Kết quả nghiên cứu của các tác giả sách chuyên khảo xuất bản trong vài năm gần đây (TS NguyễnThị Thu Thủy, Hoàng Việt luật lệ - Một cách tiếp cận mới, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019; TS Phạm Ngọc Hường, Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2021; LS Phan Đăng Thanh – LS Trương Thị Hòa, Nhân quyền của người Việt từ Bộ luật Hồng Đức đến Bộ luật Gia Long, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2023-2024)… đã góp phần làm sáng tỏ giá trị của Bộ luật Gia Long.
Các công trình nghiên cứu này tập trung khảo luận hướng theo từng lĩnh vực trọng tâm, từng bước bổ sung nhau, cùng góp phần làm sáng tỏ giá trị đích thực của Bộ luật Gia Long: Hoàng Việt luật lệ là bước phát triển trong tiến trình lịch sử lập pháp Việt Nam – không “mù quáng”, “chép nguyên văn” bộ luật nhà Thanh; cũng không hề xóa bỏ những điểm tiến bộ mang tính dân tộc của Bộ luật Hồng Đức…
TRẦN ANH TUẤN*
—————-
Trong lịch sử nước ta, Bộ luật Hồng Đức (tên chính thức là Quốc triều hình luật) của triều Hậu Lê ra đời vào nửa sau thế kỷ XV, từ lâu đã được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá cao, coi đó như “khuôn vàng thước ngọc” của nền pháp luật quân chủ Việt Nam. “Thật là cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép để buộc dân”⁽¹⁾… Nhưng đối với Bộ luật Gia Long (tên chính thức là Hoàng Việt luật lệ) của triều Nguyễn do vua Gia Long ban hành vào nửa đầu thế kỷ XIX, thì bị đánh giá thấp, có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Giới nghiên cứu hàng thế kỷ qua, thường nhận định Bộ luật Gia Long sao chép bộ luật Đại Thanh luật lệ của nhà Mãn Thanh bên Trung Quốc; đồng thời xóa bỏ tất cả những điểm tân kỳ, tiến bộ, mang tính dân tộc của Bộ luật Hồng Đức…
I. HÀNG THẾ KỶ QUA, BỘ LUẬT GIA LONG KHÔNG ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ CAO
Thời Pháp thuộc
1. Vào nửa cuối thế kỷ XIX, khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp thực hiện chủ trương “khai hóa văn minh” đối với người Việt. Đội quân viễn chinh Pháp, trong đó có một lực lượng các nhà Đông phương học, tìm cách làm sai lệch lịch sử dân tộc Việt Nam, phủ nhận sự tồn tại độc lập của nền văn minh truyền thống bản địa, dạy cho người Việt biết “khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình”⁽²⁾. Viên sĩ quan học giả Pháp P.L.F. Philastre (1837-1902) – người có công dịch Bộ luật Gia Long của vương triều Việt Nam - Đại Nam ra tiếng Pháp, xuất bản năm 1876, dưới nhan đề Le code annamite (Bộ luật An Nam) đã nhận định: “Nhà vua (Gia Long) đã mở ra một con đường mới dẫn dắt nòi giống An Nam đi đến một sự đồng hóa với nòi giống Trung Hoa ngày một hoàn toàn hơn (…). Bộ luật An Nam gồm các điều luật, chú giải và các điều lệ kèm theo điều luật, chẳng phải là cái gì khác hơn bộ luật Trung Hoa của triều Mãn Thanh, chỉ bỏ đi một số rất ít điều luật và vài điều luật khác – mà cũng rất hiếm – thì chỉ sửa đổi tý chút”⁽³⁾…
Về sau, dựa theo đó, một học giả Pháp khác G. Taboulet cũng đã viết: “Bộ luật Gia Long thực ra chẳng có gì là sáng tạo, mới mẻ, mà chỉ là sự mô phỏng các điều khoản trong luật Trung Hoa dưới triều Thanh”⁽⁴⁾.
2. Dưới thời Pháp thuộc, hầu hết các nhà trí thức tân học Việt Nam thường chịu ảnh hưởng sâu sắc của chính sách “khai hóa văn minh” của chế độ thực dân Pháp. Năm 1913, ở Hà Nội, nhà báo lớn Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), hội viên Hội đồng tư vấn Bắc kỳ, có lập trường chủ trương thần phục Pháp, chê Việt Nam mình, đã viết trên Đông Dương tạp chí do ông làm chủ bút: “Vua Gia Long bỏ Luật Hồng Đức đi, mà làm ra cả một pho luật mới chép tuốt cả của Tàu, cả từ điều nước mình có cho đến những điều mình không có, cũng bắt chước. Thành ra luật pháp cũng hồ đồ. Cương thường đạo lý toàn là giả dối hết cả, không có điều gì là có kinh có điển”.
3. Khi nói về học giả Trần Trọng Kim (1883-1953), nhà nghiên cứu Thụy Khuê (ở Pháp) đã nhận xét: “học giả họ Trần uyên thâm chữ Nho và chữ Pháp, tuy có đọc những bộ sử của nhà Nguyễn nhưng ông vẫn đặt niềm tin gần như trọn vẹn vào tài liệu Pháp”⁽⁵⁾.Vì vậy, trong bộ sử ký nổi tiếng của sử gia Trần Trọng Kim xuất bản lần đầu tiên ở Hà Nội vào năm 1920 với tựa đề Việt Nam sử lược, đã tái bản nhiều lần được nhiều tầng lớp độc giả ái mộ, và được lưu hành rất phổ biến cho đến hiện nay. Lần tái bản gần đây nhất, sách vẫn viết: “Đến năm Ất Hợi (1815), thì in sách luật ấy phát đi mọi nơi. Bộ luật ấy tuy nói theo Luật Hồng Đức nhưng kỳ thực là chép luật nhà Thanh và chỉ thay đổi ít nhiều mà thôi”⁽⁶⁾
4. Phan Văn Trường (1876-1933), là nhà yêu nước tư sản trong nhóm “Ngũ Long”, khi hoạt động cách mạng chống Pháp ở Pháp cùng với Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền. Các ông chủ trương lên án chế độ quân chủ chuyên chế, xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, nên đều khó nói tốt cho bộ máy thống trị và nền pháp chế của vương triều Nguyễn do vua Gia Long xây dựng nên ở quê nhà mình từ đầu thế kỷ XIX.
Trong luận án tiến sĩ luật đầu tiên của một người Việt trình tại Đại học Paris (Pháp) – ông Phan Văn Trường– năm 1922, gồm 2 đề tài khoa học (bằng tiếng Pháp) gắn liền với Hoàng Việt luật lệ: “Lược khảo về Bộ luật Gia Long (Essai sur le code Gia Long)” và “Luật hình sự qua cổ luật Trung Hoa – Nghiên cứu đối chiếu với Bộ luật Gia Long (Le droit pénal a travers l’ancienne législation chinoise – Etude comparée sur le code Gia Long)”. Tác giả thực tế đã dựa hẳn vào bản dịch Le code annamite của P.L.F. Philastre để làm luận án tiến sĩ và ông đã viết Lời giới thiệu (Introduction) nhận xét của mình về Hoàng Việt luật lệ của nhà Nguyễn có đoạn như sau: “Thực ra bộ luật này chỉ là một bản sao chép – có sửa đổi tý chút – nguyên văn bộ luật hình của triều Mãn Thanh đang thống trị Trung Quốc hồi đó (…). Thế nhưng, sự yếu kém tri thức của nhà vua và sự dốt nát về pháp chế của các cận thần không cho phép nhà vua thực hiện một công trình biên tập có chọn lọc như ông hằng mong muốn trong bài Tựa của ông. Do vậy, việc làm khinh suất liều lĩnh của ông đã dẫn đến một kết cục thảm hại mà có lẽ chính nhà vua cũng không hay biết, đó là sự sao chép một cách lệ thuộc mù quáng pháp chế cũ của “thiên triều””⁽⁷⁾.
Thời đất nước tạm chia đôi
5. Trong giai đoạn đất nước tạm phân chia, ở miền Bắc, năm 1955 và viết lại 1957, Giáo sư Đào Duy Anh (1904-1988) đã viết trong sách giáo khoa tựa đề Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX: “Năm 1815 thì ban hành bộ Hoàng Việt luật lệ. Các nhà tu luật, trong tối đại bộ phận đã bắt chước luật lệ nhà Thanh là một triều đại ngoại tộc áp bách dân tộc Trung Hoa, bộ luật ấy dùng những quy ước gắt gao hơn Bộ luật Hồng Đức để bảo vệ nhà nước quân chủ chuyên chế”⁽⁸⁾.
- Năm 1968, Luật gia – nhà báo Đinh Gia Trinh (1915-1974) dưới sự chủ trì của Viện Luật học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, đứng tên xuất bản quyển Sơ thảo lịch sử và pháp luật Việt Nam (Tập I)”, đã viết: “Nền pháp luật của triều đại Nguyễn ở thế kỷ XIX và đặc biệt là Bộ luật Gia Long có một đặc điểm đáng chú ý, đó là tính chất phản động, biểu hiện ở chỗ mở rộng phạm vi trừng trị hình sự, đặt nên một chế độ hình phạt rất hà khắc, cùng với sự bất bình đẳng xã hội về mọi mặt để bảo vệ một trật tự tôn ty phong kiến tối lạc hậu, thủ tiêu những chế định tương đối tiến bộ của pháp luật thời Hồng Đức trong phạm vi luật gia đình và dân sự (…). Trong khi luật nhà Lê ở thế kỷ XV có một phần nào phản ánh phong tục tập quán của dân tộc, có xuất phát một phần từ tình hình thực tế của xã hội Việt Nam, thì luật Gia Long trái lại đã tỏ ra là một sự thụt lùi đối với tiến bộ lịch sử, về một số điểm đã cắt đứt quan hệ với truyền thống và tư tưởng pháp luật dân tộc”⁽⁹⁾; “Bộ luật Gia Long chỉ là sự sao chép hầu như hoàn toàn bộ luật nhà Thanh. Không những là sao chép các điều khoản, mà còn cả những lệ kèm theo và những lời bình luận chính thức trong bộ luật Trung Quốc, chỉ có bỏ đi hoặc sửa đổi về chi tiết một số rất ít điều khoản và loại bỏ một số lệ”⁽¹⁰⁾.
6. Ở miền Nam, Giáo sư Vũ Văn Mẫu (1914-1998, Khoa trưởng Luật khoa Viện Đại học Sài Gòn, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Ngô Đình Diệm), trong cao trào “Bài phong…” được đẩy mạnh, từ năm 1959, đã viết trong các giáo trình về cổ luật Việt Nam, lên án không thương tiếc Bộ luật Gia Long: “Về phương diện nội dung, ngoài chỗ Bộ luật Gia Long có những điểm đặc sắc chung cho tất cả các bộ luật ở Đông phương nói trên, điều khổ tâm nhất cho ta là bộ luật ấy vì sao chép nguyên văn của bộ luật nhà Thanh nên mất hết cá tính đặc thù của nền pháp luật Việt Nam. Bao nhiêu những sự tân kỳ, mới lạ trong bộ luật triều Lê không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong bộ luật nhà Nguyễn (…). Vua Gia Long và triều thần đã mù quáng đem du nhập vào đất nước một nền pháp luật hoàn toàn ngoại lai, tự mình thực hiện một công cuộc nô lệ hóa về phương diện tinh thần (…). Vì một việc làm vô ý thức như vậy mà trong luật lệ của nhà Nguyễn không còn những điều khoản liên can đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện về giá thú, đến chế độ tài sản của vợ chồng (…). Có thể coi bộ luật ấy như bộ áo Tàu may cho một người dân Việt, để phục sức trong xã hội Việt Nam!”⁽¹¹⁾…
“Về hình thức, bộ Hoàng Việt luật lệ so với bộ luật nhà Thanh, chép gần đúng toàn thể nguyên văn, chỉ loại bỏ một vài điều lệ. Cách bố cục giống như hệt, không có sự gì thay đổi (…). Sự mô phỏng ấy câu nệ đến nỗi tên gọi và cách trình bày và phương diện ấn loát cũng không thay đổi” (…). “Sự tôn sùng nền pháp chế của nhà Thanh đã đưa họ đến chỗ mất hết cả tinh thần tự chủ và óc phê bình, nhắm mắt chép gần đúng nguyên văn bộ luật của Tàu. Đây là sự suy đồi bất ngờ trong lịch trình tiến hóa của nền pháp luật Việt Nam”⁽¹²⁾…
Giáo trình này được sử dụng ở Trường Luật Sài Gòn liên tục tới ngày đất nước thống nhất 30-4-1975.
- Ngoài bộ giáo trình của Trường Luật Sài Gòn nói trên, còn có một bộ thông sử gồm 5 tập, tựa đề Việt sử tân biên của sử gia quân sự Đại tá Phạm Văn Sơn. Năm 1961, bộ sử này hoàn thành đến Quyển IV, tựa sách là: “Việt sử tân biên từ Tây Sơn mạt điệp đến Nguyễn Sơ”. Về việc tư pháp dưới triều Gia Long, tác giả viết: “Bộ luật Gia Long đã chép theo gần hết bộ luật của Thanh triều là một bộ luật rất nghiêm khắc của một dị tộc vào thống trị Hoa tộc (…). Có thể nói rằng về mặt chính trị ở nước ta chưa có bộ luật nào phản dân chủ, nặng màu sắc và nội dung phong kiến như Bộ luật Gia Long (…). Nhiều điều khoản trong Bộ luật Gia Long đã được chép nguyên văn theo luật nhà Thanh, kể cả những sắc dụ phụ thuộc vào các điều khoản đó và cả những lời bình luận họa hoằn mới có bỏ đi một vài điều ít quan trọng hoặc sửa đổi tí chút (…). Nó biểu lộ rõ rệt rằng người ta đã chấp nối nó một cách vội vã và nhiều điều khoản của bộ luật này đã không thích ứng trên thực tế vì nó nghịch với nhiều truyền thống của dân nước. Tóm lại, Bộ luật Gia Long không mang lại chút danh dự nào cho nền pháp chế Việt Nam, nó chỉ là dụng cụ cho một chính sách chuyên chế (…)”⁽¹³⁾.
Thời đất nước thống nhất
7. Năm 1989, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (1924-1990) – một tiến sĩ Việt kiều định cư ở Mỹ, viết sách khảo cứu Quốc triều hình luật trong lịch sử pháp chế Việt Nam. Tác giả có nhận xét so sánh giữa Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long như sau: “So với Hoàng Việt luật lệ của nhà Nguyễn (1802-1945), bộ Quốc triều hình luật đầy đủ hơn và có nhiều đặc tính Việt Nam hơn, vì bộ Hoàng Việt luật lệ gần như là chép lại nguyên văn bộ luật của nhà Thanh (1644-1911) bên Trung Quốc và bỏ hẳn, không giải quyết một số vấn đề liên hệ đến sự giao thiệp giữa người dân với nhau”⁽¹⁴⁾…
8. Giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang (1931-2011), giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, đầu năm 1995 có bài viết về Hoàng Việt luật lệ, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử: “Nếu như những nhận xét của P.L.F.Philastre về nguồn gốc văn bản của các điều luật đã dẫn là đáng tin cậy (…) thì công bằng mà nói, những “giá trị sáng tạo và nhân bản” ấy phải thuộc về “bản chất” của bộ luật nhà Thanh (…). Và các nhà làm luật của triều Nguyễn đã có đóng góp trong việc khai thác triệt để những “giá trị” đó khi soạn bộ Hoàng Việt luật lệ”⁽¹⁵⁾.
Bên cạnh đó, qua một số sách của tác giả đã công bố, Giáo sư Nguyễn Phan Quang đã viết: “Những người biên soạn Hoàng Việt luật lệ, tuy nói tham khảo các luật đời trước, có “cân nhắc, lấy bỏ”, nhưng trong thực tế Hoàng Việt luật lệ đã dựa hẳn vào bộ luật nhà Thanh”⁽¹⁶⁾. “So với Bộ luật Hồng Đức của triều Lê, tinh thần tôn trọng quyền lợi người dân, đặc biệt đối với phụ nữ, đã hoàn toàn biến mất”⁽¹⁷⁾…
9. Năm 2007, một giáo trình môn Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam (in lần thứ 4, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội), đã viết về Hoàng Việt luật lệ: “Bộ luật này chủ yếu mô phỏng theo bộ luật của nhà Thanh (kể cả các điều khoản và các lệ kèm theo)”; “Đặc biệt Bộ luật Gia Long không có quy định chế độ tài sản giữa vợ và chồng, không đề cập đến quyền thừa kế của con gái. Có thể nói, về hôn nhân gia đình, một số tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức đối với người phụ nữ đã không còn được duy trì ở Bộ luật Gia Long”; “Tóm lại, pháp luật của nhà Nguyễn (…) phản ánh và củng cố những quan hệ sản xuất và quan hệ phong kiến ở mức độ cao nhất của chế độ phong kiến Việt Nam”⁽¹⁸⁾…
10. Năm 2014, Nhà xuất bản Thế giới cho ra mắt bạn đọc quyển sách Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX của Giáo sư Lê Thành Khôi (Trường Đại học Paris). Nhận định về Bộ luật Gia Long của nhà Nguyễn, học giả này đã viết: “Bộ luật nhà Nguyễn có tính lạc hậu”; “Luật Gia Long không phải là công trình biên soạn mới mẻ mà là lập lại bộ luật nhà Thanh với một chút thay đổi. Bởi vậy, trong bộ luật này có nhiều điều khoản đi ngược lại truyền thống và phong tục, nên ngay từ buổi đầu đã không được áp dụng hoặc nhanh chóng được xếp xó”⁽¹⁹⁾.
11. Gần đây (2021), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, cho tái bản sách Đại cương lịch sử Việt Nam của một tập thể tác giả nổi tiếng (tái bản lần thứ mười chín), vẫn đánh giá không cao Bộ luật Gia Long: “Mặc dù nói là có tham khảo cả Luật Hồng Đức và luật nhà Thanh, nhưng về cơ bản là sao chép luật nhà Thanh là chính (…). Các điều luật phản ánh thực tiễn nước ta trong Luật Hồng Đức đều không còn, thay vào đó là những điều luật rất hà khắc (…)”⁽²⁰⁾.
Vân vân…
Trải qua thời gian trăm năm, những nhận định, đánh giá thấp, có khi thậm tệ đối với Bộ luật Gia Long đã ngày càng trở thành chân lý ổn định. Bức màn lịch sử pháp quyền Việt Nam đóng chặt cửa.
II. GÓC KHUẤT PHÊ PHÁN THẬM TỆ BỘ LUẬT GIA LONG ĐÃ TỪNG BƯỚC ĐƯỢC LÀM SÁNG TỎ
Hàng thế kỷ qua, giới khoa học trong và ngoài nước đa số đã đánh giá thấp Bộ luật Gia Long. Những nhà nghiên cứu dẫn đường lại là những nhà sử học, luật học nổi danh, uy tín, người này nói theo người kia có thêm thắt đôi chút, nên quan điểm ấy dễ được nhiều người cùng thời và đời sau tin theo, viết theo. Mãi đến những năm gần đây, theo xu hướng đổi mới tư duy toàn diện, thỉnh thoảng có người nêu ý kiến muốn xem xét lại vấn đề. Như một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật đã gợi ý: “Nếu như những hạn chế của Hoàng Việt luật lệ là không thể phủ nhận và cần được chỉ ra, thì những giá trị trên một số mặt của nó cũng là điều cần được thừa nhận khách quan và giải thích hợp lý. Giữ mãi ấn tượng không tốt đẹp về bộ luật này chắc chắn không phải là điều có lợi cho tiến trình đổi mới tư duy trong nghiên cứu khoa học pháp lý cũng như trong hoạt động thực tiễn lập pháp hiện nay”⁽²¹⁾.
1. Người đầu tiên đánh giá cao Bộ luật Gia Long là nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng, nhưng…
Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng (1940-2024) tên thật là Phạm Tùng, tên khai sinh là Nguyễn Quyết Thắng, đã qua chương trình đào tạo Tiến sĩ chuyên khoa Việt Hán từ trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, đã xuất bản hơn 50 tác phẩm nghiên cứu văn học, sử học.Trong đó có 3 tác phẩm chuyên về cổ luật Việt Nam: Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) gồm 5 tập, dịch nguyên gốc Bộ luật Gia Long từ chữ Hán ra chữ Việt (1994); Lê triều hình luật dịch và giới thiệu Bộ luật Hồng Đức (1998); Lược khảo Hoàng Việt luật lệ (Tìm hiểu Luật Gia Long) biên khảo giới thiệu Bộ luật Gia Long (2002) và một số bài tham luận tại các hội thảo khoa học về cổ luật Việt Nam…
Đối với bộ sách dịch Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long), có thể coi đây là một tác phẩm đồ sộ, vì là lần đầu tiên Bộ luật Gia Long được dịch ra tiếng Việt ở Việt Nam, được báo chí đánh giá: “Đây là một sự phát hiện mới, có phần táo bạo vì nó hoàn toàn trái ngược với sự đánh giá chung của các nhà nghiên cứu lịch sử và pháp chế sử trước đây”⁽²²⁾. Trong Lời dẫn đặt ở đầu bộ sách, tác giả Nguyễn Q. Thắng viết: “Đây là một bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh nhất của nền cổ luật Việt Nam”; “sáng tạo”; “nhân đạo”; “nhân bản”… Dịch giả đã chứng minh cho nhận định của mình bằng cách dẫn chứng ra nhiều chi tiết cụ thể.
Đáng tiếc là bên cạnh những chi tiết đúng lại có nhiều chi tiết không chuẩn xác so với tài liệu lịch sử khách quan đương thời! Chẳng hạn như trong Bộ luật Gia Long và các văn kiện pháp chế triều Nguyễn đều có quy định hình phạt lăng trì (xẻo thịt), nhưng tác giả Nguyễn Q. Thắng lại khẳng định “đã vĩnh viễn bỏ” (“nhân đạo”) (Tập I, trang XIV-XV)⁽²³⁾; hay như “thu thẩm” là trình tự xét xử phúc thẩm tối cao các vụ trọng án của các địa phương trong nước được triều đình tổ chức hàng năm vào mùa thu, nhưng trong lời dẫn mở đầu bản dịch lại khẳng định là các phiên tòa trong cả nước đều mở vào mùa thu để tránh khí trời nóng bức, làm ảnh hưởng xấu đến việc buộc tội của các phán quan (“nhân đạo”) (Tập I, trang XLII)⁽²⁴⁾...
Nhà nghiên cứu Nguyễn Q.Thắng đã rất nhiệt tình muốn nâng cao giá trị nhân đạo của Bộ luật Gia Long, nhưng do có một vài điểm chưa cặn kẽ, tác giả đã vô tình biến các nhà làm luật thời Nguyễn trở nên “mâu thuẫn”, “tạo ra sự hạn chế nghiêm trọng trong lịch sử lập pháp hình sự”⁽²⁵⁾…qua đó, làm hạ thấp giá trị của Bộ luật Gia Long! chứ không làm sáng tỏ được góc khuất lịch sử như tác giả mong muốn!
2. Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Thủy với sách chuyên khảo “Hoàng Việt luật lệ - Một cách tiếp cận mới”
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Thủy là giảng viên Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội từ năm 2005 đến nay. Trong thời gian từ năm 2008 đến 2012, bà là nghiên cứu sinh Tiến sĩ lịch sử tại Học viện Lịch sử, Đại học Vũ Hán, Hồ Bắc (Trung Quốc), chuyên khoa lịch sử Minh – Thanh. Luận án tốt nghiệp Tiến sĩ lịch sử chuyên ngành của bà có đề tài “Nghiên cứu so sánh Hoàng Việt luật lệ (triều Nguyễn) và Đại Thanh luật lệ” được sự hướng dẫn khoa học của nhà khoa học Trung Quốc: GS. TS. Trần Phong và sự góp ý giúp đỡ của: GS. TS. Trương Kiến Dân, GS. TS. Nhiệm Phương, GS. TS. Tạ Quý An, GS. TS. Đào Hội Nguyên… Trong quá trình lao động của mình, bà đã công bố nhiều công trình khoa học về cổ luật Việt Nam, đặc biệt năm 2019, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội cho xuất bản sách của bà tựa đề Hoàng Việt luật lệ - Một cách tiếp cận mới.
Quá trình làm việc của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Thủy cho thấy tác giả khảo cứu cổ luật Việt Nam và Trung Quốc trực tiếp qua các tài liệu gốc bằng chữ Hán, tại Việt Nam và Trung Quốc, một cách nghiêm túc, chính quy, bài bản. Các nhà nghiên cứu khác thường chỉ nhận định, phê bình, đánh giá vấn đề theo tài liệu của phương Tây “xâm lược khai hóa” phương Đông, viết bằng chữ Pháp, chữ Anh, thậm chí có khi họ chỉ chép theo ý người đi trước mà chưa hề tiếp cận với tài liệu gốc!
Trong quyền sách chuyên khảo dày 284 trang nói trên, trên cơ sở nghiên cứu cặn kẽ những điểm tương đồng và khác biệt giữa Hoàng Việt luật lệ và Đại Thanh luật lệ, tác giả đã kết luận: Hoàng Việt luật lệ là bộ luật hoàn chỉnh nhất trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, thể hiện tính dân tộc và tính nhân văn, không phải là bước lùi trong tiến trình lịch sử lập pháp của dân tộc…
3. Tiến sĩ Phạm Ngọc Hường với sách chuyên khảo “Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca – Khảo cứu, phiên âm, chú giải”
Nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Hường là tiến sĩ Hán Nôm, công tác tại Trung tâm Nghiên cứu lịch sử thuộc Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ, trụ sở đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trước tác phẩm Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca – Khảo cứu, phiên âm, chú giải do Nhà xuất bản Khoa học xã hội công bố năm 2021, tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu cổ luật Việt Nam, đặc biệt là chuyên khảo “Hoàng Việt luật lệ trong mối quan hệ so sánh với Đại Thanh luật lệ”…
Mặc dù Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca vốn là một tập thơ lục bát lược trích diễn Nôm bộ luật cơ bản của triều đình để tiện phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân cho dễ nhớ, dễ thuộc, nhưng trong công trình nghiên cứu này, tác giả cũng đã dành một dung lượng thích hợp để bàn sâu về bộ luật gốc (Hoàng Việt luật lệ); đặc biệt là so sánh, đối chiếu để làm rõ những sự tương đồng và dị biệt giữa Hoàng Việt luật lệ của nhà Nguyễn và Đại Thanh luật lệ của nhà Thanh, Trung Quốc.
Tác giả đã đi đến kết luận rằng: “Luật Gia Long có sự kế thừa từ cả Luật Hồng Đức và Luật nhà Thanh”; “Nếu chúng ta đọc và phân tích kỹ lưỡng, có nhiều điều khoản, lệ trong từng điều luật không phải là sự hoàn toàn sao chép, mà có căn cứ vào tình hình Việt Nam để biên soạn”; “Các nhà làm luật Việt Nam đã có sự chọn lọc hết sức kỹ lưỡng”⁽²⁶⁾…
III. TÁC PHẨM “NHÂN QUYỀN CỦA NGƯỜI VIỆT TỪ BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC ĐẾN BỘ LUẬT GIA LONG”
TẬP HỢP ĐỦ CHỨNG CỨ LÀM SÁNG TỎ GỐC KHUẤT LỊCH SỬ VỀ BỘ LUẬT GIA LONG
Tháng 3-2023, sách “Nhân quyền của người Việt từ Bộ luật Hồng Đức đến Bộ luật Gia Long” của hai tác giả Luật sư Phan Đăng Thanh và Luật sư Trương Thị Hòa, do Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh cho ra mắt bạn đọc và tái bản vào tháng 4-2024. Dưới đề tài “nhân quyền”, nhất là “nhân quyền của người Việt”, quyển sách đã thu hút được sự quan tâm đón nhận của độc giả xa gần một cách bất ngờ, thú vị!
Thật vậy, thời trung đại ở nước ta, đã có luật lệ của nhà nước quy định cho thần dân Đại Việt có nhiều quyền. Cụ thể, Bộ luật Hồng Đức (của nhà Hậu Lê, từ thế kỷ XV đến XVIII) và Bộ luật Gia Long (của nhà Nguyễn, từ thế kỷ XIX đến XX) đã công nhận người Việt có gần 30 quyền con người, ở nhiều lĩnh vực khác nhau . Luật quốc tế hiện đại sau này gọi đó là các quyền dân sự và chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ghi trong Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 và các Công ước quốc tế về nhân quyền sau đó.
Đúc kết thành quả nghiên cứu của các nhà sử học mấy năm gần đây, qua quyển sách “Nhân quyền của người Việt…”, góc khuất phê phán ác cảm với Bộ luật Gia Long đã từng bước được làm sáng tỏ.
1. Bộ luật Gia Long không sao chép hoàn toàn nguyên văn Đại Thanh luật lệ bên Trung Quốc mà đã mô phỏng, cân nhắc một cách sáng tạo cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Đại Thanh luật lệ (1740-1910) là bộ luật phong kiến cuối cùng của Trung Hoa, có 436 điều luật và 1.765 điều lệ. Hoàng Việt luật lệ (1815-1949) – bộ luật phong kiến cuối cùng của Việt Nam, có 398 điều luật và 593 điều lệ.
Hoàng Việt luật lệ có hai, ba điều luật trong Đại Thanh luật lệ không có. Đại Thanh luật lệ lại có 38 điều luật mà Hoàng Việt luật lệ không có. Trong khi đó, Đại Thanh luật lệ có 1.765 điều lệ nhưng Hoàng Việt luật lệ đã cân nhắc giảm bỏ bớt hai phần ba, Hoàng Việt luật lệ chỉ có 593 điều lệ, trong đó 47 điều lệ là của riêng Việt Nam, Trung Quốc không có. Những điều luật, điều lệ riêng có của Việt Nam chủ yếu nhằm để bảo vệ quyền con người. Bên cạnh đó, Hoàng Việt luật lệ đã có những cải biến nhất định như sửa đổi từ ngữ các đơn vị hành chính, chức quan, các loại động vật, công cụ thi hành hình phạt, thay đổi mức hình phạt, thay đổi hoặc bổ sung tiểu chú…
Thời đó, Việt Nam là một nước chư hầu của Trung Quốc mà các nhà làm luật triều Nguyễn đã “dám” nêu cao tinh thần tự chủ, tự quyết như vậy, qua đó đã thể hiện sự sáng tạo đáng kể trong lĩnh vực lập pháp của “phiên thuộc” đối với “thiên triều”.
2. Bộ luật Gia Long kế thừa và phát triển Bộ luật Hồng Đức; không hề xóa bỏ điểm tiến bộ nào của Bộ luật Hồng Đức. Như vậy, không thể coi luật nhà Nguyễn là bước thụt lùi trong tiến trình lịch sử lập pháp Việt Nam.
Tháng Giêng năm Tân Mùi (1811), vua Gia Long xuống dụ sai Nguyễn Văn Thành (1758-1817), Vũ Trinh và Trần Hựu “hết lòng khảo xét những phép lệnh, điển lệ của triều, tham hợp các điều luật đời Hồng Đức và nước Đại Thanh, lấy bỏ cân nhắc mà làm thành sách” để xây dựng bộ luật cơ bản cho triều đại mình. Bộ luật ấy hoàn thành năm 1812, đặt tên là Hoàng Việt luật lệ. Năm Ất Hợi (1815), Hoàng Việt luật lệ được ban hành, có hiệu lực thi hành trong cả nước từ năm Mậu Dần (1818)…
2.1. Dựa theo chính sử của triều Nguyễn (Đại Nam thực lục), hai tác giả Phan Đăng Thanh – Trương Thị Hòa khẳng định các vua đầu triều Nguyễn, nhất là vua Gia Long và vua Minh Mệnh hết lòng tôn kính, tôn thờ và tôn vinh các vua triều Lê Sơ, đặc biệt là vua Lê Thánh Tông và pháp chế thời Hồng Đức.
Ngay khi chiếm lại thành Phú Xuân, vua Gia Long cho lập miếu thờ và phép thờ cúng vua Lê Thánh Tông. Vua Minh Mệnh từng nhắc nhở triều thần: “Thánh Tông lập ra pháp chế, việc gì cũng có thể lưu mãi đời sau”⁽²⁷⁾; “Những phép hay, chính tốt (của Lê Thánh Tông – TG) chép cả ở trong sử sách (…), tiếng hay phong nhã vẫn còn văng vẳng bên tai mọi người. Trẫm nhớ đến cổ nhân rất lấy làm kính mến”⁽²⁸⁾…
Như vậy, không thể nào có việc nhà Nguyễn (Bộ luật Gia Long) xóa bỏ hết mọi chế định tiến bộ mang tính dân tộc của Bộ luật Hồng Đức.
2.2. Bộ luật Gia Long kế thừa và phát triển Bộ luật Hồng Đức, có một số điều luật trong Bộ luật Hồng Đức được Bộ luật Gia Long hoàn thiện, bổ sung theo xu hướng tiến bộ hơn. Việc gì không được ghi trong luật lệ triều Nguyễn thì cho dân chúng xử sự theo tục lệ vốn thấm đượm pháp chế Hồng Đức đã từng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Đại Việt qua hàng ba thế kỷ. Một số việc xét ra tiến bộ mà Bộ luật Hồng Đức chưa có, luật nhà Thanh cũng không có, thì Bộ luật Gia Long quy định bổ sung mới.
Thí dụ như:
- Bộ luật Hồng Đức (Điều 308) quy định: việc chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại cho con, thì “phần của con vợ lẽ, con nàng hầu phải ít hơn con vợ cả.”; nhưng Bộ luật Gia Long (Điều lệ kèm theo Điều 83) quy định: “phần của con vợ cả, con vợ lẽ và con nàng hầu phải bằng nhau”.
- Trong Bộ luật Hồng Đức, người dân có nghĩa vụ “phục tội” trước phán quan (Điều 721), bị oan ức có “quyền kêu oan” (Điều 687); Bộ luật Gia Long quy định người có dấu hiệu phạm tội có “quyền thú phục và biện tội” (Điều 381). Quyền biện tội thời Nguyễn là tiền thân của “quyền biện hộ” (quyền bào chữa) sau này.
- Bộ luật Hồng Đức và Đại Thanh luật lệ không có quy định về quyền của người nộp thuế; nhưng Bộ luật Gia Long (Điều 111) quy định quyền của người (hộ) dân nộp thuế lương thực phải được tự đong thóc và gạt thóc bằng mặt hộc đấu.
Vân vân…
Công luận báo chí, các nhà khoa học và bạn đọc tham gia bình luận với nhiều tình cảm phấn khởi về truyền thống nhân quyền của người Việt thể hiện qua Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long:
- Bộ luật Hồng Đức xứng đáng như bộ luật nhân quyền đầu tiên của người Việt; Bộ luật Gia Long kế thừa và phát triển các giá trị nhân quyền của Bộ luật Hồng Đức, cho nên, Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long đều xứng đáng là cột mốc lịch sử, một đóng góp quan trọng của dân tộc Việt Nam vào giá trị nhân quyền cao quý của nhân loại⁽²⁹⁾.
- Hoàng Việt luật lệ cần được xem là một thành tựu quan trọng, một bước phát triển trong tiến trình lịch sử lập pháp Việt Nam⁽³⁰⁾.
- Nội dung của quyển sách “Nhân quyền của người Việt…” đã góp phần tích cực đưa pháp luật cổ Việt Nam ra quốc tế, để cho các quốc gia trên thế giới hiểu thêm và sâu sắc hơn sự tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam từ cách đây ít nhất là hơn hai thế kỷ đối với Bộ luật Gia Long (triều Nguyễn) và hơn năm thế kỷ với Bộ luật Hồng Đức (đời Lê Thánh Tông)⁽³¹⁾.
Nhà nghiên cứu lão thành Nguyễn Đình Đầu đã nhận xét khi viết lời giới thiệu quyển sách và nhiều lần lặp lại trong buổi tọa đàm giới thiệu ra mắt sách do tạp chí Xưa và Nay tổ chức ngày 19-8-2023: “Có thể nói quyển sách này như một bài bào chữa về cơ bản là có sức thuyết phục, tham gia bảo vệ trước tòa án lịch sử dân tộc cho Bộ luật Gia Long đã bị phê phán hàng thế kỷ qua. Dường như lâu nay Hoàng Việt luật lệ đã gánh chịu hàm oan”⁽³²⁾
CHÚ THÍCH
1. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập II (Hình luật chí), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr. 287.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 424 (“Chính sách ngu dân”, bản thảo của Nguyễn Ái Quốc viết khoảng năm 1923-1924).
3. Dẫn từ Nguyễn Phan Quang, Ngược về nguồn cội, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2009, tr. 136.
Nguyên văn P.L.F. Philastre đã viết (1875) như sau: “L’ empereur annamite (…) a ouvert une nouvelle voie conduisant la race annamite à une assimilation de plus en plus complète avec la race chinoise. Bien que quelques erreurs aient été avancées à ce sujet, le code annamite, texte des lois, commentaires et décrets annexés aux articles, n’est autre chose que le code chinois de la dynastie mandchoue, dont un très petit nombre d’articles a été supprimé, et dont quelques-uns, également fort rares, ont reçu quelques très légères modifications”
(P.L.F. Philastre, Le code annamite, Second édition, Tome premier, Achevée en 1875, Ernest Leroux Editeur, Paris, 1876, réed 1909, p.1-2)
4. Dẫn từ Nguyễn Phan Quang, Ngược về nguồn cội, Sđd, tr. 139.
Nguyên văn G. Taboulet đã viết: “Le code Gia Long ne se présente du reste, rien d’original, il se borne à reproduire les articles du code chinois de la dynastie mandchoue”.
(G. Taboulet, La geste française en Indochine, Paris, 1955)
5. Thụy Khuê, Vua Gia Long & người Pháp, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2015, tr. 3.
6. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, in lần đầu (1920) của Trung Bắc Tân Văn; In lần thứ hai (1928) của Imprimerie Vĩnh & Thành Hà Nội; In lần thứ năm (1954) của Tân Việt; In ở miền Nam lần thứ nhất (1971 với 80.000 cuốn) do Bộ Giáo dục xuất bản; Nxb. Văn học tái bản kỷ niệm 100 năm xuất bản lần đầu (2022)…
7. Dẫn từ Nguyễn Phan Quang, Ngược về nguồn cội, Sđd, tr. 137-138.
Nguyên văn Phan Văn Trường viết như sau: “Le code pénal sous le nom de code Gia Long (…) n’est, en réalité, qu’une copie, à peu de chose près, textuelle du code pénal de la dynastie Mandchoue qui régnait en Chine à cette époque (…); mais son insuffisance au point de vue de la culture générale et l’ignorance de ses principaux collaborateurs en matìère juridique ne lui ont pas permis de réaliser l’œuvre éclectique qu’il prétendait faire selon sa préface, et sa téméraire entreprise a abouti piteusement, sans qu’il le sût peut-être, à la copie servile de la vieille législation du Grand Empire qui est historiquement la mère-patrie des Annamites”.
(Phan Van Truong, Enssai sur le code Gia Long, Ernest sagot et cie Editeurs, Paris, 1922, p.5)
8. Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX, Tập san Đại học sư phạm Hà Nội, 1956, tr. 366; Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 453, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2023,
tr. 484
9,10. Đinh Gia Trinh, Sơ thảo lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Tập I (từ nguồn gốc đến thế kỷ thứ XIX), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968, tr. 288-289, 273.
11. Vũ Văn Mẫu, Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1958, tr. 243-244.
12. Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử diễn giảng, Quyển I, Tập I, Luật Khoa Đại học Sài Gòn, 1975, tr. 251, 249.
13. Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên, Quyển IV, Tủ sách sử học Việt Nam, Sài Gòn 1961, tr. 263-264.
14. Nguyễn Ngọc Huy, Quốc triều hình luật trong lịch sử pháp chế Việt Nam, Quyển A, Viet publisher, Hoa Kỳ, 1989, Lời tựa.
15. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1 (278) – 1995, trang 90.
“Hoàng Việt luật lệ tham khảo luật nhà Thanh như thế nào?” in trong Mấy vấn đề về quản lý nhà nước và củng cố pháp quyền trong lịch sử Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 94.
16. Nguyễn Phan Quang, Ngược về nguồn cội, Sđd, tr. 135.
17. Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàn, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1884, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2000, tr. 334.
18. Vũ Thị Phụng, Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007, tr. 141, 145, 147.
19. Lê Thành Khôi, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XX, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2014, tr. 266, 430.
20. Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 1, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2021, tr. 442.
21. Vũ Anh Tuấn, “Cần công bằng với bộ luật Hoàng Việt luật lệ” in trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số 3 (192) năm 2008, tr. 60-64.
22. Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh số 43 (210) ngày 8-11-1994, tr. 17.
23, 24. Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Văn Tài, Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long), Tập I, Nxb. Văn Hóa – Thông tin, Hà Nội, 1994, tr. XIV-XV,XLII.
25. Trần Quang Tiệp, Lịch sử luật hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 58-59; Trương Quang Vinh (Chủ biên), Tội phạm và hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2008, tr. 52-53.
26. Phạm Ngọc Hường, Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca – Khảo cứu, phiên âm, chú giải, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2021, tr. 75-76, 76, 77.
27. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập Ba, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 12.
28. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập Ba, Sđd, tr. 131.
29. Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa, Nhân quyền của người Việt từ Bộ luật Hồng Đức đến Bộ luật Gia Long, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2024, tr. 451.
30. Nguyễn Thị Thu Thủy, “Hoàng Việt luật lệ: Bước phát triển trong tiến trình lịch sử lập pháp Việt Nam”, in trong Công luận báo chí, giới nghiên cứu và bạn đọc bình luận tác phẩm “Nhân quyền của người Việt từ Bộ luật Hồng Đức đến Bộ luật Gia Long”, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2024, tr. 102.
31. Nguyễn Hữu Tâm, “Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long phát huy truyền thống nhân quyền và ý nghĩa quốc tế cao cả” in trong Công luận báo chí, giới nghiên cứu và bạn đọc bình luận tác phẩm “Nhân quyền của người Việt từ Bộ luật Hồng Đức đến Bộ luật Gia Long”, Sđd, tr. 94.
32. Nguyễn Đình Đầu, Công luận báo chí, giới nghiên cứu và bạn đọc bình luận tác phẩm “Nhân quyền của người Việt từ Bộ luật Hồng Đức đến Bộ luật Gia Long”, Sđd, tr. 14, 61, 65, 73, 93…

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét