Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2024

Căn tính dân tộc Tày trong thơ về đề tài miền núi (ThS. Phạm Khánh Duy)

Mỗi người nghệ sĩ đều mang trong mình căn tính dân tộc. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Vì thế, khái niệm căn tính dân tộc được hiểu là những giá trị cốt lõi, là cội nguồn, gốc rễ của một dân tộc (như Kinh, Hoa, Khmer, Tày, Nùng...) nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung. Căn tính dân tộc giúp cho người nghệ sĩ thể hiện màu sắc cá nhân, bản sắc văn hoá riêng của cộng đồng dân tộc mình, là “dấu chỉ” để độc giả tìm về nguồn cội trong thời buổi hội nhập văn hoá.

Đọc thơ về đề tài miền núi, trong đó có thơ của người Tày, ta bắt gặp trong những trang viết là bản sắc văn hoá, hồn cốt dân tộc, những phẩm chất quý báu, đáng trân trọng của những người được sinh ra và lớn lên trên đá núi. Chiều sâu của những giá trị quý báu đó chính là căn tính dân tộc ăn sâu vào máu thịt của mỗi người.

Quá trình trưởng thành của mỗi nhà văn, nhà thơ đều gắn liền với một không gian văn hoá nhất định. Những giá trị vô hình đó đã trở thành tài sản chung, niềm tự hào của cả cộng đồng. Bản sắc văn hoá dân tộc đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận đối với người nghệ sĩ, chất liệu sống động trên từng trang viết. Nhắc đến thơ ca đương đại viết về đề tài miền núi, không thể không kể đến Dương Khâu Luông - nhà thơ người dân tộc Tày, người thao thiết với bản sắc văn hoá của dân tộc mình, dù viết về vấn đề gì đi nữa thì đề tài cuộc sống và con người miền núi cao Việt Bắc cũng chính là tâm điểm. 

Hơn 2/3 tập thơ Gió thơm miền thổ cẩm (Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, 2023) của anh là thơ ca viết về người Tày, về Bản Hon - một vùng quê đầy trầm tích văn hoá, dấu ấn lịch sử thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; cũng là quê hương của Dương Khâu Luông. Trong một bài thơ tự thuật chỉ vỏn vẹn 4 dòng, bằng những dòng thơ dung dị, mộc mạc, Dương Khâu Luông đã giới thiệu đến độc giả Bản Hon mình với tình yêu tha thiết: “Bản Hon tôi bạn đã đến chưa?/ Căn nhà sàn bốn mái ở đầu bản - chính là nhà tôi đó/ Nơi gắn bó với tôi từ nhỏ/ Nơi đi xa bốn phương trời - không nguôi nỗi nhớ thương” (Bản Hon tôi).

Thơ Dương Khâu Luông mở ra thế giới tràn ngập sắc màu, như những hoạ tiết sặc sỡ trên tấm thổ cẩm được thêu dệt từ tay của người miền núi khéo léo. Đọc thơ anh, ta bắt gặp hình ảnh của những ngôi nhà sàn của người Tày cheo leo trên triền núi: “Ngôi nhà sàn bình dị, thân thương/ Lặng lẽ nét xưa của người Tày vốn có” (Nhà sàn bản Tày); những hội hè sôi động trên miền non cao rừng thẳm: “Hàng năm đến mùng Tám, tháng Giêng/ Hội xuân ở bản Hon lại mở/ Người đi gần đi xa đều nhớ/ Đến hội xuân đón lộc cầu may” (Hội xuân Bản Hon); những món ăn dân dã của người dân tộc Tày từ thuở nào đã nuôi lớn anh cả về thể xác lẫn tâm hồn như bánh cỏ: “Bánh được làm từ cỏ/ Đâu có cao sang gì/ Lá, hoa nơi bờ ruộng/ Cùng với gạo nếp quê” (Bánh cỏ Bản Hon), cơm lam và rượu ngô: “Cơm lam từ tay mẹ/ Bánh trời từ tay em/ Và rượu ngô cha nấu/ Thơm thảo tình quê hương” (Quê tôi); điệu hát then mà người Tày bao đời ngân nga thổi hồn cho núi đá: “Quê tôi thật bình dị/ Như tiếng lượn, câu then/ Ngàn đời nay vẫn hát/ Ngân tiếng lòng yêu thương” (Quê tôi)... Không cầu kỳ, hoa mỹ, thơ Dương Khâu Luông nấn níu lòng người bởi sự mộc mạc, nhẹ nhàng, dung dị như chính con người anh, như chính phẩm chất đáng trân trọng của người Tày. Bước vào “miền thổ cẩm” của anh, tôi ngỡ như mình đang lạc giữa Bản Hon mà anh yêu say đắm, cảm nhận trọn vẹn những phong vị độc đáo của dân tộc Tày, từ đó thêm quý mến và trân trọng anh hơn.

Cùng là những vần thơ thoát thai từ một miền văn hoá đặc sắc và căn tính dân tộc trong sâu thẳm tâm hồn người nghệ sĩ, song thơ Hoàng Thị Yến (Muồng Hoàng Yến) lại hấp dẫn người đọc bởi chất nữ tính của người phụ nữ Tày. Thơ chị tinh tế và duyên dáng trong từng con chữ, từng hình ảnh mà chị chắt lọc và đưa vào trang viết. Đọc thơ Muồng Hoàng Yến, tôi nghe vang vọng bên tai mình thanh âm dìu dặt của đàn môi, điệu hát then, thấp thoáng trước mắt mình sắc váy áo rực rỡ của những cô gái Tày nô nức trẩy hội: “Xúng xính váy hoa/ Trời xuân đẹp quá/ Ai cũng rộn rã/ Xuống hội Lồng Tồng”, “Nghe tiếng đàn môi/ Vọng vang vách núi/ Đầy trong những túi/ Quả còn tung tăng” (Vui hội). 

Không dừng lại ở việc tái hiện cảnh sắc thiên nhiên hữu tình của một trong sáu tỉnh Việt Bắc từng là căn cứ địa cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm ấy, hay những giá trị văn hoá của người Tày, Muồng Hoàng Yến còn đưa vào thơ ca phương ngữ của dân tộc Tày, những cách gọi, cách nói thân thương, bình dị mà thấm tình đượm nghĩa. Hồi tưởng về những ngày thơ bé theo “mé” ra thăm những thửa ruộng bậc thang, chị viết: “Mé bảo nhà mình nhiều ruộng/ Con đếm được nhiều bờ/ Bờ cao, bờ thấp/ Bờ đợi nước/ Bờ chờ mưa” (Thửa ruộng bằng bước chân); hay nhớ lại thuở ấu thơ lon ton đi mua rượu cho “pá”, chị mở đầu bài thơ bằng niềm vui sum vầy:“Mỗi lần bảo/ Mua rượu cho pá/ Con vui vì sẽ được nhận quà/ Pá cho tiền mua kẹo, mua kem” (Mua rượu cho pá) và kết thúc bằng nỗi buồn mất mát, gợi những xốn xang trong lòng người đọc: “Khi pá mất/ Mọi người đến chia buồn/ Lại đem rượu ra uống”. Đến đây ta cũng đủ hiểu Muồng Hoàng Yến là người phụ nữ sống chí nghĩa chí tình, biết trân trọng niềm vui, niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, luôn truyền tải những thông điệp và năng lượng tích cực nhất cho độc giả.

Là nhà thơ thuộc thế hệ 9X (đời đầu), Phùng Thị Hương Ly - nữ sĩ người dân tộc Tày cũng đem đến cho thơ ca về đề tài miền núi sức sống mới. Thơ chị có sự tươi trẻ, cùng những cảm nhận có chiều sâu về cuộc sống và con người không chỉ ở quê hương chị mà trên khắp đất nước. Không khó để bắt gặp một giọng thơ hoà quyện giữa cội nguồn truyền thống và con người hiện đại trong thơ Phùng Thị Hương Ly. Trưởng thành trên, quê hương Bắc Kạn giàu truyền thống, tiếp thu những giá trị tốt đẹp của cộng đồng và những nỗ lực rèn luyện, trau dồi lối sống và lý tưởng thẩm mỹ... Phùng Thị Hương Ly đã nối tiếp xuất sắc dòng thơ viết về đề tài miền núi, về bản sắc văn hoá dân tộc Tày và thổi vào trang viết mỹ cảm hiện đại, sáng tạo. 

Nhẹ nhàng thủ thỉ, tươi trẻ và thâm trầm, chị tự hào kể cho người đọc nghe vẻ đẹp của quê hương mình, những đức tính đẹp đẽ của người Tày, tuy cuộc sống khó khăn, vất vả nhưng họ vẫn không ngừng nỗ lực, ước mơ, hy vọng. “Những ngón tay nóng rẫy/ con đường đi ra từ dấu chỉ ráp thô/ người canh nương nhóm lên bóng tối/ xù xì phiến đá/ đào nở hoa trên áo bông chần gài khuy ẩn/ lúc này là ấm nước sôi/ là sương hay mây trôi/ ngang qua cuộc gạn lọc mình/ dấu chỉ tay hằn rõ hơn/ về những bắp chân căng nắng/ trùng trùng vượt sông núi/ xanh thẳm không nguôi” (Người canh nương) - những dòng thơ tự do, khoáng đạt và bay bổng, con người tưởng chừng bé nhỏ và cơ cực nhưng lại là “nhân vật chính” của bức tranh thơ. Hình ảnh người canh nương, người lao động miền núi hiện ra trong thơ chị chân thật và xúc động bằng cảm hứng ngợi ca, tình yêu thương và tấm lòng tri ân sâu sắc. 

Bởi chính họ đã kiến tạo văn hoá, hình thành nên bản sắc dân tộc Tày từ thuở sơ khai. Nguồn cội quê hương là linh hồn, cảm thức hiện đại là đôi cánh nâng đỡ những vần thơ Phùng Thị Hương Ly, truyền thống và hiện đại - hai yếu tố tưởng chừng đối lập lại hoà hợp đến diệu kỳ trong thơ chị: “Mặt trời nhìn người Tày thương nhau/ Mái ngói âm dương mưa nắng chụm đầu/ Lòng khắc ghi lời tiên tổ/ Xà tích qua bản còn vọng thổ âm/ Vòng bạc đơm hoa trên cổ cao ba ngấn” (Bài ca của núi). Điều đáng nói là thơ chị luôn hướng về nguồn cội, có lẽ đó cũng là lời chị tự nhắc mình và độc giả phải giữ lấy “căn cước dân tộc” của mình trong bối cảnh con người dễ dàng “bật gốc”.

Từ thế hệ của Nông Quốc Chấn, Y Phương, Nông Thị Ngọc Hoà... đến Dương Khâu Luông, Hoàng Chiến Thắng, Muồng Hoàng Yến... và thế hệ thơ trẻ như Phùng Thị Hương Ly là một quá trình kế thừa và phát triển không ngừng của thơ ca viết về đề tài miền núi của người dân tộc Tày. Trong suốt quá trình đó, căn tính dân tộc Tày vừa là điểm quy chiếu, vừa là hệ giá trị quý báu trong thơ của các tác giả. Căn tính dân tộc Tày trong thơ là minh chứng cho tình yêu, niềm tự hào mãnh liệt của người Tày về quê hương và cộng đồng, sự nâng niu, trân quý các giá trị truyền thống mà cha ông đã tạo tác, cùng khát vọng đưa bản sắc văn hoá của dân tộc Tày bay cao và bay xa trong không gian văn hoá đa dân tộc của Việt Nam.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...