La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là người nói trực tiếp nhiều đến lẽ “xuất”, “xử”, cả trong sáng tác và trước thuật. So với văn xuôi - nhất là Hạnh Am ký được viết năm 1782, lúc ông đã 60 tuổi (tính theo tuổi âm lịch), thơ được ông viết từ sớm, ngay từ lúc còn trẻ, khi vừa đậu Hương giải/ 1743.
Do đặc trưng thể loại, thơ, nhất là thơ thời cổ - trung đại, bao giờ cũng là tiếng nói chân thực, xuất phát tự đáy lòng. Trong thơ, ít nhất, có 15 lần, La Sơn Phu Tử nói đến lẽ “xuất”, “xử”/ “hành”, “tàng”. Suy cảm này vừa được bộc lộ ở mặt chữ (khái niệm), vừa biểu hiện ở chiều sâu cảm nhận. Trong bài Sĩ các hữu chí/ Kẻ sĩ mỗi người một chí hướng (1743), ông viết:
Đa thiểu anh hùng sản vực trung
Kỳ vi chí dã bất tương đồng
Xuất tư kiêm thiện công quang thế
Xử tất thâm tàng đạo tuẫn cung
(Biết bao kẻ anh hùng sinh ra ở đời này/ Mỗi người có một chí hướng, không ai giống ai./ Người ra làm quan làm điều thiện, công lao sáng cả cõi đời/ Kẻ đi ở ẩn giấu kín một nơi, giữ trọn đạo lý)
Có thể xem đây như là một “tuyên ngôn” của ông về chí hướng của kẻ sĩ. Mỗi người có một chí hướng, không ai giống ai. Có thể “xuất” hoặc “xử” tuỳ lựa chọn của từng người. Vấn đề quan trọng đáng nói là mục đích, ý nghĩa cao đẹp của hướng ứng xử mà mình lựa chọn. Một mặt, ông không phủ định hướng “xuất”: ra làm quan, hành đạo. Mặt khác, ông rất coi trọng lối “xử”: về ở ẩn, giữ đạo. Cả hai hướng lựa chọn đều phải đảm bảo yêu cầu của “Đạo người quân tử”: “Xuất” - ra làm quan, phải làm điều thiện, phải đóng góp công lao cho thế sự, cuộc đời; “Xử” - đi ở ẩn, phải giữ trọn được đạo lý và có trách nhiệm với thế cục, nhân gian. Vì thế:
Thời tai thân khuất phương vi chính
Thị đạo dư tương miễn dụng công
(Tuỳ thời cơ, co hay duỗi đều là điều phải/ Ta sẽ gắng công để làm theo đạo ấy - Sĩ các hữu chí)
Tiếp mạch cảm hứng “xử”, ông bộc lộ:
Ẩn dật gia lưu chí tự cao (Những kẻ ẩn dật là chí tự cao) Ẩn tàng hạnh ngã năng trì tĩnh (Ẩn tàng may ta dễ bề giữ mình - Phúc Đặng Điền Phạm Thạch Động/ Đáp thơ ông Phạm Thạch Động ở Đặng Điền)
Lại ẩn lâm cư nhậm sở chỉ
(Ẩn tại nơi lại mục hay ở chốn núi rừng)… - Phù Thạch phùng lão ngư/ Gặp ông lão đánh cá ở Phù Thạch)
Và ông xác định:
Vị tất trì khu thương ẩn luân
(Cần gì phải rong ruổi, chỉ nên đi ở ẩn mà thôi - Ký Bình Hồ chư hữu/ Gửi các bạn ở Bình Hồ)
Tảo vãn phi mao thành tiểu ẩn
(Sớm muộn ta cũng sẽ dựng lều tranh ở ẩn - Đặng nghĩa Liệt Sơn/ Lên núi Nghĩa Liệt)
La Sơn Phu Tử là người kiệm lời, “cần gì phải nhiều lời”/ “hựu hà dĩ đa ngôn vi” (Hạnh Am ký), nói đi đôi với làm, nói được, làm được:
Cư thân ngô chí định
Trường ức Lạp Phong am
(Chí ta đã định an cư Nhớ mãi am Lạp Phong - Bạc Nam ngạn tự/ Đỗ thuyền ở chùa Nam Ngạn)
Ngoái nhìn các gương ẩn sĩ trong quá khứ ở cả Việt Nam và Trung Hoa, La Sơn Phu Tử nhận thấy đã có bao nhiêu người đi ở ẩn:
Thao thao ẩn giả lưu
(Thừa phục/ Thơ phúc đáp Bùi Huy Bích)…
Ông nói nhiều đến Đào Tiềm (Đào Uyên Minh) và hết sức nể trọng Đào Tiềm:
Cảm ngôn ẩn hối Đào trung quân
9Đâu giám so sánh với ông Đào Tiềm - Sơn cư tác/ Viết khi ở núi)
Sau La Sơn Phu Tử hơn 100 năm, có Tam Nguyên Yên Đổ (Nguyễn Khuyến) cũng nói nhiều đến Đào Tiềm và từng có giấc mộng làm một “Ông Đào”, nhưng không thể, bi kịch, vì thế “nghĩ ra lại thẹn”… La Sơn Phu Tử đã có lúc nhận mình là “ông Đào” (mặc dầu “không giám so sánh với ông Đào”). Ông biết mình có điều kiện để làm một ẩn sĩ như “Ông Đào” (thuận lợi hơn Nguyễn Khuyến về sau). Về chủ quan: La Sơn Phu Tử tự đào được giếng mà uống, tự cày được ruộng mà ăn (“tự cấp, tự túc”. Về khách quan: không gian ở ẩn, chốn núi rừng thời La Sơn Phu Tử chưa bị ngoại bang chiếm giữ, khai thác như thời Nguyễn Khuyến về sau). Và đây, trên đỉnh Lạp Phong, xuất hiện một “Ẩn phu” khác hẳn, có một không hai:
Lạp Đính sơn trung cuồng ẩn phu
(Có một kẻ cuồng ở ẩn trên núi Lạp Phong - Kinh Hắc Đế tư/ Qua đền Mai Hắc Đế)
Yên hà ẩn độn tình
(Ẩn sĩ ráng mây tình - Doanh trại tự thuật, I/ Ở trại tự thuật, I)
La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chủ động lựa chọn hướng “xử” (ẩn/ tàng) ngay từ đầu, ngay khi vừa đậu Hương giải (1743), khi con đường công danh đã bắt đầu rộng mở, đầy hứa hẹn. Và rồi, ý định ấy trở nên thường trực, theo ông suốt cả cuộc đời. Vậy, tại sao ông không “li khai” hẳn được hướng “xuất”, vẫn “dính” vào “chính trường”, vẫn làm quan (ít nhất là 13 năm)?
Ông cho biết, ông bị bệnh “cuồng dĩ” từ trước khi thi Hương (20 tuổi): “Ta tự bỏ mình, từ biệt việc đời mà ẩn náu trong rừng núi, kẻo sợ bệnh không thôi hẳn. Bởi vậy, ta bỏ hết học khoa cử, chuyên đọc các sách Tính, Lý, Tứ thư, Ngũ kinh đại toàn” (Hạnh Am ký)(12)... Vì nhiều lý do bất khả kháng, ông lại phải “xuất” - một kiểu “xuất”/ “hành” độc đáo, có thể nói là “độc nhất vô nhị”: “xuất”/ “hành” dưới hình thức “xử”/ “tàng”, ẩn; “ẩn không ra ẩn hẳn; ra không ra hẳn”(13). Nghĩa là, “xử”/ “ẩn” nhưng vẫn không thôi “hữu trách” với chính sự; “xuất”/ “ra làm”, nhưng bằng cách đứng ngoài (theo cách nói hiện nay là “làm”, “chỉ đạo” từ xa).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét