Về gần cuối đời (1782), khi đã 60 tuổi, viết Hạnh Am ký, La Sơn Phu Tử bộc lộ những tâm sự, suy ngẫm mang tính đúc kết qua bao nhiêu nếm trải, quăng quật của mình: “Người ta ở đời, hoạ phúc như trở bàn tay. Người quân tử biết có mệnh mà không uỷ thác vào mệnh”, “Muôn sự tại mình”; “Riêng viết bài ký này chỉ mong cáo với đồng bào ta, những ai bị khốn đốn mà không hay tự chấn”; “Sinh sau các tiên sinh, chỉ lo đạo không hành được chứ không lo không hiểu rõ”(15)…
Những lời tâm sự ấy cùng toàn bộ trước thuật, sáng tác cũng như hành trình nhận thức và hoạt động ứng xử xoay quanh bài toán lớn “xuất”, “xử” của ông, có biết bao nhiêu thông điệp gửi hậu thế còn nóng hổi tính thời sự, nhất là trong bối cảnh hiện nay,
khi chúng ta phải đứng trước những thử thách khốc liệt về trọng dụng hiền tài; về đạo đức, nhân cách người cầm quyền; về niềm tin của người dân; về phương sách cải cách, chấn hưng giáo dục…
Cuối năm Tân Hợi/ 1791, nhận lời mời của vua Quang Trung, vào Phú Xuân bàn Quốc sự, La Sơn Phu Tử đã dâng lên vua bản tấu bàn về ba vấn đề: “Quân đức”, “Dân tâm” và “Học pháp”(16). Ở đây, cần phải hiểu và biết cách khai thác biện chứng của giá trị từ tư tưởng cùng các diễn ngôn (trong đó có bản tấu trên) và hoạt động thực tiễn dạy học, giáo dục của La Sơn Phu Tử, ít nhất là ở những vấn đề đang rất nóng hiện nay.
Trước hết, với vấn đề trọng dụng hiền tài (kẻ sĩ/ trí thức). Điều này có liên quan tới việc “cầu hiền”, “chiêu hiền” của chủ thể “cầm quyền”, nhưng hạt nhân của vấn đề là phải có sự hiện hữu đích xác của bản thân đối tượng là hiền tài. Tự bản thân La Sơn Phu Tử đã là một tấm gương (mặc dầu, không bao giờ ông có ý nêu gương, trái lại, tự khiêm đến mức tối đa) về con đường học hành và quá trình thực thi ý tưởng; về ý thức trách nhiệm đối với vận nước, vận dân; về nỗ lực đóng góp hữu ích cho đời những gì mình có thể. La Sơn Phu Tử là người mạnh mẽ, quyết đoán trong từ chối mọi ân sủng danh, lợi; sẵn sàng “bỏ ghế” chốn phồn hoa nhung lụa, chấp nhận “đứng từ xa” mà “hành đạo”; hoá giải hữu hiệu những xung đột giữa “xuất” và “xử”. Mọi việc, đúng như ông nói: “muôn sự tại mình”.
Con đường “hành đạo” của ông ở cả hai hướng “xuất” và “xử” phải nói là tỉnh táo, sáng suốt và độc đáo. Những đóng góp của ông cho đời về di sản tư tưởng, tri thức; về khả năng dự báo lịch sử và phương hướng xây dựng, chấn hưng giáo dục có ý nghĩa hết sức sâu sắc, bền vững. Người trí thức hiện đại có thể tìm và tiếp thu những bài học kinh nghiệm quý báu từ ông, từ việc tu dưỡng vốn sống tự lực, sáng tạo; việc lựa chọn và thực thi hướng ứng xử mà mình xác quyết (cái khó của các hướng lựa chọn là hướng nào cũng phải gắn với nghĩa lớn, nhất là sự hưng, vong của quốc gia, sự hạnh phúc và bất hạnh của người dân) đến việc hình thành nhân cách, bản lĩnh, chính kiến, danh dự và vị thế của người trí thức chân chính.
Thứ hai, vấn đề đạo đức, nhân cách của người lãnh đạo/ cầm quyền (biện chứng từ vấn đề “Quân đức” mà La Sơn Phu Tử đề xuất). Ông từng “cẩn tấu”/ yêu cầu: nhà vua phải “làm thế nào để có đức”, phải “dốc lòng tu đức”, “Vua dốc một lòng tu đức, ấy là gốc của vạn sự”. Ông khuyên vua cũng phải học và xác định: “Từ xưa thánh hiền chưa có ai không bởi sự học mà có đức”(17). Đây cũng chính là điều mà từ thế kỷ X, Thiền sư Đỗ Pháp Thuận (915 - 990) đã trả lời vua Lê Đại Hành một cách thâm viễn về sự tồn tại muốn lâu dài của vận nước đòi hỏi bậc quân vương phải biết “vô vi”, tức phải có đức – trí, biết tập hợp muôn dân, thông hiểu chân lý, quy luật của mọi sự vật, hiện tượng(18). Sức thuyết phục của việc “cầu hiền”, “chiêu hiền”, thu hút và sử dụng người tài cũng xuất phát từ đây. Vua Quang Trung Nguyễn Huệ là một trường hợp như vậy. Giới chức cầm quyền/ lãnh đạo hiện đại có suy ngẫm gì từ thông điệp về sự khẩn thiết, thực tâm, chân thành, kiên nhẫn đến cùng trong “cầu hiền”, trọng dụng người tài như Quang Trung Nguyễn Huệ đối với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp?
Thứ ba, vấn đề lòng dân, niềm tin của dân (“Dân tâm”) – thành tố gốc đảm bảo sự bền vững của mọi chế độ, mọi quốc gia, bởi “Dân là gốc nước, gốc vững nước mới yên” (lời La Sơn Phu Tử). Tấu lên nhà vua, một mặt, ông trình bày rõ thực trạng cuộc sống dân tình lúc bấy giờ: “Dân mất mùa”, “kẻ cùng quẫn không thể kêu”, “Nhà nước thì võ uy có thừa mà ân trạch chưa ban ra khắp; tiếng sầu oán dậy đường sá”... Mặt khác, ông khẩn thiết mong nhà vua phải thực sự thương dân; phải sâu sát, thấu hiểu số phận, hoàn cảnh và mức sống cơ cực, nghèo đói của dân; nắm chắc đặc điểm các thành phần cư dân cũng như đặc điểm từng vùng đất, ruộng vườn của dân, từ đó có những đường hướng, phương sách phù hợp về thuế má, về hỗ trợ, cứu giúp dân,.. Có như thế mới quy thuận được lòng dân(19). Làm thế nào để dân tin, để dân quy thuận? Câu hỏi cháy bỏng mà La Sơn Phu Tử tấu lên/ đặt ra cho Quang Trung Nguyễn Huệ cùng những đường hướng và giải pháp mà ông đưa ra, thực chất cũng là những yêu cầu cần thực thi đang nóng lên từng ngày hiện nay.
Thứ tư, vấn đề xây dựng và chấn hưng giáo dục, dạy – học (biện chứng từ quan điểm và thực luận về “Học pháp” của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp)
Khái niệm “Học pháp” mà La Sơn Phu Tử dùng, nghĩa đen, nghĩa hẹp là phép học - cách học - phương pháp học, nói rộng ra là phương pháp dạy - học, giáo dục. Vấn đề này, ông không chỉ có trình bày riêng trong bản tấu dâng lên vua Quang Trung. Ở các loại diễn ngôn khác (trước thuật, ký, thơ) cũng như qua hoạt động thực tiễn (dạy học, biên soạn sách, quản lý Viện Sùng chính), La Sơn Phu Tử đều đề cập đến “Học pháp”, rộng hơn nữa là vấn đề xây dựng và chấn hưng giáo dục, dạy – học.
Luận về “học pháp”, La Sơn Phu Tử tập trung xoáy sâu vào năm nội dung cơ bản: 1, Vai trò quan trọng hàng đầu của “Học pháp” trong hướng đạo và hình thành nhân cách con người (“Ngọc không chuốt không thành đồ, người không học, không biết đạo. Đạo là những lẽ thường để làm người”). 2, Phê phán lối học “cầu công lợi”, phi “Chính học”, dẫn đến hậu quả khôn lường (“Người ta chỉ tranh đua nhau tập việc học từ chương, cầu công lợi”; “Chúa tầm thường, tôi nịnh hót, quốc phá, gia vong, những tệ kia đều ở đó mà ra”). 3, Đối tượng học và nơi học cần được linh động xem xét (“Cúi xin từ rày, ban hạ chiếu thư cho trường phủ, huyện, khiến thầy trò các trường tư, con cháu các nhà văn, võ, thuộc lại ở các trấn cựu triều, đều tuỳ đâu tiện thì học”). 4, Nội dung và trình tự dạy - học (“Phép dạy, nhất định theo Chu Tử. Trước học Tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên, rồi đến Tứ thư, Ngũ kinh, chư sử”). 5, Phương pháp học (“Học cho rộng rồi ước lược cho gọn, theo điều học biết mà làm”).
Trong thơ, La Sơn Phu Tử cũng từng nhấn mạnh việc học phải theo hướng “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa” (quý cái tinh chứ không phải quý cái nhiều), học phải biết “động não” suy luận:
Học phi dục tạp tu tri bác Thư đồ bất đa duy quý tinh
(Học đừng vụn vặt, cần biết suy cho rộng Sách chẳng cần nhiều mà cốt tinh - Sơn cư tác/ Viết khi ở núi)(20).
Trong 5 luận điểm về “Học pháp” của La Sơn Phu Tử, trừ luận điểm thứ tư (Nội dung và trình tự dạy - học) không còn phù hợp với thời đại ngày nay, bốn luận điểm còn lại, đặc biệt các luận điểm 1, 2, 5 hãy còn có sức sống mãnh liệt, hoàn toàn có thể tham khảo, vận dụng vào việc biên soạn chương trình, sách giáo khoa và hoạt động dạy – học trong bối cảnh (những năm hai mươi của thế kỷ XXI) chúng ta đang đứng trước nhiều thử thách phức tạp khi thực hiện mục tiêu “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo”…
Trong thời gian làm Viện trưởng Viện Sùng chính, từ công việc trước tác, biên soạn sách đến hoạt động dạy học, La Sơn Phu Tử đã hiện thực hoá được phần lớn tư tưởng “Học pháp” nói riêng cũng như khát vọng chấn hưng giáo dục, dạy – học nói chung. Ông đã dịch hàng loạt công trình, tác phẩm từ chữ Hán sang chữ Nôm(21) (tiếng Việt), thực hiện chủ trương của vua Quang Trung: đề cao chữ Nôm, đưa chữ Nôm trở thành văn tự chính thức, chuẩn bị những điều kiện thiết yếu cho chế độ giáo dục, khoa cử theo hướng chấn hưng, đổi mới... Thật tiếc, sau khi Quang Trung đột ngột mất (tháng 9.1792), sự nghiệp của La Sơn Phu Tử phải dừng lại. Đấy là nỗi đau, là bi kịch của dân tộc và thời đại…
(14). Xin xem Hoàng Xuân Hãn, La - Sơn - Phu - Tử, Nxb Minh Tân, Paris VI, 1952, tr.91.
(15). La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Hạnh Am ký (nguyên văn bằng chữ Hán), theo bản của Nguyễn Sĩ Cẩn, Sđd, tr.199 – 204.
(16). La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Tấu bàn về ba việc với Quang Trung, xem Hoàng Xuân Hãn, La - Sơn - Phu - Tử, Nxb Minh Tân, Paris VI, 1952, tr.144-147.
(17 ). La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Tấu bàn về ba việc với Quang Trung, Sđd, tr.144.
(18). Đỗ Pháp Thuận, Quốc tộ (Vận nước), Tổng tập văn học Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr.219.
(19). La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Tấu bàn về ba việc với Quang Trung, Sđd, tr.145.
(20). Thơ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (Nguyễn Sĩ Cẩn biên soạn), Sđd, tr.185.
(21). Vua Quang Trung đã có chiếu khen La Sơn Phu Tử dịch Tiểu học, Tứ thư và giục dịch các kinh Thi, Thư, Dịch,… Xem Hoàng Xuân Hãn, La - Sơn - Phu - Tử, Nxb Minh Tân, Paris VI, 1952, tr.151.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét