1. Trẻ em - Nhân vật trung tâm của văn học thiếu nhi
Trong các tác phẩm, nhân vật - con người, hoặc động vật, đồ vật được các tác giả nhân cách hóa luôn là phương diện quan trọng nhất để các tác giả nhân cách hóa, thể hiện quan điểm của mình về cuộc đời và xã hội. Thế giới nhân vật trong văn học luôn đa dạng và phong phú, là kiểu mẫu tương tự đối với thế giới con người trong cuộc sống hiện thực.
Trong quá trình sáng tác, mỗi nhà văn đều xây dựng những kiểu nhân vật khác nhau, phù hợp với từng độ tuổi và hoàn cảnh. Trong truyện, nhân vật thể hiện rõ nhất quan điểm sáng tác và tài năng của tác giả. Bên cạnh các tác phẩm viết về đối tượng người lớn, Võ Hồng luôn dành một số lượng đầu sách dành cho thiếu nhi bằng việc xây dựng hình tượng nhân vật trẻ em. Nhìn chung, mỗi tác giả luôn có cho riêng mình một quy luật về thế giới nhân vật riêng biệt và văn học thiếu nhi. Viết về thế giới trẻ em trong văn học thiếu nhi, mỗi nhà văn đều có những đặc điểm riêng. Đến với những tên tuổi gạo cội trong làng văn học thiếu nhi như Tô Hoài, Phạm Hổ, Võ Quảng, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Nhật Ánh,… chúng ta không thể không đề cao vai trò của văn học thiếu nhi trong việc hình thành tâm hồn và xây dựng nhân cách cho các thế hệ trẻ em.
Những dòng thơ của Phạm Hổ luôn mang phong cách hóm hỉnh, nhẹ nhàng, phảng phất sự đáng yêu trong cách định nghĩa những sự vật, hiện tượng xung quanh, đặc biệt hơn là khát vọng luôn mong muốn được trở thành người bạn đồng hành với trẻ thơ, như Mèo và tro bếp, Mười quả trứng tròn, Bê đòi bú, Bê hỏi mẹ,…
Bên cạnh các sáng tác của Phạm Hổ, chúng ta không thể không nhắc đến những tập truyện ngắn của Tô Hoài, một “nguồn sống” tinh thần quan trọng của các em. Có biết bao thế hệ đã say mê những câu chuyện, những nhân vật với đa dạng hình hài mà Tô Hoài xây dựng. Thế giới động vật luôn được nhắc mãi với cái tên Dế Mèn, Võ sĩ Bọ Ngựa, Đám cưới Chuột, Trê và Cóc,… hay những tấm gương thiếu nhi anh hùng dũng cảm như Kim Đồng, Vừ A Dình. Tô Hoài là nhà văn viết cho thiếu nhi bằng cả tâm huyết và sự say mê của một người nghệ sĩ. Ông đến với các em bằng cả tâm hồn, luôn mang đến cho các em nhiều thế giới khác nhau, phiêu lưu, kì ảo, những rung động tinh tế trước vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và cuộc đời.
Những năm gần đây, trong văn đàn Việt Nam đã có sự xuất hiện mới mẻ được xem như là một hiện tượng văn học của nền văn học thiếu nhi là nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, một cây bút dồi dào năng lực viết cho thiếu nhi và lứa tuổi học trò đạt được nhiều thành công cả trong và ngoài nước. Bằng giọng văn hài hước, hóm hỉnh cùng với lối kiến thức phong phú, rộng mở và hơn hết ông luôn nắm rõ tâm lý của trẻ em sâu sắc, như Kính vạn hoa, Tôi là Bêtô, Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ,…
Vì vậy, văn học thiếu nhi là một bộ phận có vị trí đặc biệt trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam. Trong những năm gần đây, văn học thiếu nhi đã dần dần khẳng định vị thế của mình trong lòng người đọc lớn và nhỏ tuổi.
2. Nhân vật trẻ em trong văn xuôi Võ Hồng nhìn từ những nét lớn về nội dung phản ánh
Truyện viết về cho thiếu nhi của Võ Hồng là một mảng truyện vô cùng phong phú. Trong số lượng đầu sách tác giả viết và xuất bản thì hơn một phần ba số ấy là những tác phẩm dành cho tuổi học trò, thế giới của các em thiếu nhi. Từ khi dừng công tác giảng dạy vào năm 1982, ông càng tập trung tâm huyết của mình viết về đề tài sinh hoạt của các em ở gia đình, thôn xóm và trường lớp, đặc biệt là hướng vào việc thể hiện tính cách hồn nhiên của lứa tuổi học trò.
Chính vì vậy, thế giới nhân vật trẻ em của Võ Hồng luôn có những nét đặc trưng riêng, rất sống động, rất thực, vì nhà văn đã dựa theo những “nguyên mẫu” ông có nhiều thời gian tiếp cận. Nhân vật thiếu nhi được Võ Hồng xây dựng từ nền tảng giáo dục, là sản phẩm giáo dục từ nhà trường, gia đính và xã hội. Xuất phát từ tâm thế của một nhà giáo, Võ Hồng luôn coi trọng việc giáo dục nhân cách các em ngay khi còn nhỏ từ những hành động xung quanh cuộc sống.
Theo Bách khoa văn học thiếu nhi Việt Nam, văn học thiếu nhi là “những tác phẩm văn học được mọi nhà văn sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi và nhiều khi, cũng là người lớn, hoặc là một cơn gió, một loài vật, hay một đồ vật, một cái cây… Tác giả của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các em, mà cũng là các nhà văn thuộc mọi lứa tuổi” [10,10]. Trong những năm gần đây, văn học thiếu nhi đã gia tăng về số lượng đầu sách sáng tác, đa dạng về nhân vật trẻ em và nội dung, đặc biệt là hình thức rất được chú trọng.
Trước năm 1975, truyện của Võ Hồng đã được chọn đưa vào chương trình Giảng Văn phổ thông. Vài ví dụ như bài Học sinh quê mùa trích trong tác phẩm Hoài cố nhân được biên soạn bởi Đỗ Văn Tú trong chương trình của lớp đệ thất, bài Tấm ảnh được trích trong truyện ngắn Trận đòn hòa giải trong chương trình của lớp đệ lục cũng của Đỗ Văn Tú.
Hơn 30 năm trôi qua, ông có hơn 30 đầu sách được in và rất nhiều bài viết đăng trên các báo trong nước. Có thể thấy rằng sáng tác của Võ Hồng bao gồm nhiều thể loại khác nhau nhưng nổi bật nhất và thành công nhất vẫn là truyện, đặc biệt là truyện ngắn. Các truyện ngắn của Võ Hồng đều được xây dựng đúng với kết cấu nguyên bản của nó là chuyện kể. Mỗi truyện của Võ Hồng là một câu chuyện kể về cuộc sống của mỗi nhân vật, là nơi thể hiện những tâm tư, tình cảm chân thành của mỗi cá nhân, tập thể. Trận đòn hòa giải, Xuất hành năm mới, Áo em cài hoa trắng, Lời sám hối của cha là truyện về những đứa trẻ sống thiếu vắng hình ảnh người mẹ nhưng lại nhận được tính yêu thương vô bờ bến của người cha. Chính điều này lại trở thành điểm thu hút giữa người đọc và tác phẩm của Võ Hồng. Võ Hồng không dùng lý thuyết đạo đức để giáo dục nhân cách trẻ thơ mà ông đi từ nền tảng mối quan hệ trong gia đình. Những mối quan hệ trong gia đình luôn được Võ Hồng nhắc đến rất tự nhiên, đơn giản và xuất phát từ chính tấm lòng trong mỗi con người.
2.1. Tình yêu thương đối với gia đình
Những đứa trẻ được sinh ra đều mong muốn mình có một gia đình hạnh phúc có đầy đủ cả cha và mẹ. Hình ảnh về người mẹ luôn gắn liền với chuỗi ký ức của các em nhỏ. Đó là hình ảnh người mẹ “ẵm con đi chợ, mẹ bồng con đi nhà thương, mẹ dắt con tới trường… Trên sân: gà mẹ dẫn gà con bươi rác. Trên đồng cỏ: trâu mẹ đứng yên cho trâu con sục mõm vào bầu vú” [1, 20]. Hình ảnh mẹ con luôn xuất hiện xung quanh cuộc sống của chúng ta rất nhiều và vạn trạng thiên hình. Với bài tùy bút Nghĩ về mẹ trong tập Một bông hồng cho cha của Võ Hồng bên cạnh những câu chuyện văn thơ, 24 gương mặt trong Nhị thập tứ hiếu mà ông còn giúp người đọc nhìn nhận về tình yêu thương của người mẹ dành cho con cái của mình: “Trên đời không ai yêu thương ta bằng mẹ. Người tình dẫu thủy chung, cũng chỉ yêu ta với điều kiện” [1, 20], cũng như cách ông giáo dục các em nhỏ bày tỏ tình yêu thương của mình đối với mẹ: “Nhưng này các con, sao sinh nhật mẹ, các con không gom một bó hoa ngắt hoa dại trong vườn ngoài rào cũng được” hoặc nếu tuổi nhỏ còn ngại cùng có thể “viết trên mảnh giấy nhỏ: “Con mừng sinh nhật mẹ” chẳng hạn” [1, 25]. Với mẹ, đứa con nào dù cho có lớn khôn, thành người đều cũng chỉ là một đứa con nhỏ bé nằm trong tay mẹ, luôn cần sự che chở, bảo bọc và yêu thương.
Áo em cài hoa trắng là một ấn phẩm đặc biệt lấy đi nhiều nước mắt của độc giả. Câu chuyện viết về ký ức những ngày nhân vật “tôi” được sống cùng với má, được má dạy những con chữ trong những ngày cuối cuộc đời của má. Những ký ức quá khứ giữa mẹ và con đều dồn vào không gian và thời gian mẹ bệnh, tập trung vào phòng bệnh của má. “Má tôi gom những miếng bìa cứng, cắt thành từng mảnh vuông to bằng bàn tay. Má vẽ lên đó những cái vòng trong, những cái hình mà má gọi là lưỡi câu, cái gáo, con cá. Má chỉ cái vòng tròn và bắt tôi gọi bằng o, cái lưỡi câu bằng i, cái gáo bằng q, con cá bằng e” [2, 9]. Rồi một ngày, má nhận thấy sự bất tiện của phương pháp học bài trên bìa cứng, mua cho “tôi” một cuốn vần. Những ký ức về người mẹ dường như được gói gọn trong những lần được má dạy học bài. Một cuốn sách học vần chính là nhân chứng cho những chuỗi ngày hạnh phúc của nhân vật “tôi” khi được sống cùng mẹ. Từng trang sách, từng con chữ đều hiện lên giọng đọc ấm áp, yêu thương nhất mà mẹ dành cho “tôi”. Mỗi cá nhân chúng ta đều có một sự ích kỷ giữ lại những kỷ niệm quá khứ riêng cho chình mình. “Tôi” vui sướng và hạnh phúc khi mình có thể giữ được cuốn sách gắn liền với “má tôi”. “Càng hay. Hình con khỉ nên chỉ để dành cho riêng tôi và má tôi thôi. Tôi không muốn ai dính dự vào nó hết. Hãy để cho nó giữ vẹn sự bí mật đối với tôi, cũng như sự bí mật bao quanh má tôi từ khi má mất” [2, 22]. Nỗi nhớ về mẹ, ký ức về mẹ sẽ không bao giờ vơi đi và nó chỉ dành cho riêng mỗi người, đặc biệt là những người không còn mẹ. Những dòng chữ trên trang sách làm cho người đọc tự vấn mình rằng, nếu đặt vị trí của ta ở nhân vật “tôi”, chúng ta có làm như cậu bé ấy, giấu kỹ một quyển sách đặc biệt chứa đựng nhiều bí mật, nhiều khoảnh khắc hạnh phúc của người mẹ thân yêu của mình.
Truyện ngắn Trận đòn hòa giải có thể được xem như là một trang nhật ký về những chuỗi ngày dài một mình nuôi con khôn lớn của Võ Hồng và cũng là những dòng bày tỏ tấm lòng của mình đối với người vợ đã khuất. Trận đòn hòa giải là câu chuyện với lối viết giản dị, chân tính và đầy xúc động. Câu chuyện kể về tình yêu thương của ba chị em mồ côi mẹ, về tình cảm cha con dành cho nhau trong những ngày đoàn viên dịp Tết. Khi bắt đầu đến với độ tuổi mới lớn, chị Hằng bơ vơ vì không có bàn tay mẹ chăm sóc, hướng dẫn. Chị Hằng vừa là mẹ, vừa là chị của thằng bé Hào, em Thủy. Thằng bé Hào thì khép kín, rụt rè. Em Thủy tuổi còn nhỏ, ương bướng và được ba cưng chiều nhiều hơn. Ba chị em mất mẹ sống cùng với ba. Mọi người đều cho rằng nhà đông con, cha mẹ sẽ thương con út nhiều hơn con lớn, con út luôn cần sự yêu thương đặc biệt. Trong gia đình, bé Thủy có nét giống má hơn chị Hằng và thằng Hào. Đến cuối truyện, khi trận đòn của người cha mệt mỏi, giận dữ và đau lòng trút vào bé Thủy thì chị Hằng mới nhận ra được rằng mình yêu thương bé Thủy nhiều đến nhường nào, bởi khi nhìn thấy chị Hằng “vành tai và mái tóc của má tôi ngày xưa. Vành tai đầy đặn trắng và cái ót trắng, phất phơ những sợi tóc mịn màu nâu” [3, 27]. Ký ức hiện về chồng chất vào nhau. Vừa mới vài ngày trước, người cha cho các con xem tấm ảnh cũ được chụp tại mộ má, như ngầm muốn nói rằng cả ba đứa con đều cùng chung một mỗi đau mất mẹ, hà cớ gì chúng ta lại còn tạo thêm nhiều vết thương khác cho nhau.
Đọc đến đó, người đọc thấy được rằng hình ảnh của mình trong thực tế của cuộc sống, lòng trĩu nặng và nghĩ đến những việc mình đã từng làm trước đây liệu có phải phép, hay mình đã làm tròn vai trò của một người chị, người em, hay đã có lần nào làm vô tình làm tổn thương những người luôn yêu thương mình. Tất cả những trang viết ấy chính là bài dạy sống động, chân thực về tình cảm gia đính, bởi nó xuất phát từ chính trái tim của mỗi con người. Người cha trong chuyện hoàn toàn không thể thay thế được vai trò của người mẹ nhưng vẫn cố gắng hết sức mình bù đắp những phần thiếu hụt tình cảm cho con.
Võ Hồng không chỉ nhắc đến mẹ mà còn viết về hình ảnh người cha, bởi lẽ tình cảm ấy quá đỗi sâu đậm. Chắc hẳn đối với những bạn đọc yêu mến trang sách của Võ Hồng đều biết về hoàn cảnh ông một mình “gà trống nuôi con” cho đến lúc con trưởng thành trong những năm tháng khó khăn của chiến tranh. Năm 1957 vợ ông qua đời, để lại cho ông ba con nhỏ, lớn nhất 9 tuổi và nhỏ nhất 3 tuổi. Trong Lời sám hối của cha, Võ Hồng có viết “Cha thì chỉ lo được cái bao quát, làm được cái đại khái. Đặt vào thực tế, nhiều khi thiệt thà lúng túng như con rùa bị lật ngửa” [1, 68]. Có những chuyện chỉ có khi ở với mẹ, chúng ta mới có thể giãi bày tâm sự, san sẻ. Việc thổ lộ một điều gì đó với cha luôn khó khăn hơn và chính cha cũng nhận ra những điều ấy.
Những lời nói đơn giản, cảm động và chân thành của Võ Hồng luôn làm cho người đọc nhớ mãi những câu chuyện, và cũng bởi lẽ trong giọng văn của Võ Hồng người đọc nhìn thấy được sự gần gũi. Những đứa trẻ lớn lên, có yêu thương, có giận hờn của tuổi nhỏ; có sự thiếu vắng tình thương của mẹ trong những giai đoạn con trưởng thành nhưng bù đắp lại chính là tình yêu thương của người cha dành tròn vẹn, toàn tâm toàn ý. Phải làm cha làm mẹ, phải nuôi con mới biết được sự tảo tần, lo toan trong cuộc sống.
2.2 Võ Hồng đánh thức tính “bản thiện” trong quá khứ của người trưởng thành
Trong văn học Việt Nam hiện đại, Võ Hồng là một cây bút viết về đề tài thiếu nhi đạt được nhiều sự thành công và tình cảm yêu mến từ người đọc. Bởi lẽ, trong các tác phẩm của ông luôn dành phần lớn viết về tình gia đình, sự quan tâm giáo dục từ gia đình, thôn xóm và nhà trường. Truyện ngắn viết về đề tài thiếu nhi của Võ Hồng là sự đan xen giữa cảm xúc và lời nói của nhân vật cùng với những gam màu trong sáng của trẻ em. Võ Hồng đánh thức tâm hồn trẻ thơ trong mỗi con người, giúp người đọc sống lại với một phần quá khứ của tuổi hồn nhiên, trong trẻo, quay ngược về thời gian để nhìn lại chính mình trong những ngày xưa ấy. Đó cũng chình là giá trị lớn nhất dễ nhận thấy trong văn thơ của Võ Hồng. Hồn nhiên, trong trẻo, ngây thơ là bản chất của tuổi học trò. Và cho dù có ở thời đại nào đi chăng nữa những giá trị ấy vẫn không bao giờ thay đổi.
Theo quan niệm xưa, bản tình “bản thiện” của con người, nhất là ở những trẻ em thuộc thành phần gia đính ít học, nghèo khó ở nông thôn, không phải thành phần tiểu tư sản như các nhân vật trong Trận đòn hòa giải, Xuất hành năm mới… Nhân vật Tộc trong Niềm tin chưa mất rất thật thà, nghĩ sao nói vậy, không hề biết nói theo để lấy lòng người khác, không mặc cảm với số phận và ngoại hình. Tộc vẫn hồn nhiên và vô tư đúng với lứa tuổi của chính mình đến nỗi bạn bè của Tộc đều ngạc nhiên, “Tộc sống tự nhiên quá, thấy việc thì làm không câu nệ, nghĩ gì nói nấy không giấu giếm” [3, 110]. Khi đến nhà thầy giáo nộp bài, Tộc còn dám “chê” giếng nước nhà thầy hôi “Tộc bỗng nhăn mặt nói: Nước hôi bùn quá”, và hẹn với bạn ngày “Chủ nhật tới, tao lại đào giếng dùm cho thầy” [3, 109]. Tộc học kém, nghỉ học sớm, khi nghỉ học vẫn cứ ân hận nghĩ rằng sự kém cỏi của mình có ảnh hưởng không tốt đến việc tăng thưởng, tang lương của thầy. Người Tộc gầy gò, ốm yếu, cởi áo ra thấy rõ cả xương canh “Mình Tộc gầy đét, hai chân như hai cái que” [3, 102]. Sau này giàu có, làm chủ một rạp hát, Tộc vẫn nhớ đến cái tên Thạnh Xương mà bạn bè đặt để cười vui và đặt tên cho rạp hát của mình là Thạnh Xương “Để nhớ lại những kỷ niệm ngày xưa”.
Có thể thấy được rằng, nhân vật của Võ Hồng luôn đề cao tinh thần, những giá trị về mặt đạo đức. Tình cảm của Tộc dành cho thầy giáo, cho tuổi thơ không chút mặc cảm của mình là một tính cảm tha thiết và rất chân thành: “Giá vào tay một thầy giáo khác thì tôi đã bị đuổi học lâu rồi. Thế mà thầy vẫn chịu đựng, vẫn chấp nhận tôi” [3, 114], và khi Tộc hồi tưởng lại khoảng thời quá khứ được cắp sách đến trường, Tộc tâm sự “Tất cả chỗ ấy bây giờ còn là khoảng không. Hình ảnh của chúng ta chỉ còn lại trong tâm hồn của chúng ta thôi” [3, 115].
Nhân vật Tộc là một biểu hiện về nhân cách của nhà văn Võ Hồng, giống như đoạn trìch ông có viết về Tộc ở cuối truyện: “Tâm hồn Tộc như cái phòng rộng trống trơn, không có xó xẹt, không có bóng tối. Tộc làm những điều mình nói và có thể nói cả những điều mình làm. Có thể nói cả những điều mình nghĩ nữa” [3, 116]. Nhín vào thực tế đời sống, chính văn chương của Võ Hồng chính là “nhân cách của Tộc”, một giá trị tinh thần to lớn mang lại cho người đọc một niềm tin bền vững, một luồng gió trong lành, bình yên giữa thực tại xã hội nhiều xáo trộn, lo âu của cuộc đời. Hồi tưởng dĩ vãng, nhắc về quá khứ, kỷ niệm của tuổi thơ là cách mà ông muốn truyền tải đến người đọc hãy nhớ về nguồn cội và dù chăng có đi đâu chúng ta vẫn luôn gắn liền với cội nguồn yêu thương. Đó cũng chính là một nét đặc trưng về bản tình trong nhân vật của Võ Hồng, quý trọng và nâng niu dĩ vãng tuổi thơ của mình.
2.3 Tầm quan trọng của sinh hoạt nông thôn đối với trẻ em
Võ Hồng xây dựng hình tượng nhân vật trẻ em gắn liền với gia đình, thôn xóm và nhà trường. Ở đó, trẻ em được học tập, tiếp nhận những nét mới của nền văn hóa, văn minh có phần khác với sinh hoạt thường ngày. Thế giới trẻ em của Võ Hồng được phản ánh qua nhiều lăng kính, những cảm nhận chủ quan (của nhân vật trẻ em) cũng như những ghi nhận khách quan (của người đọc lớn tuổi) rất đa dạng. Là một thế giới đầy màu sắc hồn nhiên, trong sáng và giàu lòng nhân hậu, chan chứa tình yêu thiên nhiên, môi trường, trong khung cảnh làng mạc thôn quê, những ngôi trường đơn sơ. Là thế giới trẻ em được tiếp nhận sự hướng dẫn, chỉ bảo, có khi thuận chiều cũng không ít khi đối nghịch giữa sách vở và lời thầy ở nhà trường với tập quán xưa cũ. Trong giai đoạn chiến tranh, trẻ em còn là những hiện thực của thời cuộc, phải chấp nhận hoàn cảnh sống cơ cực, thiếu vắng tình thương từ cha hoặc mẹ, có khi mất cả hai, trôi nổi, lưu lạc…
Trường hợp của nhân vật Thúy trong Nhánh rong phiêu bạt trải qua không biết bao nhiêu lưu lạc khổ sở, tâm hồn vẫn trong sáng, lành mạnh và yêu đời. Nhánh rong phiêu bạt là nhan đề ẩn dụ cho cuộc đời của Thúy. Thúy là nạn nhân vừa trực tiếp vừa gián tiếp của cuộc chiến tranh, là hiện thân của hiện thực. Cho dù có rơi xuống vực thẳm, hay vũng bùn nào thì lòng trung thực, nhân ái mà em được dạy từ nhỏ cũng không thể nào thay đổi. Có người cho rằng truyện của Võ Hồng chú ý nhiều đến cái “hậu” lúc kết thúc, như các nhân vật Thúy, Tộc,… không bị biến tình khi giàu sang. Truyện nào của Võ Hồng cũng đều mang tính giáo dục cao, đề cao tình “bản thiện” của con người (các cô con gái nhà giàu có làm đỏm, làm dáng như không độc ác, kiêu ngạo), Võ Hồng không đẩy các nhân vật trẻ em vào bước đường cùng, hư hỏng, bụi đời,… mà muốn đưa ra những tấm gương cho đông đảo trẻ em nhìn thấy, học tập và bắt chước. Chính vì lẽ đó, chúng ta cũng không ngạc nhiên khi biết được rằng Võ Hồng là một nhà giáo được nhiều thế hệ học sinh yêu mến, ngưỡng mộ.
3. Giá trị của những điểm sáng trong mảng văn xuôi viết về đề tài thiếu nhi của Võ Hồng
Yếu tố chính tạo nên sự thành công của truyện ngắn viết về trẻ em của Võ Hồng là những điểm sáng chi tiết mang lại những thông điệp ý nghĩa hiện thực có giá trị trong cuộc sống. Những điểm sáng ấy tỏa ra, bùng lên, rọi chiếu thành một vùng rộng lớn trong cảm nhận người đọc.
Trong truyện Xuất hành năm mới, chi tiết bức thư của bé út Tri Thủy xuất hiện ở cuối truyện đã tạo nên một cái kết rất đẹp cho câu chuyện: “Con đi thăm mộ má mà không có má, má ở trên trời. Con học lớp năm không có má chải tóc cho con, má con Nguyệt thắt bím cho nó đẹp lắm. Con đi học trời mưa trợt ướt áo đầm anh Hào lấy tờ giấy thấm của con con đòi anh không trả anh đánh con. Má nhớ trả lời cho con rồi dán lên trên mộ” [3, 51].
Tuổi thơ của Thủy lớn lên không có má bên cạnh, thiếu vắng tình thương của người mẹ, không có má chải tóc, thắt bím tóc. Những dòng thư Thủy viết cho má chính là cái kết bỏ ngõ cho những lần “sắp tới” Thủy sẽ tiếp tục viết thư cho má để kể với má những ngày trôi qua của Thủy như thế nào. Lời văn của Võ Hồng nhẹ nhàng như cái cách một đứa trẻ như Thủy viết thư cho má nhưng mỗi lần chuyển sang một câu chuyện mới là thêm một lần gia tăng nồng độ cảm xúc. Chỉ là những sự việc đơn giản, không lôi cuốn, hấp dẫn nhưng luôn khiến cho người đọc phải đọc đi đọc lại và mong chờ những phần tiếp theo. Cái kết này chính là sự cụ thể hóa hình ảnh ngây thơ, hồn nhiên của một đứa trẻ, đồng thời cũng là điểm sáng để nâng cao tính cảm yêu thương, nhân cái của con người lên một bậc.
4. Nhân vật trẻ em trong văn xuôi Võ nhìn từ những nét lớn về nghệ thuật
Võ Hồng là một người con nặng tình với quê hương. Địa lý văn truyện trong các tác phẩm của ông là vùng Nam Trung Bộ, trải dài từ Phú Yên ra Bình Định lên đến Đà Lạt, xuống Nha Trang và vào Phan Rang. Lối hành văn của Võ Hồng đơn giản, câu từ ít có sự trau chuốt về mỹ thuật. Tình yêu, sự gắn bó tha thiết là cảm xúc chính để ông có thể viết về những câu chuyện ở quê hương mình. Mỗi vùng quê đều có những đặc điểm ngôn ngữ riêng để phân biệt, trong đó có giọng nói. Ngôn ngữ địa phương là cách mọi người biết được nguồn gốc quê hương của đối phương khi xét về ngôn ngữ, giọng điệu. Với văn phong của Võ Hồng, điểm đặc trưng nhất để phân biệt được với các nhà văn khác chính là “tính địa phương” với nhiều sắc thái biểu cảm, biểu nghĩa của giọng miền Trung. Điều này được thể hiện rõ nét nhất và đậm nhất trong tập Chúng tôi có mặt.
Có thể nói Chúng tôi có mặt là vùng đất màu mỡ, rộng lớn để ông có thể tự do thể hiện, vùng vẫy với ngôn ngữ địa phương - điều mà trước đây hầu hết các nhà văn đều né tránh. Và đây cũng chính là đặc điểm nghệ thuật nổi bật trong văn chương của Võ Hồng. Điểm sáng tạo và thú vị trong tập truyện này là ngôn ngữ địa phương lại được “nói” bởi những động vật hết sức gần gũi, quen thuộc mà nhà văn tưởng như “chúng đang chạy nhảy và đối thoại quanh tôi” và không phải là bóng dáng con người thực hiện. Ở đó, con người hoàn toàn bị biến mất, nhường chỗ cho loài vật lên tiếng và lên án.
Suốt tập Chúng tôi có mặt là những câu chuyện hài hước về thế giới loài vật. Bò Cộ chậm chạp mắng vợ lẳng lơ bị vợ nạt lại “Vô duyên. Ghen lẳng xẹt” [4, 11] trong “Cố vấn luôn luôn có lý”. Chị Cà cuống chê vợ lão Bọ Hung không biết nuôi con “Nuôi con cái kiểu “con khỉ” gì mà bẩn thỉu dơ dáy vậy?” [4, 20] trong “Hãy tìm cái xấu nơi mình trước”. Những kiểu nói như: “lưỡng thưỡng đi”, “chịu sao thấu”, nghe?”, “bay?”,… là ngôn ngữ thông dụng của vùng quê miền Trung. Hay đoạn cụ Beo già thò đầu ra ngoài hành lang nói chuyện với Bông Lau trong “Khi khốn khổ mới biết ai là bạn”:
“- Về biểu con vợ mày… hừ hừ… chạy xin chút nước đái đồng tiện rồi trong uống ngoài thoa cho nó tan máu bầm.
- Dạ, cháu lết hết nổi, cụ ơi. Chúng nó vậy cắn gần đứt lìa cái cẳng…” [4, 70].
Điều này cho ta thấy rằng Võ Hồng rất coi trọng ngôn ngữ địa phương (nhiều người gọi là phương ngữ, có người gọi thổ ngữ), dùng nó như phương tiện để tạo ra sự cảm thông. Trong quan niệm của ông, yêu thương tiếng nói có vẻ như cá biệt, thô tháp của nơi ta sinh trưởng chính là một phần trong tình yêu thương quê hương xứ sở. Có lần, ông đã bày tỏ ý kiến: “Dù ở tuổi nào, dù ở trí thức hay bình dân, dù đang sống ở đô thị hay một miền núi đèo heo hút, tâm hồn ta cũng dễ bị xúc động bởi những nếp sinh hoạt quen thuộc, những tiếng nói mộc mạc thân thương gần gũi” [11, 35].
5. Thay lời kết
Có thể thấy được rằng, văn học thiếu nhi là một bộ phận không thể tách rời của văn học dân tộc. Bất kì nền văn học nào cũng chứa đựng trong nó một bộ phận không thể thiếu là văn học thiếu nhi. Văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm luôn là thiếu nhi, hoặc những góc nhìn được nhìn bằng “đôi mắt trẻ thơ”, với tất cả những cảm xúc, tình cảm mãnh liệt, tinh tế, ngây thơ, hồn nhiên, được các em say mê và thích thú. Đặc biệt, nội dung của văn học thiếu nhi luôn tập trung vào việc giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, đặt nền móng cho sự hoàn thiện nhân cách của các em trong những lứa tuổi khác nhau.
Trong bối cảnh giai đoạn cả đất nước cùng nhau chiến đấu giành độc lập dân tộc, với thiện tâm của một nhà giáo, Võ Hồng đã dùng văn chương theo ý thức tải đạo, nêu cao lẽ phải điều hay để hướng các nhân vật theo mẫu người tốt, để khi trưởng thành có cách sống “trung dung” biết cách ăn ở phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc.
Từ những nét lớn về nội dung và nghệ thuật trong việc xây dựng nhân vật trẻ em trong mảng văn xuôi, Võ Hồng đã khắc họa được hình ảnh tiêu biểu của trẻ em nông thôn nơi làng quê tác giả, và rộng hơn là trong tỉnh Phú Yên và có thể gần như cả bốn tỉnh Nam Ngãi Bình Phú của Miền Nam Trung Bộ, trong giai đoạn đất nước trải qua nhiều biến động từ sau 1945 dến sau 1975.
Với cốt cách là một nhà giáo, Võ Hồng viết cho tuổi học trò trò, trẻ em xuất phát từ tâm của một người thầy, một người đưa đò, giáo dục nhân cách cho các em, đưa đến cho các em những bài học nhân sinh bổ ích và thực tế. Những bài học ấy có thể là những trò chơi đơn giản, hình vẽ, loài vật, hoặc những trải nghiệm từ cuộc sống. Để từ đó, người đọc - lứa tuổi học trò hoặc người lớn sẽ cảm nhận được những lời khuyên chân thành từ nhà văn Võ Hồng. Rằng các em, hãy biết yêu thương, gắn bó với cha mẹ, gia đình và trường lớp; hãy biết bảo vệ quê hương, yêu thiên nhiên và tự hào với chính vùng đất sinh ra của mình. Tất cả chình là hành trang của các em, giúp các em cùng nhau lớp lớp trưởng thành. Những hình ảnh của những nhân vật trẻ em trong tác phẩm của nhà văn chính là minh chứng chân thực để người sau đối chiếu và chính nhà văn Võ Hồng đã làm một nhân chứng đáng tin cậy.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Võ Hồng, Một bông hồng cho cha (1994), NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Võ Hồng, Áo em cài hoa trắng (1990), NXB Thanh niên, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Võ Hồng, Lá vẫn xanh (1964), Thời mới xuất bản, Sài Gòn.
4. Võ Hồng, Chúng tôi có mặt (2003), NXB Thành phố Hồ Chí Minh
5. Nguyễn Văn Dân (2012), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Khoa học xã hội, TP HCM.
6. Vân Thanh (Sưu tầm – biên soạn), Văn học thiếu nhi Việt Nam (Nghiên cứu, lý luận, phê bình, tiểu luận & tư liệu), tập 2 ; NXB Kim Đồng.
7. Nguyễn Thị Thu Trang, Võ Hồng, nhà văn và tác phẩm (2003), Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Phú Yên.
8. Nguyễn Thị Thu Trang (2015), Cảm nhận văn chương (Nghiên cứu & Phê bình văn học), Nxb Hội Nhà văn.
9. Nhiều tác giả (2013), Văn chương và nhân cách Võ Hồng, Nxb Trẻ.
10. Bùi Thanh Truyền (chủ biên) (2009), Thi pháp trong văn học thiếu nhi, NXB Giáo dục Việt Nam.
11. Chuyên san Văn Sài Gòn, số 3 tháng 1&2 (1968).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét