Thứ Ba, 14 tháng 5, 2024

Nơi sinh sống, làm việc, an nghỉ của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ở xã Nam Kim, huyện Nam Đàn hiện nay (PGS.TS. Nguyễn Quang Hồng)

1. Đặt vấn đề

Từ trước tới nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến cuộc đời và sự nghiệp của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723 - 1804) được công bố cả trong nước và nước ngoài. Trong đó, có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc góp phần tái hiện một cách khá trung thực, khách quan về cuộc đời, sự nghiệp của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp

 - một trong những nhân vật lịch sử nổi tiếng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX trên nhiều phương diện khác nhau như: quê hương, thời kì miệt mài đèn sách bút nghiên, lều chõng đi thi tại trường thi hương Nghệ An ở Lam Thành - Phù Thạch hay hội thi tại kinh thành Thăng Long; thời kỳ làm quan huấn đạo ở phủ Đức Quang; tri huyện Thanh Chương; thời kỳ cáo quan, thoát khỏi vòng danh lợi nơi chốn quan trường, rời quê hương lên núi Bùi Phong, thuộc dãy Thiên Nhẫn ở xã Nam Kim, thuộc tổng Nam Kim, huyện Thanh Chương (nay thuộc xã Nam Kim, huyện Nam Đàn) dựng nhà, miệt mài đèn sách, ngao du sơn thuỷ đến nhiều danh lam, thắng cảnh trên đất Nghệ An, Hà Tĩnh, trước tác thi ca ngợi ca cảnh đẹp của quê hương, đất nước qua đó giải bày tâm trạng của bản thân, khước từ những đề xuất của vua Lê - chúa Trịnh và cả Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ (từ khi ông sinh ra vào năm 1723 đến trước năm 1788),... 

Nhiều công trình, bài viết tập trung nghiên cứu, từng bước làm rõ thời kỳ La sơn phu tử Nguyễn Thiếp dốc toàn tâm toàn tài hợp tác với Hoàng đế Quang Trung góp phần cùng cả dân tộc quét sạch 29 vạn quân Thanh và 5 vạn quân của Lê Chiêu Thống bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền của dân tộc (1788 -1789); hay những năm tháng dồn tâm trí, tài năng giúp Hoàng đế Quang Trung chọn vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường thuộc huyện Chân Lộc (nay thuộc phường Trung Đô, thành phố Vinh), xây dựng Trung Đô Phượng Hoàng thành hay còn gọi là thành Phượng Hoàng Trung Đô dưới chân núi Dũng Quyết nhằm thực hiện ý tưởng táo bạo chuyển dời kinh đô từ Phú Xuân về Nghệ An, lập Viện Sùng Chính, lo việc cải cách chữ Nôm (1788 -1792),… Hoặc thể, thời kỳ La sơn phu tử sau chuyến đi vào kinh đô Phú Xuân tiếp xúc với Hoàng đế Cảnh Thịnh cùng một số quan lại trong triều đình Tây Sơn, rồi khẩn khoản treo mũ, áo, từ quan, trở lại mái nhà trên núi Bùi Phong sống cho đến cuối đời trước những biến động dồn dập của lịch sử dân tộc nói chung và vùng đất Nghệ An - Hà Tĩnh nói riêng,…

Ngưỡng vọng công đức của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp, từ nửa sau thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, một số thành phố, đô thị ở nước ta đã lấy tên Ông để đặt tên đường. Nhưng theo ý chủ quan của chúng tôi, cho đến thời điểm hiện tại (8/2023) có khá ít các công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến nơi sinh sống, làm việc và an nghĩ vĩnh hằng của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp cùng chính thất phu nhân là Đặng Thị

Nghi (1730-1785) ở núi Bùi Phong, thuộc địa giới hành chính xã Nam Kim, huyện Nam Đàn hiện nay. Vấn đề càng đáng được quan tâm hơn, bởi một số hạng mục công trình được các ban ngành chức năng đầu tư xây dựng như: cổng vào, đường lên khu mộ của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp và chính thất phu nhân Đặng Thị Nghi đã và đang xuống cấp nghiêm trọng. Cách khu mộ của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp và chính thất phu nhân Đặng Thị Nghi khoảng 15 m về phía nam là nền nhà xưa chỉ còn lại dấu tích của móng nền nhà xưa bị bao phủ bởi các lớp cỏ cây, lau lách rậm rạp, rất khó để hình dung đó là nơi một trong những nhân vật lịch sử nổi tiếng, có nhiều đóng góp cho quê hương đất nước trên nhiều lĩnh vực đã từng ở, làm việc và dốc toàn tâm, toàn tài cho sự nghiệp kháng chiến chống ngoại xâm cũng như xây dựng, củng cố vương triều Tây Sơn trong suốt nhiều năm. Nếu các cấp chính quyền địa phương hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và các ban ngành liên quan không sớm vào cuộc, tiến hành khảo sát, quy hoạch và đầu tư phục dựng lại ngôi nhà xưa, thì có thể chỉ trong một thời gian ngắn, toàn bộ nơi ở, làm việc của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp trên núi Bùi Phong chỉ còn lại là một vùng cỏ cây, lau lách, ngay cả những dấu tích ít ỏi còn lại cũng biến mất vĩnh viễn. Vấn đề càng trở nên cấp thiết hơn, bởi nơi an nghỉ của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp và chính thất phu nhân Đặng Thị Nghi đã được cấp bằng công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia từ ngày 20/7/1994 theo Quyết định số 1288/QĐ - BT.

Từ kết quả khảo sát tại hiện trường lịch sử ngay tại khu vực núi Bùi Phong/Trại Bùi Phong thuộc địa giới hành chính các xóm 6,7,8 rộng hơn là xã Nam Kim, xã Trung Phúc Cường, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, đối sánh một số tư liệu, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được tập trung làm rõ thêm về vùng đất mà La sơn phu tử Nguyễn Thiếp đã chọn để dựng nhà ở, làm việc, sinh sống trong suốt nhiều năm và cũng là nơi ông cùng chính thất phu nhân Đặng Thị Nghi chọn làm nơi an nghỉ vĩnh hằng suốt mấy thế kỷ qua. Từ góc độ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử, chúng tôi cũng mạnh dạn đề xuất một vài ý kiến để các cấp chính quyền và các ban ngành liên quan thuộc hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh có thêm cơ sở cho việc khảo sát, quy hoạch, đầu tư xây dựng lại quần thể di tích lịch sử này theo đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc và có thể đưa quần thể di tích lịch sử này sớm thoát khỏi tình cảnh hoang phế, đang dần xuống cấp, sớm trở thành một trong những điểm du lịch lịch sử, sinh thái, tâm linh, hay giảng dạy lịch sử địa phương cho các thế hệ học trò Nghệ An - Hà Tĩnh cả trước mắt lẫn lâu dài.

2. Núi Bùi Phong - nơi La sơn phu tử Nguyễn Thiếp dựng nhà sinh sống, làm việc và chọn làm nơi an nghỉ

Theo sách Tên làng xã Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra”, ở nửa đầu thế kỷ XIX, trấn Nghệ An gồm 5 phủ, 16 huyện, 17 tổng, 1.125 xã. Núi Bùi Phong - nơi La sơn phu tử Nguyễn Thiếp dựng nhà sinh sống, làm việc và cũng chính là nơi an nghỉ của Ông là một trong những ngọn núi nhỏ nằm trong dãy núi Thiên Nhẫn, thuộc địa giới hành chính xã Nam Kim, huyện Nam Đàn ngày nay. Đầu thế kỷ XIX, vùng đất này thuộc tổng Nam Hoa, huyện Thanh Chương, phủ Đức Quang: “ Phủ Đức Quang, 6 huyện, Huyện Thanh Chương 6 tổng, 105 xã, thôn, trang, sách, giáp, sở, vạn, nậu,… Tổng Nam Hoa có 21 xã, thôn, sở: Nam Hoa thượng (thôn Hoành Sơn, thôn Dương Liễu); Nam Hoa Tứ, Xuân Hoa (thôn Đông Đồn, thôn

Trung Hội, thôn Tứ Trành), Tiên Hoa (thôn Xuân Mỹ, thôn Thiên Lộc, thôn Khánh Lộc, thôn Bạch Sơn), Xuân Phúc, Trung Cần, Nam Hoa, Đông (thôn Đông Viên, thôn Hoàng Cung, thôn Dương Phố Đông, thôn Vạn Thọ, thôn Quần Xá, thôn Dương Phổ Tứ), sở Nam Hoa, sở Hạ Phù, sở Xuân Lôi” [1].

Sách: Thanh Chương huyện chí cho biết rõ thêm: “ Thanh Chương thời thuộc Minh (1414 - 1427?) gọi là Thổ Du, đầu đời Lê gọi là Thanh Giang, sau đổi là Thanh Chương,… Lại khảo xét về huyện Thanh Chương, nguyên cùng với các huyện là: La Sơn (nay là Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh); Hương Sơn (nay là huyện Hương Sơn, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh); Nghi Xuân, Thiên Lộc (nay là huyện Nghi Xuân, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), Chân Lộc (nay là huyện Nghi Lộc và thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An); đều thuộc phủ Đức Quang, sau thuộc phủ Đức Thọ. Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827) theo lệnh đã tách huyện Thanh Chương và huyện Chân Lộc nhập vào phủ Anh Sơn,… Tổng Nam Kim (nguyên gọi là tổng Nam Hoa, năm đầu Thiệu Trị (1841) vâng mệnh đổi thành Nam Kim). Tổng này gồm 22 xã, thôn,…Xã Nam Kim xưa gọi là Nam Hoa Tây, thời Hậu Lê do kỵ huý hiệu Tây Đô Vương (Trịnh Tạc), nên đổi là Nam Hoa Tứ, đến đời Thiệu Trị, năm đầu đổi là xã Nam Kim,…” [2].

Năm 1897, đời vua Thành Thái cắt tổng Nam Kim và một số làng xã thuộc tổng Bích Triều thuộc huyện Thanh Chương (từ xã Thượng Tân Lộc (trước năm 2020 thuộc các xã: Nam Thượng, Nam Lộc, Nam Tân, năm 2021 sáp nhập thành xã Thượng Tân Lộc) đến xã Khánh Sơn, xã Trung Phúc Cường (trước năm 2020 gồm ba xã: Nam Phúc, Nam Trung, Nam Cường, năm 2021 sáp nhập thành xã Trung Phúc Cường), xã Nam Kim ngày nay) cho lệ vào huyện Nam Đàn. Từ đó, cho đến nay, địa giới hành chính các làng xã trong huyện Nam Đàn nói chung có nhiều lần sáp nhật chia tách, thay đổi, nhưng về cơ bản địa giới hành chính xã Nam Kim không có nhiều thay đổi so với trước năm 1945 như một số làng xã khác trong huyện Nam Đàn [3].

Núi Bủi Phong, Trại Bùi Phong, thuộc dãy núi Thiên Nhẫn: “Núi Thiên Nhẫn tại địa phận hai tổng Bích Triều và Nam Kim, được coi như là núi trấn giữ cho huyện Thanh Chương vậy. Lại theo núi lớn Tam Thai tầng tầng lớp lớp đi xuống kế tiếp nhau, xuất hiện ba ngọn núi nhỏ gọi là Tiểu Tam Thai (nằm trong địa phận thôn Điền Lao tổng Bích Triều), trông tựa như con rắn từ phía trên trườn ngoằn ngoèo xuống, rồi vắt ngang lại thành núi Hàm Rồng (Hàm Long Sơn). Mạch núi phía trên chạy xuống ngọn Động Trú (hay Động Chủ?) đến núi Voi (Tượng Sơn), tạo nên núi Thúng (Cơ Sơn). Mạch giữa xuất phát từ núi Treo Cờ (Quải Bái Sơn) đi ra núi sắc, núi Phượng Hoàng. Mạch cuối làm thành chỏm núi Nón (Lạp Phong), chỏm núi Bùi và núi Voi Trắng (Bạch Tượng Sơn). Còn như các chỏm núi nhỏ thì chằng chịt không sao kể xiết. Núi nọ tiếp núi kia tạo thành cảnh tượng sinh động tựa như đàn ngựa cả vạn con đang chạy đuổi nhau. Có lẽ vì thế mà gọi là núi Thiên Nhẫn chăng? Xứ sĩ Nguyệt Áo Nguyễn Thiếp (1723 -1804), có thơ rằng:

Thiên nhẫn thiều thiều sơn đoạn tục
Thế như quần mã tương tri trục 
(Thiên Nhẫn chót vót núi tiếp núi 
Thế như bầy ngựa đang rong ruổi)

Nguyên Đốc học Nghệ An là Tiến sĩ Bùi Dương Lịch cũng có thơ rằng:

Địa khống chi giang hiểm,
Sơn thạch vạn mã trì

(Địa hình sông núi hiểm trở
Núi non trùng điệp như vạn ngựa đuổi nhau) [4]

Núi Bùi Phong,trại Bùi Phong, nằm cách trụ sở Đảng uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQ xã Nam Kim, huyện Nam Đàn ngày nay khoảng 2,2 - 2,5km; cách trường Tiểu học Nam Kim chừng 1,5 km. Trong công cuộc xây dựng Nông thôn mới (2010 - 2023), Đảng bộ, chính quyền, các đoàn thể quần chúng và Nhân dân xã Nam Kim đã chung tay góp sức biến tuyến đường sỏi đá nhỏ hẹp, gồ ghề, nhiều ổ voi, ổ gà từ trụ sở Đảng Uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQ xã Nam Kim đi qua Trường Tiểu học Nam Kim vào các xóm 5, 6,7,8 thành các con đường rải nhựa, thuận tiện cho các loại ô tô có tải trọng từ 5 - 10 tấn có thể đi lại dễ dàng. Tuyến đường đi từ trung tâm xã Nam Kim vào núi Bùi Phong, đến gần khe Bộc Bố để đi vào thành Lục Niên giờ đây cũng đã được rải nhựa. Vùng đất mà La sơn phu tử Nguyễn Thiếp chọn để dựng nhà ở trên núi Bùi Phong, nằm gần như tâm điểm trên tuyến đường từ trung tâm xã Nam Kim ngày nay vào Lục Niên Thành.

Thành Lục Niên được Bình Định Vương Lê Lợi và Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn huy động binh sĩ cùng nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh xây dựng bằng đất và đá núi ở phía bắc núi Hoàng Tâm (còn gọi là núi Động Chủ, hay núi Lạp Phong, có độ cao 268m, thuộc dãy Thiên Nhẫn) vào năm 1424 khi đưa quân từ Thanh Hoá vào giải phóng cả một vùng đất rộng lớn thuộc địa bàn các huyện miền tây hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay. Đây cũng chính là đại bản doanh của Bình Định Vương Lê Lợi và Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn trong khoảng thời gian từ năm 1424 đến cuối năm 1426 đầu năm 1427. Tại đây, được sự ủng hộ đầy hiệu quả cả về vật chất, tinh thần và nguồn lực con người của đại bộ phận Nhân dân từ miền ngược đến miền xuôi ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định Vương Lê Lợi và Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đã đem quân bao vây thành Nghệ An ở núi Thành (Hưng Nguyên), đưa quân vào giải phóng vùng đất Tân Bình - Thuận Hoá, hạ thành Diễn Châu, thành Thanh Hoá, rồi dẫn đại binh thẳng tiến ra Bắc,đập tan bộ máy thống trị của nhà Minh ở đồng bằng Bắc bộ, bao vây thành Đông Quan, loại bỏ lực lượng viện binh, đưa sự nghiệp kháng chiến chống quân Minh đi đến thắng lợi cuối cùng [5].

Núi Bùi Phong là một trong nhiều ngọn núi nhỏ như: núi Hàng Trăn, núi Hùng Mồ (?), núi Kì Voi,…nằm rải rác ở phía bắc và tây bắc thành Lục Niên. Núi Bùi Phong có độ cao khoảng 30 -35 m, sườn núi tương đối thoải, khá thuận tiện cho việc đi lên và đi xuống núi. Khu vực bao quanh núi Bùi Phong có nhiều khe, suối nhỏ như khe Khế Cầu, khe Thung Huyện, khe Bộc Bố,… đưa nước từ sườn núi phía bắc của dãy Thiên Nhẫn (đoạn chạy qua địa giới xã Nam Kim) chảy ra địa bàn các xóm 5, 6,7,8,… rồi đổ ra vùng đất thuộc địa bàn xã Khánh Sơn hoặc xã Trung Phúc Cường trước khi đổ xuống sông Lam [6].

Căn cứ vào dấu tích nền nhà cũ vẫn còn dưới các đám cỏ cây, lau lách rậm rạp, có thể xác định ngôi nhà nhỏ mà La sơn phu tử Nguyễn Thiếp dựng cuối thế kỷ XVIII nằm ở gần sát đỉnh núi Bùi Phong; cửa nhà ngoảnh về hướng bắc. Đứng trên nền nhà cũ, phóng tầm mắt ra xa, có thể nhìn thấy toàn bộ địa bàn xã Nam Kim, xã Khánh Sơn, xã Trung Phúc Cường,… xa hơn là núi Thành - trấn sở Nghệ An từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, dãy núi Đại Huệ,…Phía sau (hậu chẩm) tựa vào đỉnh núi Bùi Phong và xa hơn là núi Động Chủ ( Hoàng Tâm). Từ núi Bùi Phong có một con đường đất (trước năm 2010) nhỏ hẹp đi qua nhiều khe suối lớn nhỏ vào tận khe Bộc Bố để đi vào thành Lục Niên. Nhân dân xã Nam Kim thường đi lấy củi, hái sim, chăn trâu bò, dê,… theo con đường đất nhỏ hẹp này.Cho đến thập kỷ 80, 90 của thế kỷ trước, khu vực này còn khá hoang vắng, chưa có nhà dân ở.

Theo các cụ cao tuổi ở xã Nam Kim thì Trại Bùi Phong là khoảng đất rộng sát ngay dưới chân núi Bùi Phong. Ở đây, có thể khai phá đất đai, trồng ngô, khoai, sắn, kê, chè xanh, cam, chanh, hồng nhãn,… bầu bí, rau đậu các loại. Ở đây còn có một số thưở ruộng bậc thang có thể trồng các giống lúa cũ, từ khi đập Hồ Thành được xây dựng để trữ nước tưới cho đồng ruộng thì những thưở ruộng nhỏ hẹp này đã chìm xuống lòng hồ. Trên thực tế, từ Trại Bùi Phong đi ra khu vực trung tâm xã Nam Kim ngày nay- nơi có nhiều dòng họ, gia đình đến định cư và lập nên các thôn, làng thuộc xã Nam Kim từ khoảng thế kỷ XV trở về trước cũng chỉ cách 2 - 3 km. Từ đây, người ta có thể đi đến tất cả các làng xã thuộc tổng Nam Kim theo các con đường đất nối liền các làng xã, hoặc đến bến đò Ghềnh Đá, dưới chân núi Ghềnh để đi ngược sông Lam lên vùng Thanh Chương, Đô Lương, hoặc xuôi dòng sông Lam đi đến lỵ sở Nghệ An ở Lam Thành - Phù Thạch, rồi đến thành phố Vinh,… 

Núi Ghềnh, tên chữ là núi Nam Hoa, thuộc địa giới hành chính xã Khánh Sơn, cách núi Bùi Phong khoảng 8 - 10 km, chính là nơi Thám hoa Nguyễn Đức Đạt, mở trường dạy học cuối thế kỷ XIX. Người ta cũng có thể đi đường bộ từ núi Bùi Phong đến chợ Rồng thuộc xã Nam Trung trước đây, rồi từ đó đi đến bến đò cách cầu Yên Xuân ngày nay khoảng 200 m để đi sang vùng tả ngạn sông Lam, hay xuôi theo dòng sông Lam để về Vinh, hoặc ngược sông La về Đức Thọ, Hương Sơn,…Hà Tĩnh. Tổng Nam Kim xưa có nhiều làng khoa bảng như làng Trung Cần, làng Hoành Sơn,… dòng họ khoa bảng như dòng họ Nguyễn Trọng, Nguyễn Đức, Lê Văn, Tạ Quang [7],…

Nguồn sử liệu địa phương mà chúng tôi tiếp cận được đều cho rằng, các vị quan của triều đình Lê - Trịnh và Tây Sơn đều đi thuyền từ núi Thành đến bến đò này, sau đó đi theo đường bộ vào Trại Bùi Phong lên núi Bùi Phong gặp La sơn phu tử Nguyễn Thiếp để truyền chiếu thư cùng vải vóc, tơ lụa, vàng bạc trọng hậu mời ông xuống núi hợp tác, làm quan, nhưng đều bị ông tìm cách chối từ. Nhưng khi đất nước đối mặt với nạn ngoại xâm, nội phản, thì La sơn phu tử Nguyễn Thiếp cũng đi theo con đường này để xuống hội kiến với Hoàng đế Quang Trung, bàn kế sách quét sạch ngoại xâm, nội phản [8].

Còn nếu theo con đường đất dưới chân núi Bùi Phong đi qua khe Bộc Bố, qua thành Lục Niên, thì ngay ở sườn núi phía nam của dãy Thiên Nhẫn là cả một hệ thống thôn, làng, xã trù phú thuộc địa bàn huyện Đức Thọ và huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) với khoảng cách cũng chỉ từ 4 - 5 km. Người ta cũng có thể đi từ Trại Bùi Phong qua truông Trảy để lên xã Sơn Tiến, thuộc huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh ngày nay. Hoặc thể đi từ Trại Bùi Phong qua xã Đức Trường (Đức Thọ), xuống đò ngược, xuôi dòng sông La lên Hương Sơn hay về vùng Nghi Xuân (Hà Tĩnh) về thành phố Vinh,…thuận tiện.

Ngay cạnh ngôi nhà La sơn phu tử Nguyễn Thiếp dựng trên núi Bùi Phong để ở, sinh sống, làm việc,…trong suốt nhiều năm cho đến khi từ giã cõi trần về với tổ tiên, là huyệt đất tốt được ông chọn làm nơi an nghỉ cho bản thân và chính thất phu nhân Đặng Thị Nghi. Mộ La sơn phu tử Nguyễn Thiếp song táng cùng mộ chính thất phu nhân Đặng Thị Nghi chỉ cách ngôi nhà ở khoảng 15 m. Ngôi mộ song táng của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp và chính thất phu nhân Đặng Thị Nghi đầu tựa (gối) sơn (gối đầu lên đỉnh núi Bùi Phong, phía xa là núi Động Chủ, thuộc dãy Thiên Nhẫn), chân đạp thuỷ (vùng Hồ Thành ngày nay), xa xa là dòng sông Lam và dãy Đại Huệ,…theo trục Bắc - Nam.

Tóm lại: chọn núi Bùi Phong, mở Trại Bùi Phong, dựng nhà ở sinh sống, chọn huyệt đất tốt để an nghỉ giữa một khoảng không gian rộng lớn, núi rừng trùng điệp, bao la, bốn phía đều là những làng mạc trù phú, an vui có lịch sử hình thành, phát triển nhiều thế kỷ, trong đó có nhiều làng khoa bảng, dòng họ khoa bảng thuộc địa bàn các huyện Đức Thọ, Hương Sơn (Hà Tĩnh), Thanh Chương (nay thuộc huyện Nam Đàn, Nghệ An), La sơn phu tử Nguyễn Thiếp đã chọn cho mình một nơi ở, sinh sống, làm việc, an nghỉ thoả mãn được tâm tư của một trí thức Nho học, tài cao, chí lớn, nhưng gặp phải thời chế độ quân chủ Việt Nam ngày càng lún sâu vào khủng hoảng, suy vong, đầy biến động đổi thay. Người đương thời và hậu thế xem Ông là một ẩn sĩ gắn với nhiều tên tự hay tên hiệu do chính Ông đặt, hoặc người đời đặt cho ông như: Khải Xuyên (Chuyên?), Hạn Am, Điên ẩn, Cuồng ẩn, Lạp Phong cư sĩ, Hầu Lục Niên, Lam Hồng dị nhân, Lục Niên tiên sinh, La Giang phu tử,… 

Riêng Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ - Hoàng đế Quang Trung ngay từ khi dẫn đại quân ra Bắc muốn mời ông xuống núi dốc toàn tâm toàn tài giúp nước, giúp dân cho đến cuối đời luôn gọi Nguyễn Thiếp một cách kính trọng là: La sơn phu tử hay La sơn tiên sinh. GS Hoàng Xuân Hãn đã dành nhiều năm, sưu tập tư liệu để hoàn thành công trình: La sơn phu tử9. Theo chúng tôi, cách gọi: La sơn phu tử, La sơn tiên sinh của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ - Hoàng đế Quang Trung, GS Hoàng Xuân Hãn,… chính là sự ngưỡng vọng, tôn kính chính xác, đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp mà hậu thế cần trân trọng noi theo.

3. Một vài ý kiến đề xuất

Từ những trình bày mang tính khái quát về nơi ở, sinh sống, làm việc, nơi an nghỉ của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp và chính thất phu nhân Đặng Thị Nghi ở núi Bùi Phong và Trại Bùi Phong thuộc địa giới hành chính xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An ngày nay, chúng tôi xin được đưa ra một số ý kiến đề xuất như sau:

Thứ nhất, các cấp chính quyền địa phương và các ban ngành liên quan thuộc hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh cần phối hợp một cách thực chất, hiệu quả để khảo sát, quy hoạch và sớm đầu tư, sửa chữa một số hạng mục công trình đã và đang xuống cấp tại khu di tích mộ của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp cùng Chính thất phu nhân Đặng Thị Nghi.

Thứ hai, khi nhắc đến cuộc đời và sự nghiệp của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp, không thể không nhắc tới ngôi nhà nhỏ mà ông đã dựng trên núi Bùi Phong để ở, sinh sống, làm việc trong suốt nhiều năm. Ngôi nhà đó gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử khác nhau, nhất là nơi La sơn phu tử Nguyễn Thiếp đã dồn hết tâm tài để góp sức cùng Hoàng đế Quang Trung và cả dân tộc quyét sạch ngoại xâm, nội phản, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền của dân tộc, cũng như củng cố, xây dựng, phát triển vương triều Tây Sơn. Do đó, cần có kế hoạch sớm đầu tư, phục dựng lại ngôi nhà xưa ngay trên nền dấu tích cũ, cũng như Trại Bùi Phong.

Thứ ba, cùng với việc đầu tư phục dựng, nâng cấp mở rộng quần thể di tích liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp như: nhà ở trên núi Bùi Phong, Trại Bùi Phong, mộ của La sơn phu tử Nguyễn Thiếp và chính thất phu nhân Đặng Thị Nghi, cần có kế hoạch tổng thể để phục dựng thành Lục Niên và biến không gian lịch sử - văn hoá này thành một trong những địa điểm du lịch lịch sử, sinh thái, tâm linh thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân ở các tỉnh thành trước mắt và lâu dài. Đây cũng là nơi tổ chức tham quan trải nghiệm, giảng dạy lịch sử địa phương cho các thế hệ học sinh, sinh viên trên địa bàn hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh để góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ học trò sinh ra, lớn lên trên vùng quê xứ Nghệ./.

Chú thích:

1 Viện Hán Nôm, Tên làng xã Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra), Nxb KHXH, Hà Nội, 1981, tr 99 -100

2 “Thanh Chương huyện chí”, in trong sách: “Thanh Chương Đất và Người”, Sở Văn hoá Thông tin Nghệ An phát hành, 2005, tr 35 - 41.

3 Tham khảo, GS Nguyễn Văn Trương (chủ biên), Nam Đàn xưa và nay, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001; PGS Ninh Viết Giao (chủ biên), Nam Đàn - Quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005; Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nam Đàn, Lịch sử Đảng bộ huyện Nam Đàn (1930 -2020), Nxb Nghệ An, 2022.

4 Thanh Chương huyện chí, in trong sách: “Thanh Chương Đất và Người”, sdd, tr46 - 47.

5 Tham khảo: Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Khởi Nghĩa Lam Sơn, Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr 207 -277; Tỉnh Uỷ- HĐND - UBND tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, tập 1, từ nguyên thuỷ đến cách mạng tháng Tám năm 1945, Nxb Chính trị quốc gia - Sự Thật, 2012, tr326 -340; Nguyễn Quang Hồng, Thêm một số ý kiến về Lục Niên thành, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số1(332),2004, tr56 -59.

6 Xem, Bản đồ hành chính xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

7 Đào Tam Tĩnh, Khoa bảng Nghệ An (1075 -1919), Nxb Nghệ An, 2005.

8 Bến đò này thuộc xã Nam Cường đóng vai trò quan trọng trong việc chuyên chở nhân dân các làng xã thuộc tổng Nam Kim đi qua sông Lam, về Vinh. Năm 2016, khi xây dựng chiếc cầu bắc qua sông Lam (nhân dân địa phương gọi là cầu Tuấn Lộc), người ta đã xoá bỏ hoàn toàn bến đò dọc, đò ngang quan trọng này.

9 Hoàng Xuân Hãn, La sơn phu tử, Minh Tân xuất bản, 1951, Nxb Văn học tái bản trong sách La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, 2007.


 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...