chân dung sinh động về các tác giả đã không còn nữa. Tất cả chỉ còn trong nỗi nhớ. Và chính điều này góp phần gia tăng thêm ý nghĩa thanh lọc, cuốn hút người đọc trước những nhân cách văn chương đã thành lịch sử, những số phận đã thành quá khứ, chỉ còn lại đây những trang văn và tình nghĩa con người hiện hữu giữa dòng thời gian vô cùng vô tận…
Ở Phần ba- Một cõi đi về, Phạm Phú Phong chủ yếu viết về những chuyến đi, tức là viết du ký, nhưng lại là du ký đến với những nấm mồ: Một vùng cỏ áy bóng tà/ Gió hiu hiu thổi một và bông lau… Ông tìm đến mộ phần của lớp cha ông và mộ những người cận thời, cùng thời như mẹ Suốt, chị Sứ, Thanh Tịnh, Điềm Phùng Thị… Đến thăm mộ không chỉ để ngậm ngùi cho những mất còn thân xác kiếp người mà chính là nhằm để đồng cảm, để được thấu suốt cái tâm trạng hữu – vô, sắc sắc không không, cái giá trị ẩn tàng sau mỗi trang văn. Đến thăm mộ cũng chính là sự hồi cố, phản tỉnh, đo đếm lại tình người, soát xét lại quá khứ và đặt mình trước vẻ đẹp tinh thần của các danh nhân, thức tỉnh lại lòng mình và suy đoán trước xem mình sẽ là gì khi đến hồi chung kết? Chính vì thế, bên cạnh việc khơi gợi một vài đặc điểm trong cuộc đời và giá trị thơ văn sắc nét nhất ở từng nhà văn, Phạm Phú Phong bao giờ cũng chú ý miêu tả địa điểm, quang cảnh và cái cách mà hậu thế đối xử với tiền nhân qua biểu tượng nấm mộ…
Trong phần Lời kết, sau khi điểm danh mấy chục nhà văn, nhà báo quê Điện Bàn và đồng đội bốn phương đất nước đã hy sinh trên đất Điện Bàn, khi thấy họ tên mình trùng với họ tên một người đã hy sinh, ông liên tưởng, gián cách phân thân thế giới tâm linh con người mình thành hai nửa: “Oái oăm thay, người còn sống sờ sờ như tôi, lại từng có ý nghĩ xót xa khi chính mình thắp nhang lên mộ mình, tự mình ngồi lên mộ mình để chụp ảnh, mỗi khi tôi về thăm ngôi mộ của người trùng tên với tôi. Thì cũng vậy thôi, tôi chỉ là người may mắn hơn thôi, còn có cuộc sống hôm nay và còn luôn trĩu nặng đối với những người đi trước, đi thay cho mình. Chừng nào tôi không còn cảm thấy cái sức nặng của người đã khuất còn để lại, là tôi đã sống khác đi, như một kẻ vô ơn đáng nguyền rủa. Như một sự ràng buộc vô hình, một món nợ cần phải trả, cứ mỗi lần về thăm, tôi lại đến ngồi bên ngôi mộ kia và có cảm giác chính mình là người đang nằm dưới mộ. Và, tôi thấy tâm hồn tôi trong sạch, thanh khiết đến lạ thường” [8]… Có thể nói thêm, bên cạnh ý nghĩa văn chương, nhiều bài viết ở mục này còn đồng thời là tiếng nói phản biện, phê bình, nhắc nhở, cảnh tỉnh, kêu gọi con người hôm nay cần phải biết đến ân nghĩa và trân trọng các bậc tiền nhân. Nhìn trên bình diện xã hội, nhờ có thêm tiếng nói từ những bài viết này, các ngôi mộ văn nhân đã sớm được tu sửa, chỉnh trang, đáp ứng tình cảm ngưỡng vọng của muôn người.
Lời kết
Cùng với lịch sử dân tộc, văn học miền Trung và cả nước giai đoạn nửa sau thế kỷ XX phát triển trong tình thế Đổi mới đặc biệt phức tạp, trong đó có yêu cầu kế thừa, tiếp nối, có bản lĩnh phản tư, tự phê bình, nhận thức lại và đặc biệt chú trọng điều chỉnh, hướng tới xác lập những tiêu chí giá trị nghệ thuật mới, nội dung hiện thực mới, cách thể hiện mới. Trong bối cảnh đất nước hội nhập, phát triển, tư duy văn học ngày càng chuyển hoá, bắt nhịp, hoà mạng với sự vận động của nền văn học khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á và thế giới hiện đại. Nói riêng văn học miền Trung với trung tâm Thừa Thiên – Huế đã kế thừa dòng chảy văn học 1945-1975, vận động và phát triển với dấu mốc ngưỡng Đổi mới (1986). Từ sau ngưỡng 1986, tâm thế người viết đã biết “cởi trói” và “tự cởi trói”, mở đường cho những sáng tác phản ánh sâu sắc, phong phú, trực diện và toàn diện hơn cuộc sống muôn màu ở chặng đường 15 năm cuối thế kỷ XX, đáp ứng nỗi niềm người đọc và thực tế xã hội, đất nước, dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ngô Minh (2008), Tô Nhuận Vỹ - Có một dòng sông không phẳng lặng. Nguồn: https://tienphong.vn › to-nhuan-vy-co-mot-dong-song-k 09:30 7 thg 6, 2008. Cập nhật ngày 12/3/2024.
[2] Nguyễn Văn Linh (1988), “Bài nói chuyện của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trong cuộc gặp gỡ văn nghệ sĩ và các nhà hoạt động văn hóa (7/10/1987)”. Tạp chí Văn học, số 1 (229), tr.11-16.
[3] Nguyễn Hữu Sơn (2012), “Văn học hiện đại Việt Nam trong tầm nhìn các nhà Việt học”, Luận bình văn chương. Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.129-148.
[4] Ngô Minh (2008), Tô Nhuận Vỹ - Có một dòng sông không phẳng lặng. Nguồn đã dẫn…
[5] X (2011), “Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm - Gương mặt cựu sinh viên Văn Khoa”… Nguồn: https://staff.hnue.edu.vn › tabid › Category › News › Nh... Cập nhật ngày 14/3/2024.
[6] Nguyễn Hữu Sơn (1991), “Về giai đoạn văn học “nhận đường” thập kỷ Tám mươi”, Tạp chí Cửa Việt (Hội Văn học nghệ thuật Quảng Trị), số 8, tr.55-58.
[7] Nguyễn Hữu Sơn (2000), “Về giai đoạn văn học “nhận đường” thập kỷ Tám mươi”, Luận bình văn chương. Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.129-148.
[8] Phạm Phú Phong (2009), “Lời kết”, Mây của trời rồi gió sẽ mang đi. Nxb. Lao động, Hà Nội, tr.267-268.
*** Nguồn: “Văn học miền Trung nửa sau thế kỷ XX – nhìn từ ngưỡng Đổi mới (1986)”, Hội thảo khoa học quốc gia “Văn học miền Trung nửa sau thế kỷ XX” do Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế tổ chức ngày 1-6-2024, 12 trang... In sách Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Văn học miền Trung nửa sau thế kỷ XX. Nxb. Đại học Huế, 2024, tr.628-640.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét