Thứ Hai, 22 tháng 4, 2024

Vấn đề "xuất", "xử" của nhà Nho (PGS. TS. Biện Minh Điền)

Nho giáo, về cơ bản là một học thuyết chính trị - đạo đức do Khổng Tử đề xướng, sáng lập; Mạnh Tử kế thừa và phát triển,… cũng được gọi là “Đạo Khổng Mạnh” (“Khổng Mạnh chi đạo”). Nho gia vốn là “một học phái tư tưởng quan trọng ở Trung Quốc”; 

“Phạm trù Nho gia (…) có thể tính tới thời cận đại”(1), bao hàm những ai tin tưởng và tôn thờ Nho giáo hay “Khổng Mạnh chi đạo”, coi trọng và theo đuổi Nho học với hệ thống kinh điển “Lục kinh” (6 loại giáo bản): Dịch, Thư, Thi, Nhạc, Lễ, Xuân Thu(2).

Nhà Nho (Nho gia, Nho sĩ, Nho sinh) thời phong kiến được xem là thành phần đứng đầu “tứ dân” (“sĩ nông công thương”). Con đường phấn đấu, vào đời của nhà Nho không gì khác ngoài “Đường mây”: Đi học, đi thi. Thi đỗ: hoặc ra làm quan, ghánh vác việc đời, việc quốc gia, xã hội/ “xuất” (tương ứng với “hành”); hoặc lui về ở ẩn/ “xử” (tương ứng với “tàng”). Đạo của người quân tử: “hoặc ra làm quan, hoặc lui về ở ẩn”(3); “Dụng chi tắc hành, xá chi tắc tàng” (Dùng thì ra làm; không dùng thì ẩn)(4). “Xuất” hay “xử”/ “hành” hay “tàng” không phải bao giờ cũng dễ dàng, rạch ròi trong ứng xử của từng nhà nho, chúng luôn luôn có thể đổi chỗ cho nhau.

Băn khoăn lựa chọn giữa “xuất” và “xử”/ “hành” và “tàng” là vấn đề đặt ra dường như thường xuyên với những nhà nho chân chính, “hữu trách”, nhất là với nhà nho Việt Nam. Hai mẫu hình nhà nho “chính thống” (hành đạo và ẩn dật) từng được xem là “anh em sinh đôi” (ngay trong từng nhà nho) là vì vậy(5). Bi kịch của nhiều nhà Nho cũng do xuất phát từ mâu thuẫn dằng xé giữa “xuất” và “xử”, “hành” và “tàng”. Ở việt Nam, vấn đề này đã từng đặt ra gay gắt với nhiều nhà Nho, nhất là từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ,… đến Lê Hữu Trác, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm,… và sau đó là lớp nhà Nho cuối mùa mà tiêu biểu nhất là Nguyễn Khuyến.

Nguyễn Trãi (1380 - 1442) ở chặng đường đầu có lúc tự nhận thấy mình là Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, chưa bận tâm lắm với vấn đề “xuất”, “xử”; nhưng khi đã bước chân vào “chính trường” với nhiều nếm trải, ông mới thực sự thấm những đa đoan, phức tạp giữa “xuất” và “xử”. Ông thấy rõ, một mặt: Lấy đâu xuất xử lọn hai bề(6); nhưng mặt khác: chọn một “bề” cũng đâu có yên! Và rồi, ngoài bi kịch dằng xé nội tâm do tự bản thân ông nghiêm túc đặt ra trước yêu cầu của lịch sử: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, là hàng loạt bi kịch từ nhiều mối bên ngoài dồn vào, khiến ông phải chịu vụ án Lệ Chi viên - một bi kịch thảm khốc chưa từng có. Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật/ Anh hùng di hận kỷ thiên niên(7) (Hoạ phúc có nguồn phải đâu một buổi/ Anh hùng để hận hàng mấy nghìn năm) – điều ông viết về người khác (Hồ Quý Ly) có ngờ đâu lại ứng vào mình…

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) khi lui về ở ẩn, càng thấy sự đối lập giữa “xuất”/ “hành” (ra làm quan) và “xử”/ “tàng” (về ở ẩn). Ông xem “hành” (ra làm quan) là một kiểu “khôn” đáng mỉa mai, khinh bỉ. Cũng như một số nhà Nho khác, ông tự nhận mình là “dại dột”, “ngu hèn” (thực ra đây chỉ là một cách nói phản ngữ): Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao... Chọn hướng “xử” - “tìm về nơi vắng vẻ” (ẩn dật/ “tàng”) một mặt giúp ông tìm thú nhàn, giải phóng mình ra khỏi những ràng buộc, đố kỵ của thói đời, mặt khác, đây là một cách phủ định lối “xuất” (ra làm quan) trong bối cảnh nhiễu nhương “Thế gian biến cải, vũng nên đồi” của thời đại ông.

Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) lại tự tin xác định: Dụng chi tắc hành, xá chi tắc tàng; xuất, xử, ngữ, mặc, giai thông hồ thời nghĩa/ Ngôn chi tín, hành chi quả; tử, sinh, kinh, cụ, bất nhập hồ hung trung (8) (Đời dùng thì làm, bỏ thì ẩn; làm hay ẩn, nói hay im, đều bởi hiểu thông thời vận/ Lời nói thì giữ tín, việc làm thì quyết xong; sống, chết, lo, sợ, không chút vướng bận trong lòng).

Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) là một trường hợp đặc biệt, vừa “chính thống” vừa “phi chính thống”, vừa hăng hái dấn thân, nghiêm cẩn: “hành”, vừa coi trọng “tàng”, lại vừa phóng túng, tài tử: hành lạc. Điều quan trọng đối với ông là hướng ứng xử nào cũng là cơ hội để bộc lộ tài năng, trên cơ sở đó mà ngạo nghễ tuyên bố “Nhân sinh quý thích chí”, xem “hành” hay “tàng” thực ra cũng chẳng khác gì nhau (Hành tàng bất nhị kỳ quan)... Vì thế bất cần, “Mặc ai hỏi, mặc ai không hỏi”(9)...

Nhà nho “cuối mùa” Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) cũng từng “xuất” (ra làm quan), nhưng rồi cũng phải “xử” (cáo quan về ở ẩn) sau bao nhiêu dằn vặt, khi nhận thấy thế cuộc Cờ đương dở cuộc, không còn nước... Ông tự cười mình là Bạc chửa thâu canh đã chạy làng (Tự trào), dứt khoát bất cộng tác với “Tân triều”, về làng, ở ẩn. Nguyễn Khuyến muốn làm một “ông Đào” (Đào Tiềm/ Đào Uyên Minh) ở đất Việt. Nhưng bất khả. Ông tự nhận thấy mình thiếu những điều kiện thiết yếu về cả chủ quan và khách quan để làm một ẩn sĩ như “ông Đào”. Đấy là bi kịch, là nỗi dằn vặt, hổ thẹn, đáng cười và cũng đáng khóc của Nguyễn Khuyến(10).

Cùng thời với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, có Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1724 - 1791) - người đã từng nghiên cứu binh thư, võ thuật, tham gia trận mạc,… nhưng rồi tập trung theo ngành y, và trở thành bậc đại danh y. Hướng “xuất”/ “hành” của Lê Hữu Trác cũng tránh “chính sự”, không ra làm quan mà về ở “ẩn” – “ẩn” nhưng lại chăm lo làm thuốc, trước thuật, dạy người, cứu nhân độ thế. Cách giải bài toán “xuất”, “xử” của Lê Hữu Trác nhờ tính đặc thù của nghề y và năng lực ưu trội của ông về cả y đức, y lý và y thuật, ông dễ tránh được những pha “cân não” trong lựa chọn “xuất”, “xử”, trong các mối liên hệ chính sự/ chính trị như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp.

Đối với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723 - 1804), vấn đề “xuất”, “xử”/ “hành”, “tàng” thực sự là cả một hệ bài toán đau đầu, liên tục phải tìm lời giải (Đối tượng mời gọi ông cộng tác “chính sự”, liên tục và trực tiếp là các đấng “Thiên tử” thuộc nhiều triều chính, từ chúa Trịnh Sâm, vua Quang Trung, đến vua Cảnh Thịnh, rồi Gia Long). Dữ kiện, yêu cầu của các bài toán “xuất”, “xử” và các lời giải của ông khác nhiều với các nhà Nho khác. Chính vì thế, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp trở nên một hiện tượng hết sức đặc biệt.

(1). Lao Tử, Thịnh Lê chủ biên, Từ điển Nho, Phật, Đạo (nhiều người dịch), Nxb Văn học, TP. HCM, 2001, tr.1063-1064.

(2). Từ năm 136 Tr.CN, vua Hán Vũ Đế đặt chức Ngũ kinh bác sĩ, từ đó có Ngũ kinh: Dịch, Thi, Thư Lễ, Xuân Thu.

Lại có thuyết cho rằng Ngũ kinh chỉ Thi, Thư, Lễ, Xuân Thu…

(3). Kinh dịch (Hệ từ thượng/ 繫辭上): “Quân tử chi đạo, hoặc xuất hoặc xử”/ 君子之道, 或出或處.

(4). Tử vị Nhan Uyên viết: “Dụng chi tắc hành, xá chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ hữu thị phu!” (Nguyên văn: 子谓颜渊曰:“用之则行,舍之则藏,惟我与尔有是夫”. Nguyễn Hiến Lê dịch: Khổng tử bảo Nhan Uyên: “Có ai dùng thì ta đem đạo ra thi hành, không dùng thì thu tàng (giữ) đạo lí, chỉ thầy và anh được như vậy thôi!”, Luận ngữ (Khổng Tử), theo bản Nguyễn Hiến Lê, Luận ngữ & Khổng Tử, Thiên Thuật nhi (VII.10), https://thuviensach.vn.

(5). Xin xem: Biện Minh Điền, “Vấn đề tác giả và loại hình tác giả văn học trung đại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 4 (398), Tháng 4 - 2005, tr.81- 90.
(6). Nguyễn Trãi, Quốc âm thi tập, trong Nguyễn Trãi toàn tập (UBKHXHVN - Viện Sử học tổ chức biên soạn), Nxb Khoa học xã hội, TP. Hồ Chí Minh, 1976, bài109, tr.432.

(7). Nguyễn Trãi, Ức Trai thi tập, trong Nguyễn Trãi toàn tập, Sđd, bài Quan hải, tr.280.

(8). Ngô Thì Nhậm tác phẩm (Mai Quốc Liên chủ biên) tập II (Bài phú lòng thanh thản Thiên quan thái nhiên phú), Nxb Văn học & Trung tâm nghiên cứu Quốc học, TP. HCM, 2001, tr.17 - 25.

(9). Xin xem: Biện Minh Điền, “Sự thống nhất những đối cực trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Công Trứ”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3 – 2009, tr.28 – 41.

(10). Xin xem: Biện Minh Điền, Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2008.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...