Tôi sẽ lần lượt đặt ra một vài câu hỏi, tự khắc sẽ lộ ra những nhầm lẫn địa danh của các tiến sĩ trong bài thơ này.
1- NGUYỄN DU GẶP CÔ CẦM LẦN ĐẦU TẠI THỜI ĐIỂM LỊCH SỬ NÀO?
Tác giả viết: “Mùa xuân năm nay tôi lại phụng mệnh sang sứ Trung Quốc, đi qua Long Thành. Các bạn mở tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ...”
Như vậy, Nguyễn Du gặp cô Cầm lần thứ hai vào năm 1813. Từ đó suy ra cuộc gặp gỡ lần đầu, theo ông nói là khoảng hai mươi năm trước, tức là vào khoảng năm 1793.
Giai đoạn lịch sử 1793: Tây Sơn năm thứ 6, nhà Lê tan rã (1787), thành Thăng Long bị Nguyễn Huệ phá tan hoang trước khi kéo quân về Phú Xuân (1788). Giai đoạn lịch sử trước nữa, dinh thự của họ Nguyễn Tiên Điền ở phường Bích Câu bị Kiêu binh đập phá tan tành từ năm 1784, Nguyễn Khản cũng đã mất năm 1786. Tức là thời điểm 1793, nhà cửa không còn, kinh đô không còn, làm sao mà Nguyễn Du có thể ngồi nghe hát tại thành Thăng Long được?
Tản mạn về nỗi gian truân của Ca trù. Từ đời Hồng Đức, Quốc triều hình luật nhà Lê đã có điều luật cấm quan chức lập hôn thú với ả đào, dù là lấy làm thiếp, hay con hầu cũng bị phạt bảy mươi trượng và bị lưu đày. Lại có lệ cấm hà khắc, con nhà xướng ca không được tham gia khoa cử. Các bộ Đồng văn, Nhã nhạc chỉ khi tế giao, hay đại lễ mới dùng đến, dẫn đến phường hát trở nên thất nghiệp, tản mát trốn tránh về các vùng quê, dấu diếm lai lịch.
Đào Duy Từ lúc bấy giờ tư chất thông minh, tài trí hơn người, nhưng vì thân phận con cái giáo phường nên không được ứng thi, nên đã không cam tâm. Ông bất mãn vì luật lệ hà khắc, đã quyết định vượt đèo Ngang, bỏ chúa Trịnh theo chúa Nguyễn. Đến cuối đời nhà Lê, thì chỉ còn những ả đào già mới hát được các làn điệu trong cung (Theo “”Vũ trung tùy bút”, “Ca trù biên khảo”). Chính Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ sau này, khi được bổ làm Tổng đốc tỉnh Đông (Nam Định, Hải Dương), do mê hát, đã về Cổ Đạm quê ông, tìm lại những cô đào già, đem ra Bắc. Ông tự viết lời và sai các cô đào già dạy lại lớp trẻ, phục dựng lại dòng hát Ca trù ở đất Bắc. Đó là một trong những lý do nhân dân ở xứ tỉnh Đông cho đến nay, hàng năm vẫn đội lễ về làng Cổ Đạm ở Hà Tĩnh để giỗ tổ nghề hát và giỗ Nguyễn Công Trứ. Khi Gia Long lập ngôi, đã truyền tuyển 50 giáo phường từ hai tỉnh Thanh – Nghệ vào làm đội nhạc lễ trong triều (theo Đại Nam thực lục).
Sơ qua lịch sử Ca trù, để phụ ghi thêm nội dung bàn luận. Thời điểm năm 1793, Thăng Long không còn là nơi phồn hoa như các tiến sĩ tưởng nhầm.
VẬY KINH ĐÔ MÀ NGUYỄN DU GẶP CÔ CẦM LÀ KINH ĐÔ NÀO?
Như đã nói, lúc này Nguyễn Khản đã mất, nên người anh còn lại mà có khả năng đón đào nương về hát múa chỉ có Nguyễn Nễ mà thôi (hiện tôi chưa tìm được thông tin nào trong chính sử nói về chuyện làm quan triều Tây Sơn của Nguyễn Nễ, cho nên chỉ căn cứ được vào chính thơ của Nguyễn Du kể chuyện về anh mình để biết Nguyễn Nễ làm quan tại Phú Xuân). Tại bài thơ chữ Hán: “Hoạ Hải Ông Đoàn Nguyễn Tuấn, Giáp Dần phụng mệnh nhập Phú Xuân kinh”, có câu:
“Lần nay ông vào, gặp anh tôi có hỏi
Nhờ nói lại rằng tôi đang ở bước đường cùng và tóc đã lốm đốm bạc”.
Giáp Dần, tức năm 1794. Như vậy là trùng với thời điểm Nguyễn Du vào thăm anh tại Phú Xuân. Nghĩa là Nguyễn Du gặp cô Cầm lần đầu tiên tại kinh đô Phú Xuân, chứ không phải tại Thăng Long và gặp khi cô Cầm đã hai mốt tuổi và Nguyễn Du cũng đã hai chín, ba mươi tuổi rồi, chứ không phải “thời niên thiếu” như một số tiến sĩ dịch thuật rõ ràng là gượng ép, nếu không muốn nói là bịa đặt?
Thành quách suy tàn, việc người đã khác
Nương dâu nhiều nơi biến thành biển cả
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan rồi
Sót lại đây còn người múa ca.
Trăm năm như chớp mắt có là bao
Cảm thương chuyện cũ lệ thấm áo
Tôi từ phương Nam trở lại, đầu cũng đã bạc trắng
Chẳng trách nhan sắc người đẹp tàn phai
Đôi mắt trừng trừng không tưởng tượng
Thương thay đối mặt mà chẳng nhận ra nhau
“Nương dâu biến thành biển cả” là chuyện quê Tiên Điền của Nguyễn Du, chứ Thăng Long làm chi có biển? Thành quách Tây Sơn suy tàn thời cũng chỉ có ở Vinh chứ làm gì mà ở Thăng Long được?
VẬY LONG THÀNH LÀ CHỐN NÀO SAU HAI MƯƠI NĂM GẶP LẠI?
Sách “An Tĩnh cổ lục” – Le Breton chép:
“Các nhà biên soạn cuốn Đại Nam nhất thống chí có thiếu sót lớn là bỏ qua những điều này. Trong những thời kỳ xa xưa, Lam Thành đã mang tên là Long Thành. Nhưng từ khi Lê Lợi chiếm được Lam Thành (1423), nhân dân An-Tĩnh đã đặt tên cho sông này là sông Lam, và cũng từ đó, các quốc sử của các triều đại vẫn gọi là Sông Lam. Năm Minh Mạng thứ 17 (1837), người ta đã chạm hình ảnh của sông Lam và các núi non bao quanh con sông vào một cái đỉnh đặt trước Thế miếu trong thành nội ở Huế; đỉnh này gọi là Tuyên. Và năm thứ 21 cũng thời Minh Mạng, sông Lam được liệt vào những con sông đẹp nhất của An Nam...”
Tác giả “Ca trù biên khảo” cho rằng bữa tiệc xảy ra tại dinh cơ của quan Tổng trấn Bắc Hà Nguyễn Văn Thành càng không đúng? Nguyễn Văn Thành về Huế lãnh ấn Trung quân từ năm 1810. Hơn nữa Nguyễn Du nói rõ là tiệc do quan Tuyên phủ tổ chức, chứ không phải quan Tổng trấn? Vậy thì người tổ chức cuộc chào đón này chỉ có thể là quan Tuyên phủ Đức Quang, vị quan nơi quê nhà Nguyễn Du mà thôi.
Tản mạn về nhân tài đất Nghi Xuân, đâu chỉ có Nguyễn Công Trứ mới là tay chơi. Cha con, anh em nhà họ Nguyễn Tiên Điền cũng là tay chơi hào hoa bậc nhất kinh thành Thăng Long một thủa, lịch sử ghi chép còn rành rành ra đó. Gia trang nhà Nguyễn Nghiễm ở phường Bích Câu bấy giờ có tới một trăm hai mươi hầu gái, thì mức độ xa hoa có thua gì ai đâu. Khác chăng là tham vọng quyền lực không đến độ tiếm quyền vua mà thôi. “Đêm hội Long Trì”, hàng quan lại chỉ có mình Nguyễn Khản được ngồi cạnh chúa. “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ dành nguyên một bài viết về “Nhà họ Nguyễn ở Tiên Điền”. Có đoạn:
“... Khi chúa Trịnh thưởng ca, thường sai Nguyễn Khản ngồi hầu. Ông được đội khăn lương, mặc thường phục, ngồi ngay bên cạnh, cầm chầu điểm hát. Những ngày rỗi, chúa Trịnh lên ngự chơi hồ Tây, kẻ thị thần vệ sĩ bày hàng quanh cả bốn mặt hồ, nhà chúa chỉ cùng bà Đặng Tuyên Phi ngồi trên thuyền, mà Nguyễn Khản thì ngồi hầu ngang trước mặt, cùng thưởng lãm, cười nói, không khác gì bạn bè, người nhà. Trong cung có bày bể cạn, núi non bộ và cảnh hoa đá gì, đều phải qua tay ông Nguyễn Khản chăm sóc, thì mới vừa ý chúa. Nhà chúa lại thường sai ông đi sửa sang các hành cung ở Châu Long, Tử Trầm, Dũng Thúy. Ông có tài đục nặn núi đá, vẽ vời phong hoa, nên thường được nhà chúa ban khen. Ông lại thích nghề hát xướng, sành âm luật, thường đặt những bài hát điệu nhạc phủ, làm ra điệu hát mới; viết xong bài nào, thì những nghệ sĩ ngoài giáo phường tranh nhau truyền tụng. Ta có câu thơ rằng: “Án phách tân truyền lại bộ ca” (nghĩa là gõ phách truyền tụng bài hát mới của quan lại bộ) chính là chỉ việc ấy...”
Cho nên, Nguyễn Du xuất thân đâu chỉ có là con nhà nòi về văn võ, về quan trường, mà còn là nghệ sĩ con nhà nòi nữa. Nghe mà nhận ra tay đàn của hai mươi năm trước, thì chỉ có người sành nhạc mới là.
Năm cung réo rắt theo ngón tay đàn mà đổi điệu
Tiếng khoan như gió thoảng qua rừng thông
Tiếng trong như đôi chim hạc kêu lúc canh khuya
Tiếng mạnh như sét đánh tan bia Tiến Phúc
Tiếng buồn như Trang Tích rên rỉ bằng tiếng Việt lúc ốm đau
(Long Thanh Cầm giả ca – bản dịch nghĩa Nguyễn Quảng Tuân)
Đem so sánh với tiếng đàn Thúy Kiều, sẽ thấy tiếng đàn Thúy Kiều thực chất là tiếng đàn của cô Cầm. Còn như tiếng đàn cô Vương Thúy Kiều ở triều Minh bên Trung Quốc, người Việt Nam chả ai biết được nó ra sao?
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới sa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa
(Truyện Kiều thơ Nôm- Nguyễn Du)
Và đây nữa, chẳng phải là sắc đẹp và thân phận nàng Kiều sao?
Như cánh hoa thắm từ cõi tiên xuống,
Sắc đẹp uyển chuyển làm rung động cả Lục Thành (1)
Thiên hạ ai kẻ thương người bạc mệnh?
Dưới mồ, chắc cũng hối hận cho kiếp phù sinh.
Lúc sống, phấn son không rửa được nghiệp chướng,
Chết rồi chỉ để lại tiếng gió trăng mà thôi.
Chắc nghĩ rằng trên đời không ai hiểu được mình,
Nên xuống suối vàng làm bạn với ông Liễu Kỳ Khanh
(Điếu La Thành giả ca – Bản dịch nghĩa Quách Tấn )
Một thói quen không chỉ riêng Nguyễn Du, mà dường như một trăm phần trăm nho sĩ Việt Nam từ xưa cho đến bây giờ vẫn vậy, đó là cứ hễ có một nhân vật, một điển tích ở Việt Nam, thì ngay lập tức phải tìm một nhân vật, một điển tích nào đó tương tự ở bên Trung Quốc để so sánh. Cách đây dăm sáu năm, tôi đã từng lên tiếng về thói quen nô lệ này. Thiết nghĩ, nho sĩ xưa vì bị đầu độc ngay trong giáo dục mà nên nỗi, nho sĩ đời nay của nước Việt Nam độc lập, lại vẫn muốn tự nguyện làm chư hầu hay sao? Thơ của Nguyễn Du rất nhiều tích truyện Trung Quốc. Đây là do giáo dục thời xưa ở nước chư hầu. Sách văn, sách sử Việt Nam bị nhà Minh đốt sạch và bắt ép phải học sử sách Trung Hoa. Nguyễn Du mượn danh Vương Thúy Kiều Trung Quốc, nhưng nơi chốn lại là “Xăm xăm đè nẻo Lam cầu lần sang”, năm rõ mười từng có một nàng Kiều tại Nghệ An “Xuân sắc yên nhiên động Lục Thành” và cả cầu Lam nữa. đều là những địa danh trong lịch sử Nghệ An. Quách Tấn dịch “Lục Thành” là “sáu thành”, có lẽ vì ông không biết ở Nghệ An có địa danh Lục Thành. Lục Thành tên đầy đủ là Lục Niên Thành, là kinh đô sáu năm kháng chiến chống quân Minh tại đất Lam Sơn (Nghệ An) của Lê Lợi.
Đến triều Tây Sơn, Lục Thành là thư viện quốc gia Đại Việt do La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đứng đầu. “Điếu La Thành giả ca” là câu trả lời như vậy. Nàng Kiều ở Lục Thành cũng đồng triều đại nhà Minh. Cho nên tiến sĩ nào đồng thuận ý kiến với ông Đổng Văn Thành, chẳng qua là yếu kém về môn lịch sử Việt Nam, đọc thơ Kiều mà lại chẳng thấu hiểu nỗi lòng Nguyễn Du. Tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện – Thanh Tâm Tài Nhân” chẳng qua là một cuốn sách viết lại theo nội dung Truyện Kiều thơ Nôm của Nguyễn Du!
Nỗi niềm tưởng đến mà đau (109)
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm (384)
Bấy nhiêu đủ để chỉ ra sự nhầm lẫn không chỉ địa danh, mà nhầm lẫn nhiều nội dung khác, tôi sẽ còn tiếp tục phản biện ở đề tài “Hành trạng cô Kiều”. Dưới đây là nguyên bản chữ Hán và bản dịch bài “Long Thành Cầm giả ca” của nhà Kiều học Nguyễn Quảng Tuân Tôi có sửa chữa một vài chỗ theo sự hiểu biết của cá nhân. Cụ thể:
Hồ giám tôi viết thường chứ không viết hoa, vì thực chất không phải tên riêng của hồ, mà là hồ trước nhà giám trong đại nội Huế. Hoặc câu dưới đây:
Khí hào hoa lấn lướt bậc vương hầu
Bọn thiếu niên đất Ngũ Lăng chi sá kể
Tưởng đem ba mươi sáu cung xuân
Đổi ngang bảo vật vô giá đất Trường An
Xem qua cả bài thì tôi hiểu, Nguyễn Du sử dụng một số điển tích của Trung Quốc để so sánh: Sét đánh bia Tiến Phúc, Trang Tích lúc đau ốm rên rỉ tiếng Việt, bọn thiếu niên chơi bời ở đất Ngũ Lăng. Và Trường An này là bên Trung Quốc, chứ không phải Tràng An ở Ninh Bình. Tôi không hiểu báu vật ở đất Trường An (Trung Quốc) là gì, nhưng câu chữ rõ ràng là Nguyễn Du muốn so sánh tiếng đàn của cô Cầm quý giá hơn cả bảo vật được coi là vô giá ở bên Trung Quốc.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét