Thứ Năm, 11 tháng 7, 2024

Trao đổi với nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Công về từ 'đểu cáng' (Vương Trung Hiếu)

Trên Facebook, tác giả Hoàng Tuấn Công có bài viết “NGHỀ “ĐỂU CÁNG” THÌ CÓ GÌ LÀ XẤU?” (ngày 9.7.2024), trong đó phê phán quan điểm của vài nhà nghiên cứu về từ “đểu cáng”.

Theo Hoàng Tuấn Công, các nhà nghiên cứu như Phan Cẩm Thượng, Vương Trí Nhàn và tôi (VTH) đã nhầm khi cho rằng từ “đểu cáng” ban đầu có nghĩa là “phu gánh thuê”, về sau chuyển nghĩa thành kẻ xấu, vì đôi khi có trộm cắp.

Ông Hoàng phán rằng “cách giải thích trên đây chỉ là xuất phát từ sự nhầm lẫn, suy diễn, mắc lỗi đồng âm dị tự, dị nghĩa”, vì có hai từ “đểu cáng” với nghĩa khác nhau, chứ không phải một, đó là: đểu cáng (phu gánh thuê) và đểu cáng (ba que, đểu giả, xỏ lá). Ông viết:

a. “Chữ “đểu” trong “đểu cáng” (danh từ, chỉ phu gánh thuê) là một từ Việt gốc Hán, vốn bắt nguồn từ chữ “điêu” 挑 (âm đọc khác là khiêu, điệu, điểu, điếu), nghĩa là gánh gồng (dụng kiên đảm vật 以肩擔物 = dùng vai để gánh), khêu chọc, đưa đi chỗ khác”.

Theo chúng tôi, nhận định trên có những nhầm lẫn sau:

Thứ nhất, xét về phiên thiết, trong Khang Hi tự điển chữ 挑 không đọc là “điêu”, chính xác phải là “thiêu” (thổ điêu thiết/吐彫切, tha điêu thiết/他彫切); “thao, đao” (tha đao thiết/他刀切, đồ điếu thiết/徒弔切);. Riêng phiên thiết có phụ âm đầu là đ (điền liêu thiết/田聊切) thì đọc là “điều”, đặc biệt, “đồ liễu thiết/徒了切 phải phiên là “điểu” chứ không thể là “điêu”, do chữ thứ nhất (“đồ”), có thanh mẫu (phụ âm đầu) là đ, thanh điệu là huyền (trầm bình); kết hợp với chữ thứ hai (“liễu”), có vận mẫu (phần vần) là iêu, thanh điệu là ngã (trầm thượng) sẽ cho ra âm “điểu”. Nói cách khác, đ(ồ) + (l)iễu = điểu.

Tuy Khang Hi tự điển cho biết chữ "thiêu" (挑, tiāo) đọc là 條 (tiáo), tức tạo ra 3 âm Hán Việt: “điều, thiêu, điêu”, song đây là cách chú âm độc nhược (chọn âm gần giống), không phải là trực âm (hai chữ đồng âm) nên khó chấp nhận chữ "thiêu" (挑) phiên là "điêu" như ý đồ của ông Hoàng Tuấn Công.

Thứ hai, cụm từ 以肩擔物 không phải là “dụng kiên đảm vật”, mà là “dĩ kiên đảm vật”, do chữ 以 đọc là dĩ (dưỡng lí thiết/養里切), không đọc là dụng. Chữ dĩ (以) có nghĩa là “dùng, làm, lấy ”, ví dụ: dĩ lễ đãi chi (以禮待之: dùng lễ mà tiếp đãi).

Trong Hán ngữ, chữ 挑 (tiāo), ngoài âm “thiêu, thao, đao”, người Việt xưa còn phiên là “khiêu, thiểu”…; nghĩa gốc của từ này là “khuấy động, nhảy múa, khiêu khích”, về sau mở rộng nghĩa thành "nhổ", hoặc "đâm bằng vật gì đó sắc nhọn", hoặc "dùng cột để giữ cái gì đó"; nghĩa hiện nay là “vác trên vai”, “trách nhiệm” và “kén chọn”.

b. Kế tiếp ông Hoàng cho rằng “chữ “cáng” cũng là từ Việt gốc Hán, chính là chữ “cang” 扛 (hay cang 掆) có nghĩa là mang, vác, cõng, khiêng”.

Thật ra, chữ 扛 đọc là "giang" chứ không phải "cang", bởi vì chữ này có phiên thiết là “cổ song thiết” (古雙切), Khang Hi tự điển chú âm là giang (杠). Điều này tương thích với cách phiên chữ 扛 là “cư lang thiết” (居郞切), cũng đọc là giang theo nguyên tắc chuyển đổi thanh mẫu c thành gi như nhiều từ khác, ví dụ: 伽 = cầu ca thiết = già; 價 = cư nhạ thiết = giá; 頰 = cát hiệp thiết = giáp…

"Giang" (扛) có nghĩa gốc là nâng vật nặng bằng cả hai tay (Thuyết văn giải tự); hai người cùng nâng lên để vác (lưỡng nhân đối cử vi giang (Hậu Hán Thư. Phí Trường Phòng truyện) hoặc một nhóm người cùng khiêng, vác. Ví dụ: bốn người lính cõng ông ấy trên lưng lừa (tứ cá binh bả tha giang đáo lư bối thượng).

c. Ông Hoàng cho rằng “Chữ “đểu” trong “đểu cáng” (tính từ) với nghĩa xỏ xiên, lừa đảo, bất chấp đạo lí (đồng nghĩa ba que, đểu giả, xỏ lá), lại là một từ Việt gốc Hán vốn là chữ điêu 刁, có nghĩa là gian lận, điêu ngoa, xảo trá”…: “Còn chữ “cáng” trong “đểu cáng” (tính từ),… cũng là từ Việt gốc Hán vốn từ chữ “cang” 亢 nghĩa là cao ngạo, vô lễ”.

Xin thưa, đâu thể đem những từ có nghĩa tương tự trong hai ngôn ngữ đặt cạnh nhau rồi cho rằng từ này (“đểu cáng”) có gốc từ từ kia (“điêu cang"). Những nghĩa mà Hoàng Tuấn Công dẫn chứng là nghĩa hiện nay, còn nghĩa gốc của “điêu” (刁) và "cang" (亢) thì hoàn toàn khác, cũng giống như sự chuyển nghĩa của “đểu cáng” (người khuân vác) thành “đểu cáng” (kẻ xấu) vậy. Nói cụ thể hơn, điêu (刁, diāo), có nghĩa gốc là một thiết bị quân sự cổ xưa, đó là một chiếc xô nhỏ có tay cầm, ban ngày dùng để nấu, ban đêm dùng để gõ khi đi tuần tra, về sau mở rộng nghĩa là xảo quyệt và lừa đảo. Còn "cang" (亢, kàng, gāng, háng) có nghĩa gốc là cổ, hoặc phần trước của cổ hay cổ họng, nghĩa hiện tại là sự kiêu ngạo.

d. Hoàng Tuấn Công kết luận: “có hai từ điêu cang/đểu cáng vốn hoàn toàn độc lập về nghĩa: 1. Điêu cang 挑扛→đểu cáng (..., gọi là “đểu cáng 1”), chỉ những người khiêng gánh, mang vác thuê. 2. Điêu cang 刁亢→đểu cáng (…, gọi là “đểu cáng 2”), có nghĩa xỏ xiên, lừa đảo, bất chấp đạo lí đồng nghĩa với từ ba que, đểu giả, xỏ lá. Do không hiểu nghĩa gốc của “đểu cáng 2”, nên người ta suy diễn cho rằng, nó xuất phát từ nghĩa của “đểu cáng 1” mà thành, và nghĩ oan cho những người làm nghề “đểu cáng”-gánh thuê”.

Chúng tôi rất bất ngờ trước sự suy diễn và áp đặt từ nguyên của nhà nghiên cứu này. Chúng tôi cho rằng “đểu cáng” không liên quan gì với hai từ ghép “điêu cang” (挑 扛) và “điêu cang” (刁亢). Bởi vì, khi gõ hai từ ghép 挑 扛 và 刁亢 vào ô tìm kiếm của Google, chúng tôi chưa thấy từ điển Hán ngữ nào định nghĩa hai từ ghép này như hai tổ hợp từ đẳng lập, vậy làm sao có thể cho rằng chúng là nguồn gốc của từ “đểu cáng” trong tiếng Việt?

Theo chúng tôi, “đểu” và “cáng” là hai từ Việt, thể hiện bằng những chữ Nôm là "đểu" (搗) và "cáng" (綱,杭), tất cả đều mượn từ Hán ngữ, trong đó, "đểu" mượn từ chữ "đảo" (搗), còn "cáng" mượn từ chữ "cương" (綱) và "hàng" (杭). "Đểu cáng" có nghĩa xưa là “phu khiêng, ngày nay gọi bọn vô loại”– (Giúp đọc Nôm và Hán Việt của Anthony Trần Văn Kiệm). Nếu có nguồn gốc từ "điêu cang" (挑 扛 và 刁亢) thì tại sao người Việt xưa không mượn những chữ này để tạo ra chữ Nôm “đểu cáng”, mà phải mượn từ những chữ Hán khác?

Vương Trung Hiếu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...