Để dễ theo dõi hành trình “xuất”, “xử” của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, xin xem bảng tóm tắt dưới đây:
1723 (25.8/ Quý Mão) -Năm sinh
1741 (Tân Dậu) - Ra Thái Nguyên học, được Nguyễn Nghiễm dạy thêm. “Bắt đầu bị chứng cuồng dị” (Hạnh Am ký/ HAK)
1743 (Quý Hợi) - Thi Hương, đỗ Thủ khoa nhưng không thi Hội. “Bệnh vẫn còn”; “tự nghĩ: “ẩn náu chốn rừng núi” (HAK)
1744 (Giáp Tý) -Lên núi Nghĩa Liệt, Hồng Lĩnh; thăm chùa Hương,…
1748 (Mậu Thìn) - Ra Bắc dự thi Hội nhưng chỉ vào đến tam trường
1756 (Bính Tý) - Được bổ chức Huấn đạo ở Anh Đô (Phủ Anh Sơn, NA)
1757 (Đinh Sửu) - Bắt đầu lập trại ở núi Thiên Nhẫn (sau từ chức mới lên)
1768 (Mậu Tý) - Xin từ quan
1780 (Canh Tý) - Chúa Trịnh Sâm mời ra Thăng Long; can chúa không tiếm ngôi vua. Thăm Bạch Vân Am
2.1781 (Tân Sửu) - Trở về trại núi
1782 (Nhâm Dần) - Viết Hạnh Am ký
1786 (Bính Ngọ) - Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc… Khi về Phú Xuân, viết thư mời. Nguyễn Thiếp từ chối (không thể giúp) với 3 lý do: là thần tử nhà Lê; tuổi cao; tài hèn sức mọn.
8. 1787 (Đinh Mùi) - Nguyễn Huệ lại gửi thư mời. Lại khiêm nhường từ chối.
13.9. 1787 (Đinh Mùi) - Lần thứ 3, Nguyễn Huệ thư mời. Vẫn thoái thác.
4.1788 (Mậu Thân) - Nguyễn Huệ mời hội kiến. Xuống núi, hội kiến
Tháng 5 - tháng 9.1788 (Mậu Thân) - Tìm đất lập đô ở Nghệ An cho Nguyễn Huệ. Cuối 1788 (Mậu Thân) - Tham mưu cho Quang Trung thời cơ và kế sách đánh đuổi quân Thanh: “Nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút, sẽ khó lòng”.
Đầu xuân 1789 (Kỷ Dậu) - Sau đại thắng, Quang Trung lại mời: “Trẫm ba lần xa giá Bắc thành, Phu tử đã chịu ra bàn chuyện thiên hạ. Người xưa bảo: Một lời nói mà dấy nổi cơ đồ. Lời Phu tử hẳn có thế thật”. Biết ông không thích chính sự, vua nhờ giải quyết việc học thuật và “Chấn hưng giáo dục”.
1789 (Kỷ Dậu) - Khoa thi Hương đầu tiên dưới triều đại Quang Trung, được cử làm Đề điệu kiêm Chánh Chủ khảo. Ông khuyên nhà vua hòa hoãn với nhà Thanh để tập trung xây dựng đất nước. Sau khi giúp vua, Nguyễn Thiếp lại về núi
1791 (Tân Hợi) - Quang Trung lại cho mời vào Phú Xuân. Sau 3 lần từ chối, lần này ông nhận lời. Dâng lên vua bản tấu bàn về ba vấn đề: 1, “Quân đức”; 2, “Dân tâm”; 3, “Học pháp”.
20.8.1791 (Tân Hợi) - Viện trưởng Viện Sùng chính; dịch các sách: Tiểu học, Tứ thư,…
5.1792 - Dịch, chú các kinh: Thi, Thư, Dịch,…
16.9.1792 (Nhâm Tý) - Quang Trung mất. Nguyễn Thiếp trở về ẩn dật (trại núi Bùi Phong).
1801 (Tân Dậu) - Vua Cảnh Thịnh mời. Ông từ chối. Về trại Bùi Phong
1801 (Tân Dậu) - Nguyễn Ánh mời. Nguyễn Thiếp xin về trại Bùi Phong
06.2.1804 (Giáp Tý) - Mất. An táng tại nơi ông ở ẩn.
Dõi theo hành trình “xuất”, “xử” của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, không khó để thấy rằng ông vẫn kiên định, thống nhất với quan điểm, tư tưởng của mình: “xuất” hay “xử” đều xuất phát từ suy ngẫm sâu xa, thấu đáo về 3 điều kiện: 1, Hoàn cảnh cho phép khả năng đóng góp thực sự của mình; 2, Niềm tin ở bậc “minh chủ” mà mình lựa chọn; 3, Xu thế lịch sử mà mình dự cảm được.
Ở điều kiện 1 (Hoàn cảnh và khả năng đóng góp thực sự của mình), ông đã nhiều lần nói rõ những trở ngại (nhất là bị bệnh “cuồng”) trong các bản tấu, biểu, thư, Hạnh Am ký cũng như trong thơ ca.
Ở điều kiện 2 và 3 (bậc “minh chủ” tài, đức, đáng tin; xu thế lịch sử), ít ai bản lĩnh, dám bộc lộ chính kiến như La Sơn Phu Tử. Với chúa Trịnh Sâm (năm 1780, chúa Trịnh Sâm mời ông ra Thăng Long bàn việc chính sự, ông bất đồng, từ chối hợp tác vì hiểu mưu đồ muốn tiếm ngôi vua của nhà Trịnh(14). Với Nguyễn Huệ - Quang Trung, sau ba lần (cùng trong năm 1787), ông khéo léo từ chối lời mời, vì lý do cơ bản nhất là chưa chưa thấu hiểu và cần “dò xét” thêm bậc “minh chủ” vừa mới xuất hiện; phải đợi đến tháng 4.1788, khi đã đủ dữ liệu để hiểu Nguyễn Huệ - Quang Trung, ông mới nhận lời mời, xuống núi hội kiến; cho đến cuối 1788, ông sẵn sàng tham mưu cho Nguyễn Huệ về thời cơ và kế hoạch tiêu diệt quân Thanh xâm lược; từ đây, ông cộng tác đắc lực, hết mình với vua Quang Trung, trở thành vị quân sư và tri kỷ của Quang Trung.
Sau khi Quang Trung mất (9.1792), với vua Cảnh Thịnh (1801), ông từ chối lời mời. Với triều Gia Long (1801), ông cũng từ chối lời mời. Đáng chú ý là cộng tác hết mình với vua Quang Trung, nhưng La Sơn Phu Tử vẫn ở nơi ông ẩn cư. Và ông đã giúp vua Quang Trung làm được nhiều việc không dễ: làm Viện trưởng Viện Sùng chính; dịch từ chữ Hán sang chữ Nôm các sách Tiểu học, Tứ thư, các kinh Thi, Thư, Dịch; biên dịch, chú giải Kinh thi giải âm; soạn sách và dạy học, triển khai chấn hưng giáo dục… Chỉ tiếc là sau khi vua Quang Trung mất (tháng 9.1792), triều chính, lịch sử thay đổi, sự nghiệp của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đành dang dở.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét