Cách đây hơn 20 năm, người cựu chiến binh từng tham gia cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc - nhà thơ, nhà báo Huỳnh Kim ra mắt tập thơ “Mong manh” (Nhà xuất bản Trẻ, 2004). Hai mươi năm, khoảng thời gian có hằng sa số các tác phẩm chìm sâu dưới dòng sông văn chương, ấy vậy mà “Mong manh” của Huỳnh Kim vẫn nằm ở vị trí trang trọng trong tủ sách của nhiều bạn văn, nhất là những người đồng cảm, thấu hiểu và chia sẻ với hành trình mà một người lính đã trải qua.
Huỳnh Kim sinh năm 1956, ở một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ: Quảng Nam, sau đó ông vào Sài Gòn tự lập từ năm 13 tuổi. Năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, những tưởng cả dân tộc sẽ hân hoan trong niềm vui chiến thắng, thế nhưng tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary đã thực hiện những hành động gây hấn ở biên giới Tây Nam nước ta, giết chóc nhiều đồng bào, phá huỷ nhiều làng mạc. Một cuộc chiến tranh nữa lại nổ ra - chiến tranh biên giới Tây Nam. Khi ấy Huỳnh Kim còn là chàng trai trẻ khoác áo lính lên đường ra mặt trận (1976). Từ chinh chiến ở biên giới Tây Nam sang đất Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, Huỳnh Kim tiếp tục bước vào cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Chiến tranh và đời lính đã trở thành một vệt ký ức khó phai, xót xa, đau thương mà cũng thật vẻ vang, hào hùng trong tâm khảm nhà thơ - nhà báo Huỳnh Kim.
“MONG MANH” - NHỮNG KÝ ỨC CHIẾN TRANH
Không khó để hiểu vì sao những người lính làm thơ lại ưu ái cho đề tài chiến tranh và người lính nhiều đến vậy. Bởi lẽ họ có những năm tháng xông pha ở chiến trường, kinh qua chiến tranh nên có những trải nghiệm nhất định, chân thật và sống động. Hơn thế nữa, dù may mắn sống sót trở về từ chiến trường với một cơ thể vẹn nguyên lành lặn hay gửi lại vùng đất nóng một phần cơ thể quý giá của mình, thì trong tâm hồn của bất kỳ người lính nào cũng in hằn những vết thương sâu xoáy.
Len lỏi trong “Mong manh” là những bài thơ viết về chiến tranh và người lính, có những bài thơ được Huỳnh Kim ghi vội trong những khoảnh khắc “ngồi lau súng” ở chiến trường; có những bài thơ là dòng hồi tưởng về một thời đã qua, khi Huỳnh Kim đã trở về từ chiến trường khói lửa.
Chiến tranh hiện lên trong thơ Huỳnh Kim với những dáng dấp rất khác. Trải qua hai cuộc chiến tranh, hơn ai hết, Huỳnh Kim hiểu rõ tính chất khốc liệt của chiến tranh và những thương tổn, mất mát mà chiến tranh đã gây ra cho triệu người vô tội. Diện mạo chiến tranh hiện ra đầy ám ảnh trong thơ Huỳnh Kim, với những thi hài, máu, chiếc quan tài, họng súng...
“Chiếc xe Gát chở thi hài người lính lao điên cuồng xuống Hà Giang trên con đường độc đạo bị nã pháo suốt ngày đêm”
(Chiến tranh và tôi)
Và cảnh bình yên của quê hương bị phá vỡ bởi bom đạn quân thù:
“Nơi đây tràn trền thế đất/ Bao năm rồi chẳng bình yên/ Pháo giặc bắn sang từ hướng Bắc/ Trụi trần đất đá Vị Xuyên”
(Trên điểm tựa một ngàn)
Thế nhưng không phải lúc nào Huỳnh Kim cũng viết về chiến tranh bằng những vần thơ bỏng rát. Không biết có phải vì chút lãng mạn, mộng mơ và cái nhìn lạc quan của tuổi trẻ hay không mà rất nhiều trang viết về chiến tranh của Huỳnh Kim nhẹ nhàng, thâm trầm, sâu sắc. Đặc biệt, khi xây dựng hình tượng người lính (đồng đội hoặc bức chân dung tự hoạ của nhà thơ), Huỳnh Kim không đặt người lính trong cảnh lửa loạn của chiến tranh, trong khoảnh khắc sinh tử khi đối mặt với quân thù, cũng không thiên về ngợi ca phẩm chất anh hùng, kiêu dũng, tráng kiện của người lính. Nhà thơ đi sâu vào đời sống tâm hồn của các anh, thể hiện những ước muốn bình dị và “rất người” của anh bộ đội. Đó là nỗi nhớ người yêu giữa mùa khô ở chiến trường xa xôi:
“Mùa khô vẫn thì thào đong đưa/ Đốt cháy bao đêm trường cách biệt/ Anh thì thầm nhớ em trong vuông cỏ biếc/ Em hỏi anh hoàng hôn hay bình minh/ Mà khao khát đợi chờ cơn mưa hồi sinh”
(Khúc mưa)
Hay khi làm việc trong doanh trại, nhà thơ vẫn để tâm hồn mình bay bổng theo mưa, cảm nhận cái buồn thăm thẳm của mưa và mường tượng một bóng hình thiếu nữ cho tim mình ấm lại:
“Mưa buồn quá/ Em/ Mưa buồn quá/ Ta áo xanh/ Cỏ đã úa/ Trong nhà/ Em áo trắng/ Ngoài hiên/ Lạnh giá/ Gần kia/ Mà buồn ơi/ Mưa xa”
(Trong doanh trại)
Suy cho cùng, Huỳnh Kim cũng chỉ là một trong triệu người bất đắc dĩ bị ném vào vào xoáy của chiến tranh, giữa những âm thanh cuồng nộ, thét gào, thù hận. Bằng giọng điệu mang tính triết lý và tự vấn, Huỳnh Kim bày tỏ những trăn trở, băn khoăn của mình về chiến tranh, cũng như suy tư thân phận của mình giữa cuộc đời đầy nghịch lý:
“Trời ơi chiến tranh! Sao mi nỡ làm con dao hai lưỡi? Mi tôi luyện cho ta dũng cảm phi thường giữa trận đánh quyết tử sáng nay. Mi lại hoá ta lạnh lùng chai đá trước máu của chính bạn mình giữa chập choạng tối nay. Rồi đây hẳn là ta sẽ dạn dày trước kẻ ăn xin, trước người hát rong và trước cả mẹ của ta khi người đã già nua lâm trọng bịnh”
(Chiến tranh và tôi)
“MONG MANH” - TẤM LÒNG GẮN BÓ VỚI QUÊ HƯƠNG, XỨ SỞ
Đọc “Mong manh” của Huỳnh Kim, bên cạnh diện mạo của chiến tranh và người lính, ta còn bắt gặp vẻ đẹp của những vùng đất khác nhau trên đất nước, nơi mà Huỳnh Kim đã đến và cảm nhận. Và khi xa rời, những vùng đất đó đã trở thành nỗi nhớ sâu đậm của Huỳnh Kim.
Những bài thơ về đồng bằng sông nước chiếm phần nhiều trong tập thơ “Mong manh”. Viết về đồng bằng, Huỳnh Kim thể hiện thành công bức chân dung tự hoạ của mình - một gã lãng tử say sưa cùng sông nước, đắm mình trong vị ngọt ngào của phù sa và khoác lên mình tấm áo “giang hồ” đau đáu kiếm tìm một “em” nào trong tưởng tượng:
“Em áo trắng đêm Cần Thơ/ Tôi thành khách lạ ngu ngơ dọc đường/ Một rằng thương hai rằng thương/ Sao câu ca cứ vấn vương đôi bờ/ Thế rồi ta đã hẹn hò/ Đêm trăng sông Hậu con đò mênh mông/ Đò ơi đừng đưa sang sông/ Một người để một người trông một người”
(Cần Thơ em và tôi)
Từ sông Hậu, gã “giang hồ” ấy lênh đênh theo con nước đi về chợ nổi Cái Răng - một nét đặc trưng của vùng đất Cần Thơ. Chủ thể trữ tình đã phân thân thành “ta” và “em”, gắn bó với nhau trong không gian đậm chất văn hoá sông nước:
“Chợ đã nổi từ nửa đêm về sáng/ Ta vẫn chìm từ giữa bữa hoàng hôn/ Em treo bẹo Cái Răng Ba Láng/ Ta thương hồ Vàm Xáng Cần Thơ”
(Chợ nổi Cái Răng)
Với Huỳnh Kim, sông nước không chỉ là cảnh sắc tự nhiên mà còn là không gian của nhớ nhung, hò hẹn, không gian tâm tình lưu luyến vấn vương:
“Giữa gió đầy trời và sóng nước mênh mông/ Anh muốn ôm em và ru em ngủ/ Em co ro trong vòng tay Đất Mũi/ Anh rộng dài sông Cửa Lớn ru em”
(Nhớ sông)
Hình tượng “em” cứ thấp thoáng trong xuyên suốt tập thơ “Mong manh” của Huỳnh Kim. Về với cao nguyên lộng gió, nhà thơ lại có những kỷ niệm đẹp với “em” trong không gian đêm lãng mạn, tình tứ:
“Đêm đầu tiên bên nhau đêm cao nguyên/ Đêm thanh bạch giọt lệ buồn thanh bạch/ Đêm hồng hoang đôi tâm hồn trong sạch/ Đêm bao dung tay trong tay cô liêu”
(Đêm cao nguyên)
Hay khi đứng trên miền đất quan họ - Bắc Ninh, nhà thơ vẫn nhớ về “em” trong nỗi tiếc nuối vì chưa kịp làm quen trong ngày Hội rộn ràng, say đắm:
“Tôi chưa quen em ngày hội Lim/ Đến hội Thổ Hà bên nhau suốt buổi/ Uống rượu làng Vân xuống thuyền xem hát hội/ Cả mùa xuân vẫn không quen nhau”
(Nửa vầng trăng quan họ)
Ta tự hỏi phải chăng Huỳnh Kim đa tình đến thế, khi mà mỗi miền đất nhà thơ đi qua đều có một nàng thơ? Đào sâu vào thế giới thơ Huỳnh Kim, ta mới hiểu rằng “em” trong thơ Huỳnh Kim là hình tượng đa nghĩa, “em” không chỉ là bóng hồng nào đó mà nhà thơ gắn bó sâu đậm, đó còn là bóng hình của đất nước, quê hương luôn in sâu trong tâm khảm của Huỳnh Kim.
Thơ Huỳnh Kim là những trang viết nồng nàn hơi thở của chiến tranh, của cuộc sống. Những vần thơ có thể chưa phải là ánh sao vụt lên trên bầu trời thơ Việt Nam, nhưng vẫn tràn đầy sức sống và lấp lánh đâu đó trong tâm hồn của những người thấu hiểu, gần gũi và yêu quý nhà thơ - nhà báo Huỳnh Kim. 20 năm - kể từ ngày “Mong manh” ra đời - tôi, thế hệ trẻ chưa từng kinh qua chiến tranh lại thấy hiện ra đâu đó trước mắt mình hình ảnh của gã thi sĩ lãng du - người lính năm xưa đi trên mảnh đất nóng Campuchia hay những con đèo hùng vĩ ở biên giới phía Bắc, với những nỗi niềm riêng tư hoà cùng khát khao về một ngày không xa hai đầu biên giới Việt Nam sẽ không còn tiếng bom rơi đạn nổ.
PHẠM KHÁNH DUY

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét