Trong tiến trình lịch sử, vùng đất Bình Định có nhiều tên gọi khác nhau: Năm Tân Mão - Hồng Đức thứ 2 (1471), lập phủ Hoài Nhơn; Thời chúa Tiên – Nguyễn Hoàng, năm Canh Tý (1602), đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Qui Nhơn; Thời chúa Hiền – Nguyễn Phúc Tần, năm Tân Mão (1651), phủ Qui Nhơn đổi thành Qui Ninh; Sang đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, năm Tân Dậu (1741), lấy lại tên Qui Nhơn. Vậy lỵ sở phủ Hoài Nhơn/Qui Nhơn/Qui Ninh qua các thời kỳ lịch sử ở đâu ?
I. LỴ SỞ PHỦ HOÀI NHƠN/QUI NHƠN TRONG SỬ LIỆU
Sử liệu trong nước giai đoạn này khá mờ nhạt, bản đồ cổ đời sau sao đi sao lại và sách nước ngoài được dịch không tránh khỏi “tam sao thất bản”. Tường Trình về khu truyền giáo Đàng Trong 1631, nguyên bản tiếng Ý của Borri, được dịch ra nhiều thứ tiếng, những bản dịch tiếng Việt của các dịch giả: Hồng Nhuệ (Nguyễn Khắc Xuyên), Hồng Nhuệ - Nguyễn Nghị, Nguyễn Văn Bân, Thanh Thư dịch lại từ bản dịch tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, đã mắc một số sai sót so với bản gốc. Do vậy, đến nay việc xác định lỵ sở phủ Hoài Nhơn/Qui Nhơn/Qui Ninh vẫn còn có ý kiến khác nhau.
Tháng 6 năm 1471, vua Lê Thánh Tông lấy đất Chiêm Thành mới chiếm, lập đạo Thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa, đặt ba ty để trông coi việc dân, việc nước (Đại Việt sử ký toàn thư, tập III, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982, tr. 51). Thừa tuyên thứ 13 của Đại Việt - Quảng Nam Thừa tuyên sứ ty, bao gồm 3 phủ 9 huyện: phủ Thăng Hoa có 3 huyện, ngày nay là địa phận TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam; phủ Tư Nghĩa có 3 huyện, ngày nay là địa phận tỉnh Quảng Ngãi;
Phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện: huyện Bồng Sơn (huyện Hoài Ân, An Lão, thị xã Hoài Nhơn ngày nay), huyện Phù Ly (huyện Phù Mỹ, Phù Cát ngày nay), huyện Tuy Viễn (ngày nay là các huyện, thị: huyện Tuy Phước, Tây Sơn, Vân Canh, Vĩnh Thạnh, thị xã An Nhơn, thành phố Quy Nhơn, thị xã An Khê và các huyện Đak Pơ, Kông Chro, Kbang thuộc tỉnh Gia Lai ngày nay). Năm 1578, Nguyễn Hoàng cử Thiên Vũ vệ đô chỉ huy sứ Lương Văn Chánh đem binh chinh phạt, “đánh lấy được Thành Hồ... thăng làm quan trấn An Biên huyện Tuy Viễn” (Quốc sử quán triều Nguyễn (1993). Đại Nam liệt truyện. tập I, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 89). Huyện Tuy Viễn mở rộng thêm địa phận thuộc các huyện, thị, thành phố của tỉnh Phú Yên ngày nay: huyện Phú Hòa, huyện Tuy An, thị xã Sông Cầu, thị xã Đông Hòa, thành phố Tuy Hòa. Từ đây, chính thức xóa bỏ “vùng đệm” trong chủ trương “kimi” của thời Lê Thánh Tông.
Theo sách Một tài liệu về cuộc di dân Nam tiến của tiền nhân của Lâm Hoài Nam (Nhà in Thủ đô, Sài Gòn, 1959, tr.39-41) và Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng (Tỉnh ủy - UBND tỉnh Quảng Nam, Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội, 2010. tr. 1581), sau khi chiếm thành Đồ Bàn, Phạm Nhữ Tăng được bố trí ở lại, lúc đầu ông được cử trấn trị phủ Hoài Nhơn (Tri phủ). Ông và đại tướng Bộ binh Nguyễn Đức Trung được triều đình trao quyền quản trị vùng đất mới, giữ vững an ninh, tổ chức di dân mở đất, lập làng xã. Nguyễn Đức Trung được phong chức Thái úy, tước hiệu Trịnh quốc công, làm Đô ty Thừa tuyên Quảng Nam (Đại Việt sử ký toàn thư, tập III. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982, tr. 51).
Năm 1472, sau khi Thái úy Trịnh quốc công Nguyễn Đức Trung sức yếu trở về Tây Kinh (Tây Đô - Thanh Hoa), Phạm Nhữ Tăng được vua Lê Thánh Tông trao chức Đô ty Quảng Nam kiêm trấn phủ Hoài Nhơn (Đô Thống phủ). Đô Thống phủ của Thừa tuyên Quảng Nam và lỵ sở phủ Hoài Nhơn lúc ấy đặt tại thành Đồ Bàn (Kinh đô cũ của Champa).
Phạm Nhữ Tăng lưu trấn ở thành Đồ Bàn 7 năm. Do tuổi cao lại phải dốc hết tâm sức vào việc xây dựng và bảo vệ vùng đất biên viễn xa xôi nhiều bất trắc nên mùa xuân năm Hồng Đức thứ 8 (1478) ông ngã bịnh. Nghe tin vua Lê Thánh Tông đã cho thái y đến nơi chăm lo thuốc thang, nhưng bệnh mỗi ngày thêm trầm trọng, đến giờ Tuất ngày 21 tháng 2 đời Hồng Đức thứ 8 thì từ trần, hưởng thọ 57 tuổi.
Di hài của Phạm Nhữ Tăng được khâm liệm và an táng tại Trường Xà Thành, nay thuộc thị xã An Nhơn, cách thành Bình Định 6km về phía Tây. Vua hạ chiếu cho cả nước để tang 21 ngày. Sáu tháng sau, nhà vua sai Thái lý về quê ông ở phủ Thăng Hoa, tìm huyệt để cải táng làm lễ đại tang.
Năm 1813, tại huyện Phù Ly tìm thấy ấn đồng: “Người Bình Định bắt được ấn đồng cổ, mặt khắc chữ Phù Ly huyện ấn, lưng khắc chữ Hồng Đức thập tam niên tạo (1482). Trấn thần đem dâng, Vua sai cất vào kho” (Đại Nam Thực lục chính biên, tập I. Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2007, tr. 869).
Sau đó (không rõ năm nào), nhà Lê chuyển trị sở Quảng Nam Thừa tuyên từ thành Đồ Bàn về thành Châu Sa (cũng một tòa thành cũ của người Champa), ngày nay thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Tại thành Châu Sa, năm 1978 phát hiện một ấn đồng của Thừa tuyên Quảng Nam đúc năm Hồng Đức thứ hai (1471), ấn ghi rõ: “Ấn của Ty Thừa tuyên xứ cai trị các xứ Quảng Nam” (Lê Đình Phụng. Đi tìm trị sở Thừa tuyên Quảng Nam trong lịch sử. Tạp chí Cẩm Thành, Quảng Ngãi, số 36 - 2003, tr. 13-17).
Dật sĩ Ngô Thế Lân, đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), khi đi qua phủ Qui Nhơn ghé thăm thành Đồ Bàn, thấy: “Vườn hoa sư làm chùa / cung điện thành ruộng cày / núi mòn trơ tháp cổ / nước ứ đọng thành hoang” (Nguyễn Đức Hiển. Lịch sử Phật giáo Đàng trong. Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1995, tr. 445).
Quách Tấn trong Nước non Bình Định, chép: “Vua Lê Thánh Tông sáp nhập phần đất Chiêm Thành mới lấy được vào đạo Quảng Nam, và đổi làm phủ Hoài Nhơn lĩnh ba huyện là Bồng Sơn, phù Ly và Tuy Viễn. Phủ lỵ đóng tại thành Đồ Bàn... Năm Giáp Tý (1744), chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng vương... Phủ Quy Nhơn vẫn thuộc dinh Quảng Nam. Nhưng phủ lỵ dời ra phía Bắc thành Đồ Bàn, tại thôn Châu Thành (Phù Cát hiện giờ), xây đắp thành lũy kiên cố” (Quách Tấn. Nước non Bình Định. Nxb Thanh Niên Hà Nội, 1999, tr. 6-7).
Ngày nay, Châu Thành thuộc phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn. Về địa danh, ở đây vẫn còn mang các tên cũ như: Gò Súng, Gò Mả, đầm Rạn, đầm Voi vv… Tuần phủ cuối cùng của chúa Nguyễn trấn giữ tòa thành này là Nguyễn Khắc Tuyên. Sách Đồ Bàn thành ký của Nguyễn Văn Hiển, chép: “Cách hơn một dặm về phía tây, làm cây thông reo, tốt tươi xanh mướt, đó là Văn Miếu thờ đức thánh Khổng. Phía đông miếu còn nền móng lũy xưa đó là bức thành của phủ Qui Nhơn ngày trước”. Di tích phủ thành Qui Nhơn tại Châu Thành, phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 1996.
Năm 1776, Nguyễn Nhạc huy động quân dân 4 vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Phú Yên tu sửa, xây dựng cung điện, làm đại bản doanh của mình. Năm 1778, thành Đồ Bàn tu sửa xong, tại đây Nguyễn Nhạc làm lễ lên ngôi “tự lập làm Hoàng Đế, gọi năm đầu niên hiệu là Thái Đức, gọi thành Đồ Bàn là thành Hoàng đế” (Đại Nam chính biên liệt truyện. sđd, tr. 21).
Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: “Thành Qui Nhơn tức Thành Đồ Bàn xưa, ở huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định, nền cũ vẫn còn” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I. Nxb Giáo dục, 2002, tr. 61).
Tháng 8 năm 1810, nhà Nguyễn cho xây dựng trấn thành Bình Định thuộc địa phận hai thôn Kim Châu và An Nghĩa, huyện Tuy Viễn (Quốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tập 3, tr. 14), nay thuộc phường Bình Định thị xã An Nhơn. Năm 1815 thành đắp bằng đất, năm 1817 xây đá ong (Nội các triều Nguyễn (1993), Đại Nam hội điển sự lệ. tập 13, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 141; Quốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tập 3, tr. 14).
II. LỴ SỞ PHỦ QUI NHƠN TRONG TƯỜNG TRÌNH CỦA BORRI
Christoforo Borri, linh mục thừa sai dòng Tên, đến Nước Mặn năm 1618, sau 4 năm ở Nước Mặn, năm 1622 ông trở về châu Âu. Năm 1631, ông xuất bản quyển sách tại Rôma với tựa đề “Relatione della nuova missione delli pp.della compagnia di Giesu al regno della Cocincina”. Bản dịch tác phẩm này sang Việt ngữ sớm nhất là của Hồng Nhuệ, với tựa đề “Tường Trình về Khu Truyền Giáo Đàng Trong 1631, (Nxb Thăng Long, xuất bản tại Hoa Kỳ, năm 1989). Trong Tường trình, Borri cho biết hành trình Quan trấn thủ Qui Nhơn đưa các thừa sai từ Hội An về Nước Mặn.
Từ Hội An về đến dinh phủ Qui Nhơn tổng cộng 12 ngày, vừa đi đường thủy và đi đường bộ. Từ Hội An đến giáp địa phận phủ Qui Nhơn mất 4 ngày đường thủy, từ đây đi đường bộ bằng 07 cỗ voi về đến tư dinh là 8 ngày. Quan trấn thủ cấp cho các thừa sai một khu đất tại Nước Mặn cách dinh quan 03 dặm để xây dựng Cư sở (Residentia) truyền giáo: “Chúng tôi bỏ Hội An, cha Buzomi, cha Đờ Pina và tôi, đi Qui Nhơn theo quan trấn thủ của tỉnh đó… Chúng tôi trẩy đi suốt mười hai ngày với đầy đủ tiện nghi, thường đậu bến cả ngày các hải cảng ở cạnh những thị trấn và thành phố lớn thuộc tỉnh Quảng Nghĩa. Nơi đây ông có quyền như ở Qui Nhơn…
Ngoài ra, ông muốn cho suốt cuộc hành trình người ta đối xử với chúng tôi như thể chúng tôi là những quan lớn, tới đâu ông cũng cho tổ chức trò chơi và hội vui công cộng, khi thì đấu súng, lúc thì thi đua chèo thuyền, đặt giải thưởng cho những chiếc đoạt giải… Cứ thế, rồi chúng tôi tới tỉnh Qui Nhơn, nhưng còn phải đi mấy ngày đường trước khi về tới dinh quan trấn thủ. Ông muốn cho chúng tôi đi đường bộ để được thoải mái và vui thú. Thế là ông truyền đưa bảy cỗ voi tới...
Mà vì cuộc hành trình này chỉ là để tiêu khiển, nên chúng tôi đi mất tám ngày, tới đâu cũng được tiếp đón và đối xử như một ông hoàng, nhất là ở nhà một bà chị của ông, người ta tiếp chúng tôi rất long trọng trong một bữa tiệc rất linh đình… Rồi sau cùng, chúng tôi tới tư dinh… Trong tám ngày tiệc tùng liên tiếp và cỗ bàn linh đình… Tám ngày qua đi, chúng tôi cho ông biết là chúng tôi thích ở ngoài dinh để dễ bề rao giảng Phúc âm hơn, còn nếu ở trong tư dinh thì không làm được dễ dàng bằng. Ở xa dinh chừng ba dặm có một thành phố được bao quanh bởi một cánh đồng rộng lớn… vì trọng công ích hơn tư lợi nên ông nghe theo điều chúng tôi sở nguyện và tức khắc truyền cho người ta chọn cho chúng tôi một địa điểm rất tiện để làm nhà cho chúng tôi ở, trong vùng gọi là Nước Mặn” (Hồng Nhuệ, Tường Trình về khu truyền giáo Đàng Trong 1631, Nxb Thăng Long, Hoa Kỳ, 1989, tr. 73-79).
III. LỴ SỞ PHỦ QUI NINH TRONG GIÁP NGỌ NIÊN BÌNH NAM ĐỒ (1774?)
Bản đồ phủ Qui Ninh trong Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ (gồm 2 bản: Phía Nam và phía Bắc) từ trang 155 - 156 trong bộ Hồng Đức Bản Đồ. Hồng Đức Bản Đồ là một sưu tập gồm nhiều bản đồ được soạn qua nhiều thời kỳ. Bản microfilm lưu trữ tại Đông Dương Văn Khố ở Tokyo (Toyo Bunko), được GS. Trương Bửu Lâm chủ biên trích xuất, Tủ sách Viện Khảo Cổ, Bộ Quốc Gia Giáo Dục xuất bản năm 1962 tại Sài Gòn, đã xác định, lỵ sở phủ Qui Ninh thuộc bản đồ phía Nam (Qui Ninh phủ trị, cột 9-C), liền kề Cảnh Hàn xã (Cảnh Hàn ngày nay thuộc xã Nhơn Phong).
GS. Trương Bửu Lâm cho biết: “Hiện nay chúng tôi có hai bản chép tay khác nhau của quyển Hồng Đức Bản Đồ. Cả hai bản đều là phim vi ảnh nên chúng tôi không rõ trạng thái thật của những quyển sách. Bản thứ nhứt là của Pháp Quốc Viễn Đông Học Viện, chi nhánh Sài Gòn, số phim vi ảnh là A. 2499. Bản thứ nhì là của Đông Dương Văn Khố, tại Tokyo (Nhật Bản) số 100.891. Khi so sánh hai bản ấy thì thật ra chúng tôi nhận thấy về phương diện giá trị chuyên môn, không bản nào tốt hơn bản kia một cách rõ rệt để quyết định việc lựa chọn.
Chúng tôi đã chọn bản của Đông Dương Văn Khố vì nhiều lý do ngoại cuộc, mặc dầu vi ảnh Đông Dương Văn Khố là một âm bản: nghĩa là khi rửa ra ảnh, giấy màu đen, mực màu trắng. Chúng tôi loại bỏ vi ảnh của Viễn Đông Học Viện vì những hình không được rõ; khi chụp ảnh, chuyên viên không khéo mở quyển sách cho rộng ra, nên tại nhiều trang có nhiều chỗ mất đi. Một lý do khác nữa là bản của EFEO chắc đã thuộc về một học giả nào đó hồi xưa, nên gần bên tên của các phủ huyện thường có chua thêm tên hiện tại của những phủ huyện ấy. Chẳng hạn như kề bên Tư Nghĩa phủ trong thừa tuyên Quảng Nam thì có thêm vào những chữ: Kim Quảng Nghĩa tỉnh. Những hàng chữ chua thêm đó có lẽ rất ích lợi, nhưng nhiều nơi làm cho bản chính trở nên rất khó đọc và cũng vì thế mà bản này không còn "tinh khiết" như bản của Đông Dương Văn Khố nữa.
Vì hai lý do nhỏ nhen trên đây mà chúng tôi đã cho in lại những bản đồ theo vi ảnh của Đông Dương Văn Khố” (Hồng Đức Bản Đồ, trang XVI-XVII).
A. Bản đồ phủ Qui Ninh phía Nam
B. Bản đồ phủ Qui Ninh phía Bắc.
TẠM KẾT
Những cứ liệu lịch sử trên cho chúng ta biết rằng, từ phủ Hoài Nhơn đến Qui Nhơn, Qui Ninh, Qui Nhơn rồi Bình Định, dưới các triều đại phong kiến, lỵ sở phủ/dinh/trấn/tỉnh đóng trên địa phận phía Nam (bản đồ phủ Qui Ninh phía Nam) thuộc huyện Tuy Viễn và thôn Châu Thành, huyện Phù Ly. Ngày nay, những di tích này được các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ khảo sát xác định và Nhà nước đã công nhận, xây dựng bia di tích lịch sử: Thành Đồ Bàn/thành Hoàng Đế thuộc xã Nhơn Hậu và phường Đập Đá; phủ thành Qui Nhơn thuộc phường Nhơn Thành; thành Bình Định thuộc phường Bình Định, thị xã An Nhơn ngày nay.
Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay số tháng 3.2024

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét