Thứ Hai, 3 tháng 6, 2024

Khám lý Trần Đức Hòa và những điều cần trao đổi (Nguyễn Thanh Quang - Lm. Gioan Võ Đình Đệ)


Nhiều công trình nghiên cứu, Hội thảo Quốc gia trong nhiều thập kỷ qua, giới sử học cả nước đã minh định: quan Khám lý phủ Quy Nhơn - Cống quận công Trần Đức Hòa chính là người đã cưu mang các nhà truyền giáo dòng Tên sáng tạo chữ Quốc ngữ tại Nước Mặn (Tuy Phước, Bình Định) đầu thế kỷ XVII. Thế nhưng, gần đây báo Tiền Phong đăng hai bài viết của tác giả Viết Hiền: “Những nhầm lẫn, ngộ nhận về Khám lý Trần Đức Hòa” ngày 30.10.2023 và “Tiếp tục nhầm lẫn về nhân vật lịch sử Trần Đức Hòa” ngày 12.5.2024. 

Để rộng đường dư luận, chúng tôi đăng bài của hai tác giả Nguyễn Thanh Quang và Linh mục Gioan Võ Đình Đệ. Nội dung bài viết trưng dẫn một số tư liệu liên quan đến vấn đề nêu trên.

1. Về quê quán người con gái của quan Trấn thủ Quy Nhơn

Tác giả Viết Hiền viết: “Theo Cristophoro Borri và các giáo sĩ, linh mục thì người con gái của quan Trấn thủ Quy Nhơn quê ở Nước Mặn, có chồng là Sứ thần triều Nguyễn, từng đi sứ Cao Miên...”. Nhưng không nêu cụ thể dẫn nguồn tài liệu của các giáo sĩ, linh mục ở sách nào, trang nào?

Chúng tôi được biết, duy nhất Tường trình của Cristophoro Borri có nhắc về bà vợ Sứ thần, nhưng không hề chép: người con gái của quan Trấn thủ Quy Nhơn quê ở Nước Mặn. Borri chỉ chép: “... bà là vợ của vị Đại sứ được chúa Đàng Trong cử đi Cambogia, quê vị Đại sứ ở Nước Mặn, nơi chúng tôi đang lưu ngụ...”, trong bản gốc bằng tiếng Ý, xuất bản năm 1631 tại Roma, trang 157:

Xem thêm:
- Bản dịch tiếng Việt của Hồng Nhuệ (Nguyễn Khắc Xuyên), Nxb Thăng Long, Nhà in Thiên Hà, 1989, trang 89.
- Bản dịch tiếng Việt của Thanh Thư, Nxb Tổng hợp TP. HCM, 2019, trang 174.
- Bản tiếng Pháp của Charles B. Maybon trong Bulletin des Amis du vieux Hué (Đô Thành Hiếu Cổ / Những người bạn Huế) số Juillet-Dec. 1931, trang 362.

2. Năm qua đời của Quan Trấn thủ Quy Nhơn

​Tác giả Viết Hiền viết: “... theo sử sách triều Nguyễn và gia phả họ Trần Đức ở Hoài Nhơn, năm 1627, Khám lý Trần Đức Hòa đã tiến cử Đào Duy Từ với Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên. Tuy nhiên, qua Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong 1631, Cristophoro Borri cho biết Quan Trấn thủ Quy Nhơn qua đời vào năm 1619...”.

​Thứ nhất: Sử sách triều Nguyễn viết về sự kiện này sau hơn 200 năm, do vậy, độ xác tín thường không cao. Mặt khác, ngay trong sử liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng vênh nhau, không thống nhất. Cụ thể, năm Trần Đức Hòa tiến cử Đào Duy Từ lên chúa Sãi không thống nhất:

​- Sách Nam Triều công nghiệp diễn chí, chép: năm Đinh Mão, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ chín (1627).

- Sách Đại Nam nhất thống chí, chép: năm Hy Tông thứ 11 (1623).

​Hoặc năm sinh Đào Duy Từ, các tư liệu vênh nhau hơn 30 năm:

​- Sách Nam Triều công nghiệp diễn chí, năm Ất Sửu, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ bảy (1625), Thanh Đô vương Trịnh Tráng xuống lệnh mở khoa thi chọn học trò, lúc ấy Đào Duy Từ được hai mươi mốt tuổi... Theo đây, Đào Duy Từ sinh năm 1604.

- Sách Đại Nam thực lục tiền biên, Đào Duy Từ bệnh nặng và qua đời vào mùa Đông năm Giáp Tuất (1634), thọ 63 tuổi. Theo đây, Đào Duy Từ sinh năm 1571.

Thứ hai: Trong tường trình, Borri dành cả một chương chép: từ khi Quan Trấn hấp hối cho đến lúc qua đời và cả cuộc lễ an táng…, nhưng không hề xác định năm Quan Trấn qua đời là năm 1619.

​Năm Quan Trấn qua đời, chúng tôi biết được qua: Báo cáo về tình hình hoạt động của các thừa sai dòng Tên tại Nước Mặn và Dinh Chiêm năm 1619. Do Linh mục João Rodrigues Girão tổng hợp tại Macao, ngày 20.12.1620, gởi cho Kinh Lược Sứ của Dòng. Bản văn gốc tiếng Bồ: ARSI, JAP-SIN 71. fol. 008v-012:

Bản dịch tiếng Anh của Jason Michael Wilber:

3. Về quê quán của Quan Trấn thủ Quy Nhơn

Tác giả Viết Hiền viết: “Về quê quán, như đã đề cập, Khám lý – Cống Quận công Trần Đức Hòa là người ở xã Bồ Đề, huyện Bồng Sơn, phủ Quy Nhơn, nay là thôn Hy Văn, xã Hoài Sơn, Thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Trong khi đó, theo Borri thì quê của Quan Trấn thủ Quy Nhơn là ở Chifù – Nước Mặn”.

Bản văn gốc bằng tiếng Ý của Borri, chép việc di quan của Quan Trấn thủ Quy Nhơn, trang 148: “… đưa về sinh quán của ông, gọi là Chifu”, không có ghi Nước Mặn:

4. Chifù tiếng Ý đọc là Ky Su (có thể là địa danh Kỳ Sơn – Tuy Phước)?

Tác giả Viết hiền viết: “... trong Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong 1631, Borri viết: “Tám ngày trôi qua, thi hài quan Trấn thủ được đặt trong một áo quan bằng bạc, mạ vàng, có lọng che, di chuyển tới thành phố Chifù nơi ông sinh ra, cách đó ba ngày đường, theo sau là đoàn người đủ mọi tầng lớp và các tốp nhảy múa ca hát…”. Theo các chuyên gia, Chifù tiếng Ý đọc là Ky Su (có thể là địa danh Kỳ Sơn – Tuy Phước)”.

Chuyên gia nào đọc tiếng Ý như thế? (F sao đọc thành S?) rồi suy diễn thành “Kỳ Sơn - Tuy Phước”! Từ tư dinh của Quan Trấn (thành Đồ Bàn) đến Kỳ Sơn khoảng 10km, phải đi ba ngày sao? Vậy hiện nay, mộ Quan Trấn và hậu duệ của quan Trấn có tìm thấy ở Kỳ Sơn không?

Mộ của Khám lý Cống Quận công Trần Đức Hòa, hiện ở xã Hoài Sơn, thị xã Hoài Nhơn, đã được xếp hạng di tích lịch sử năm 2005. Đền thờ ông nguyên ở Xã Hoài Sơn, bị sập đổ trong chiến tranh, vẫn còn dấu vết. Năm 2021, tộc Trần Đức hiến cho nhà nước bảo vệ, tôn tạo, phát huy Khu lưu niệm Trần Đức Hòa được tộc họ xây dựng tại khu đất của dòng họ, tục danh “đất dinh” thuộc phường Hoài Thanh, thị xã Hoài Nhơn.

Bản văn Borri viết ở trang 148: “... đưa về sinh quán của ông, gọi là Chifu, cách khoảng 3 ngày đàng...”:

5. Địa danh Chifù ở đâu?

​a. Tường thuật của thừa sai Ausiès de Fonbone về chuyến thăm mục vụ tại phủ Qui-ninh năm 1686, ông có đến thăm Ben-da, Ti-phu, các họ đạo ở vùng phía Bắc phủ Qui-ninh.

b. Thống kê năm 1747 cho biết, vùng Bắc Qui-ning (Qui Ninh) do các thừa sai dòng Phanxicô phụ trách. Trong đó, có Thi-phu 150 tín hữu.

* Phuoc-so, Ben-da (nay thuộc Hoài Châu Bắc), Bau-gieng (Hoài Sơn), Gia-huu (Hoài Châu Bắc), Lay-duong, Phuong-den, Thi-phu (vùng Bồng Sơn, dọc theo sông Lại Giang) là những giáo điểm thuộc thị xã Hoài Nhơn ngày nay. Dou-thang, Dou-kho, Dou-khan là những giáo điểm thuộc huyện Hoài Ân ngày nay. Nuoc-nhi, Xuoi-khoi là giáo điểm thuộc huyện Phù Mỹ ngày nay. Nung-lo, Gieng-buong là giáo điểm thuộc huyện Phù Cát ngày nay.

c. Năm 1750, Linh mục Médina, vị thừa sai Dòng Phanxicô trên đường từ Đồng Nai đến dinh Chàm; nhân tiện ghé thăm các anh em tu sĩ của mình đang làm việc ở Bắc Qui-ning (những giáo điểm vùng thị xã Hoài Nhơn ngày nay), nên vị thừa sai Phanxicô đã cập vào Thay-phu, một trong các cửa cảng của dinh.

d. Một số bản đồ có ghi địa danh cửa: Tà Phù, Ti-fu, Tai Phou:

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ của Taberd, năm 1838 ghi là Cửa Tà Phù
Bản đồ BIRMA, SIAM, KAMBOJA UND ANNAM do Dr. A.Bastian và H. Kiepert xuất bản tại Đức năm 1867 ghi là Ti-fu

Bản đồ L’INDO-CHINE ORIENTAL, 1881 ghi là R. Taï phou (Sông Taï phou)

Theo chúng tôi, các cách viết địa danh: Chifu (1622), Ti-phu (1683), Thi-phu (1747), Thay-phu (1750), Tà Phù (1838), Ti-fu (1867), Taï-phou (1881) chỉ là một, những người ngoại quốc (châu Âu) gồm nhiều quốc tịch, chữ viết khác nhau, thời điểm khác nhau, đã ký âm không giống nhau theo cảm âm của mỗi người.

Borri cho biết, khoảng cách từ dinh về Chifu là 03 ngày đàng, điều nầy cùng với những nguồn sử liệu truyền giáo và các bản đồ cổ đã xác định địa danh “Chifu” trong tường trình của Borri, nơi sinh quán của vị quan quá cố, ở phía Bắc sông Lại Giang, địa phận huyện Bồng Sơn, thuộc thị xã Hoài Nhơn ngày nay.

6. Về chức Khám lý phủ Qui Nhơn của Cống Quận công Trần Đức Hòa

​Theo Viết Hiền: “Chức Khám lý là làm phó cho các Chánh hộ thu thuế” ?

Việc tổ chức bộ máy hành chánh, chức Khám lý được chúa Tiên thiết lập vào năm 1602: “… Năm Nhâm Dần Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế thứ 45 (Lê Hoằng Định thứ 2 – 1602) đổi phủ Hoài Nhân thành phủ Qui Nhân, đặt các chức Tuần phủ, Khám lý vẫn lệ vào dinh Quảng Nam”.

“Trần Đức Hòa người Bồng Sơn, Bình Định. Ông nội là Ngọc Trách, làm quan cho nhà Lê, được tặng hàm Vinh lộc Đại phu. Cha là Ngọc Phân cũng làm quan cho nhà Lê, đến chức Phó tướng ở dinh Quảng Nam. Hòa vốn người hào mại, vì con nhà tướng nên buổi đầu tập ấm chức Hoằng tín Đại phu, sau đổi qua làm Đô chỉ huy sứ quyền nhiếp vệ Cẩm y. Nhờ có quân công. Được giữ chức Khám lý phủ Qui Nhơn, tước phong Cống Quận công”.

Năm 1602, chúa Tiên cho mời Khám lý phủ Hoài Nhân là Trần Đức Hòa (bấy giờ gọi là Cống Quận công, là con Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân, Phó tướng dinh Quảng Nam) đến yết kiến, chúa đãi rất hậu. Rồi trở về Thuận Hóa.

​“Buổi quốc sơ, bờ cõi một ngày một mở mang, chia đặt cả cõi làm 12 dinh… Duy hai phủ Quảng Ngãi và Qui Nhơn lệ thuộc vào dinh Quảng Nam, thì đặt riêng chức Tuần phủ và chức Khám lý để cai trị”.

​Quan Trấn phủ Quy Nhơn trong Báo cáo của các nhà truyền giáo năm 1617:

Quan Trấn phủ Quy Nhơn trong tường thuật của Borri:

Báo cáo của các nhà truyền giáo năm 1617 và tường thuật của Borri về vị quan đưa các thừa sai dòng Tên về Nước Mặn, khớp với Đại Nam thực lục về chức Tuần phủ / Khám lý phủ Quy Nhơn, và đó chính là Trần Đức Hòa như Đại Nam thực lục tiền biên đã viết.

Trần Đức Hòa là vị quan được chúa quý dân yêu nên sau khi ông qua đời, chúa Nguyễn không bổ nhiệm ai thay thế trong thời gian cư tang 03 năm: “Chúa đã truyền ban cho họ ba năm lợi tức làm lương trả cho quan trấn tỉnh này để dùng vào sở phí và tiêu dùng trong các dịp này (giỗ). Vì thế trong thời gian ba năm, ngài không cắt đặt một quan trấn thủ nào khác, vì mọi ngươi đều tin chắc là hồn người quá cố được liệt vào hạng thần thánh, ngài có thể tự mình cầm quyền cai trị trong ba năm đó. Trong khi chờ đợi, ngài đặt người con của vị quan quá cố làm phó trấn thủ và tướng của tỉnh”.

Ngày 6 tháng 6 năm Chánh Hòa thứ 10 (1689), đời vua Lê Hy Tông. Chúa Nguyễn ban cho Cống Quận công Trần Đức Hòa mỹ hiệu Phù Vận Thần.

7. Chức Quan Đề lĩnh / Đề đốc trong tổ chức của các chúa Nguyễn

​Đoạn kết bài báo trên tienphong.vn ngày 12.5.2024, tác giả Viết Hiền viết:
"Cũng theo sử sách và gia phả họ Trần Đức thì Khám lý Trần Đức Hòa có người con trai tên là Trần Đức Nghi, làm Phó Đề đốc phủ Quy Ninh. Còn theo Borri thì người con của quan Tuần phủ Quy Nhơn (không phải Trần Đức Hòa) từng giữ chức Hiệp Trấn. Sau khi quan Tuần phủ Quy Nhơn qua đời vào năm 1619 thì người con được cử giữ chức Phó Tuần phủ và sau 3 năm thì thay cha giữ chức Tuần phủ Quy Nhơn."

​- Borri không hề chép: "người con của quan Tuần phủ Quy Nhơn (không phải Trần Đức Hòa) từng giữ chức Hiệp Trấn".

​- Borri cũng không chép: "sau 3 năm thì thay cha giữ chức Tuần phủ Quy Nhơn".

​Đó là những điều Viết Hiền gán ghép cho Borri, chứ Borri không hề chép vậy.

​Theo chúng tôi được biết, Báo cáo năm 1619 được trưng dẫn ở trên (mục số 2), lúc Quan phủ qua đời, người con của ông được gọi là ông Đề lĩnh, một chức Quan lớn trong phủ.

​Theo Gia phổ họ Trần ở Bồng Sơn, Bình Định lập năm Minh Mạng ngũ niên, cụ Trần Đức Hòa có người con Trưởng nam giữ chức Đề lãnh / Đề lĩnh:

Báo cáo năm 1626, do Linh mục Luis viết tại Nước Mặn, Quan Đề đốc là cấp quan lớn hơn quan Đề lĩnh, do chúa Nguyễn thiết lập:

​Tác giả Viết Hiền viết: “Khám lý Trần Đức Hòa và Tuần phủ Quy Nhơn là hai người khác nhau hoàn toàn. Trần Đức Hòa không phải là người có “vai trò bà đỡ” phôi thai chữ Quốc ngữ ở Nước Mặn – Quy Nhơn...”. Vậy Viết Hiền có biết, Tuần phủ Quy Nhơn, người cưu mang các Linh mục dòng Tên lập cư sở truyền giáo tại Nước Mặn, sáng tạo chữ Quốc ngữ, ông họ tên gì? Mộ ông ở đâu?...

Tạm kết

Đối chiếu Tường thuật của Borri với các nguồn sử liệu vừa nêu, đã minh chứng Khám lý phủ Quy Nhơn, Tuần Phủ Khám lý phủ Quy Nhơn mà Borri chép: “Governatore di Pulucambì” chính là Cống Quận công Trần Đức Hòa, người Bồng Sơn, con nuôi của chúa Tiên, nghĩa đệ của chúa Sãi, người đã tiến cử Đào Duy Từ cho chúa Sãi, và cưu mang các nhà truyền giáo dòng Tên sáng tạo phôi thai chữ Quốc ngữ tại Nước Mặn, phủ Quy Nhơn (Bình Định ngày Nay) đầu thế kỷ XVII.

Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay số tháng 5.2024

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...