Văn học thiếu nhi từ lâu đã trở thành một bộ phận có vị trí đặc biệt trong mỗi nền văn học dân tộc. Nó được xem là hành trang quan trọng cho trẻ em trên suốt đường đời, bởi lẽ những gì lưu giữ trong thời niên thiếu rất khó phai mờ. Thực tế, không ai không thừa nhận vai trò của văn học thiếu nhi đối với việc bồi dưỡng tâm hồn, cao hơn là xây dựng nhân cách cho các thế hệ trẻ thơ.
Do vậy, khi viết cho thiếu nhi, các nhà văn phải hướng đến giáo dục cho các em những bài học bổ ích, tạo thành hành trang để trẻ bước vào đời. Khi sáng tạo nên những câu chuyện cổ tích hiện đại của mình, Nguyên Hương cũng rất chú trọng đến tính giáo dục này.
Từ bao đời nay, truyện cổ tích luôn thu hút các em nhỏ. Qua lời kể của bà, của mẹ, những câu chuyện ấy đã thấm sâu vào tâm hồn của trẻ và theo trẻ suốt cuộc đời. Cô Tấm, anh Khoai hiền lành, tốt bụng nên được sống hạnh phúc; Lý Thông, Cám, mụ dì hẻ tham lam, độc ác nên bị trừng phạt… đó là những bài học đầu tiên của trẻ. Tuy nhiên, vì truyện cổ dân gian không chỉ dành riêng cho trẻ em nên một số câu chuyện không mang tính giáo dục, thậm chí phản giáo dục. Ý thức được điều đó nên các nhà văn hiện nay đã sáng tạo ra một thể loại mới – Truyện cổ tích hiện đại. Thể loại này, một mặt, sáng tạo theo thi pháp chung của thể cổ tích với nhiều chi tiết kì ảo, nhiều biến cố bất ngờ… nên rất thu hút các em nhỏ; mặt khác, vì viết dành riêng cho trẻ nhỏ nên mang tính giáo dục rất cao.
Trong bài viết “Làm sao để viết cho các em hay hơn” đăng trên Tạp chí văn học (số 5-1993), Phạm Hổ - cây bút chuyên viết cho thiếu nhi khẳng định hai nhiệm vụ cần làm song song của văn học cho trẻ em: Một là, góp phần giải quyết những vấn đề trước mắt, nóng hổi của cuộc sống, của xã hội. Hai là trang bị cho các em những tình cảm, tư tưởng về lâu về dài: lòng nhân ái, tình yêu thương quê hương, lòng trung thực...
Nguyên Hương đã thực hiện xuất sắc những yêu cầu đó. Chị thấy được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng tâm hồn cho thiếu nhi. Do đó, bằng lối đi riêng của mình, Nguyên Hương đã tạo ra những món ăn tinh thần cần thiết cho các em. Qua những câu chuyện cổ tích ấy, chị đã đánh thức được những tình cảm cao quý trong lòng, thức dậy những tiềm năng quan trọng của trẻ về khả năng quan sát thế giới để từ đó biết sống và sống tốt hơn. Tuy không cao giọng giáo huấn, nhưng qua những câu chuyện viết ra, Nguyên Hương hướng trẻ đến với nhiều bài học bổ ích.
Trước hết, đó là những bài học giáo dục về tình cảm gia đình. Với trẻ em, không gì gần gũi và thân thiết bằng gia đình, và cũng có biết bao điều thú vị nảy sinh từ môi trường ấy. Nguyên Hương dẫn dắt người đọc khám phá những điều thú vị về không gian quen thuộc ấy. Nhà văn luôn biết tạo ra những tình huống đặc biệt để tình yêu thương tự nó thể hiện một cách ý nghĩa nhất, trọn vẹn nhất. Chữ A và chữ E; Sự tích cầu vồng; Cha, mẹ, con và cá vàng…là những chuyện tiêu biểu.
Ông bà ta từng dạy “Anh em như thể tay chân / Anh em đùm bọc hai thân vui vầy". Nguyên Hương đã cụ thể hóa nội dung lời dạy ấy bằng một câu chuyện rất cảm động: Chữ A và chữa E. Không giống như truyện Ăn táo trả vàng, hai anh em ở đây rất yêu thương nhau. Người anh đã hi sinh bản thân, vất vả làm lụng để nuôi em ăn học. Người em cũng luôn kính trọng và biết ơn anh mình. Khi anh đưa ra quyết định chia của, người em đã chủ động đề xuất một cách chia để phần hơn cho anh mình: “Anh là chữ anh, trong chữ anh có chữ A, vậy thứ gì có chữ A thì thuộc về anh. Em là chữ em, Trong chữ em có chữ E, vậy thứ gì có chữ E thì thuộc về em”. Không chỉ thế, người em, sau khi đỗ Trạng nguyên, từ chối cơ hội trở thành phò mã và nhường cho anh. Nguyên Hương đã dẫn dắt chúng ta đến với tình anh em thắm thiết và đầy cảm động. Vì tấm lòng yêu thương lẫn nhau ấy, hai anh em đã được đền đáp xứng đáng bằng cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc đến cuối đời.
Sự tích cầu vồng cũng là một câu chuyện giàu tính giáo dục về tình cảm anh chị em trong gia đình. Với sự vô tâm, hời hợt, các cô em đã mãi mãi đánh mất đi người chị hết lòng yêu thương mình. Còn nàng Vân, tuy chết đi nhưng lại hóa thân thành cầu vồng. Tấm lòng yêu thương các em, hi sinh hết mình vì các em của cô mãi rực rỡ như cầu vồng.
Tình cảm cha mẹ và con cái được tái hiện qua truyện Cha, mẹ, con và cá vàng. Đứa con hời hợt, nông nổi nên phải trả giá bằng việc mãi mãi sống trong kiếp cá vàng dưới thủy cung. Dù hối hận vì không nghe lời cha mẹ nhưng tất cả đã muộn. Với trẻ em, tình yêu thương không cần và không nên chỉ được diễn giải bằng những lí thuyết suông mà phải là những hành động rất cụ thể trong những hoàn cảnh cũng rất cụ thể. Chú cá vàng kia có lẽ là một tấm gương để các em nhỏ nhìn vào đó để điều chỉnh hành vi của mình.
Những câu chuyện về tình cảm gia đình trong truyện của Nguyên Hương đã tạo lập nên một thế giới tình cảm giàu đẹp, phong phú và mang giá trị nhân bản tươi sáng. Nó có ý nghĩa lớn đối với thế giới tâm hồn của bất cứ người nào khi trải qua thời thơ ấu để được lớn khôn trong cuộc sống sau này.
Trong nhiều câu chuyện, Nguyên Hương hướng đến giáo dục các em những bài học làm người bổ ích. Đó là đức tính cần cù, nhẫn nại trong công việc (Tấm thảm bay; Vì sao con nhện có 8 chân…). Ban đầu vì tính ham chơi nên Linh đã bỏ dở việc làm hàng rào của bà tiên nên bị bà dạy dỗ bằng cách trao cho nửa chiếc thảm bay. Chiếc thảm ấy không thể khiến chàng bay đến nơi chàng muốn đến. Sau đó, chàng gặp cô gái con của thần thảm bay. Nhìn thấy những tấm thảm mà cô dành hết tâm huyết để dệt ra chỉ còn một nửa (một nửa còn lại bị cắt ra để dành cho những kẻ thiếu kiên nhẫn như Linh), chàng đã thực sự tỉnh ngộ.
Trải qua nhiều biến cố, Linh đã nhận được bài học về lòng kiên nhẫn và cũng tìm được tình yêu đích thực của đời mình. Còn trong Vì sao con nhện có 8 chân, vì thói ham chơi, ham ngủ mà phù thủy Xí Xọn phải trả giá bằng việc phải sống kiếp nhện suốt đời. Còn nàng Dương khéo tay, chăm chỉ cuối cùng sống hạnh phúc bên hoàng tử. Qua những câu chuyện ấy, trẻ sẽ học được nhiều bài học bổ ích về sự kiên nhẫn và tận tình trong công việc.
Những người tham lam, độc ác không bao giờ có một kết thúc tốt đẹp. Ăn táo trả vàng, Khăn Xanh, Khăn Đỏ; Vịt đẻ trúng vàng, Vùng đất bị phù phép…là những câu chuyện minh chứng cho bài học đó. Cũng như người anh trong truyện cổ dân gian Cây khế, người anh trong Ăn táo trả vàng cũng phải trả giá cho những hành động của mình. Tuy không trả giá bằng cái chết, nhưng anh ta cũng bị một phen kinh hãi và nhận ra một bài học nhớ đời. Lão phú ông trong Vùng đất bị phù phép cũng bị trừng phạt khi quá tham lam, khi chỉ muốn làm lợi cho bản thân mình mà không để ý đến nỗi vất vả của người khác nên cuối cùng bị trừng phạt.
Luôn ý thức để trở thành người bạn của thiếu nhi, dẫu biết “Viết cho trẻ em là một công việc khó nhọc” (L.Tônxtôi), Nguyên Hương đã xác định rõ đối tượng sáng tác và tiếp nhận với những đặc điểm tâm sinh lí và ý thức thẩm mĩ riêng. Để nâng cao khả năng tác động và giáo dục các em, ngoài việc học tập theo thi pháp truyện cổ tích, chị có có nhiều sáng tạo trong nghệ thuật kê chuyện.
Trong lúc dựng truyện, Nguyên Hương luôn hướng tới đối tượng trung thành là các bạn đọc nhỏ tuổi của mình. Vì vậy, trong tập truyện, tác giả ít khi đề cập đến những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc như trong truyện dân gian. Nguyên Hương không miêu tả những mụ dì ghẻ tán tận lương tâm, hết lần này đến lần khác hãm hại con chồng như Tấm Cám, không có những người anh nhẫn tâm đẩy em mình vào cảnh khốn cùng, không mảnh đất cắm dùi như ông anh trong Cây khế…
Vẫn là môtip chia của nhưng trong Ăn táo trả vàng, người anh lại dùng cách oẳn tù tì để phân thiệt hơn chứ không dùng uy quyền của kẻ làm anh và anh ta cũng không chiếm trọn gia tài của bố mẹ. Dù tham lam may túi chín gang để đựng vàng nhưng người anh vẫn không quên cầm thêm túi ba gang của cậu em để đem về cho em chút ít của cải. Hay, mụ phù thủy trong Gương thần, dù không ưa gì nàng công chúa dễ thương nhưng cũng chỉ biến nàng thành vịt chứ không năm lần bảy lượt tìm cách trừ cỏ tận gốc như trong Bạch Tuyết và bảy chú lùn.
Thế giới truyện cổ tích là thế giới của những giấc mơ đẹp đẽ vô ngần, chúng ta đến với thế giới cổ tích là để sống với những ước mơ, mong muốn cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Tâm lý của người sáng tạo truyện cổ tích và những người đọc cổ tích là đón chờ một điều gì đó công bằng, tốt đẹp, nhìn thấy cái thiện được thưởng xứng đáng và cái ác bị trừng trị - “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”. Do vậy, kết thúc truyện cổ tích luôn có hậu. Nguyên Hương cũng kế thừa lối kết thúc có hậu đó. Phần lớn các câu chuyện của chị đều kết thúc viên mãn, người tốt được báo đáp, người xấu bị trừng phạt. Nàng Ly, vì lòng tốt bụng, thương người cuối cùng chinh phục được vị vua trẻ và trở thành hoàng hậu (Nàng Ly và quái vật); Công chúa thoát kiếp vịt, sống hạnh phúc bên hoàng tử còn phù thủy Đỏm Dáng thì hiện hình là con chuột chù xấu xí (Gương thần), Huy giúp dân làng vượt qua khó khăn và có một tình yêu đẹp với nàng Dung khéo tay, tốt bụng (Những chiếc đèn thần)…
Cũng giống như những câu chuyện cổ tích dân gian, truyện của Nguyên Hương bộc lộ quan niệm cho rằng sự thật nhất định sẽ thắng dối trá, cái thiện bao giờ cũng thắng cái ác, cái tích cực trước sau cũng sẽ đè bẹp cái tiêu cực. Tuy nhiên, vì mâu thuẫn trong truyện không được xây dựng đến mức gay gắt, vì nhân vật phản diện không quá ác độc, xấu xa nên truyện của chị thường có kết thúc khá nhẹ nhàng. Cái xấu bị trừng phạt với những hình thức phù hợp với hành vi của họ nhưng không trừng phạt bằng cái chết. Lối xử lí như vậy vừa đảm bảo nguyên tắc của thể loại vừa không gây cảm giác thương tâm hay sợ hãi ở các bạn đọc nhỏ tuổi.
Yếu tố kì ảo cũng được tác giả sử dụng trong nhiều truyện. Theo khảo sát, có 31/40 truyện của Nguyên Hương có xuất hiện yếu tố thần kì. Ở một số truyện, yếu tố thần kì giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển cốt truyện và sự chiến thắng của những nhân vật thiện lương (Tấm thảm bay, Vịt đẻ trứng vàng, Gương thần, Cây dút kì diệu…). Tuy nhiên, ở một số truyện khác, hạnh phúc của nhân vật là do chính họ kiếm tìm và đạt được chứ không phải do thần, tiên hay một lực lượng siêu nhiên nào đó mang lại. Trong Sáu lần biến hóa, Bà Tiên đã giúp Kha biến hóa nhiều lần theo nguyện vọng của chàng. Nhưng lúc mâu thuẫn đến cao trào, con ngựa (hóa thân của chàng Kha) không thể giải thích cho vua hiểu những gì đang diễn ra thì bà tiên già đã ngủ say. Kha đành phải dùng sự bình tĩnh và gan dạ của mình để giải quyết. Hay trong Viên ngọc bùa mê, nàng My ban đầu làm hoàng tử chú ý nhờ phép màu của viên ngọc, nhưng cái quyết định nàng trở thành vợ hoàng tử không phải do viên ngọc mà là do chính tấm lòng thiện lương, trong sáng của nàng.
Trong một số truyện khác, yếu tố kì ảo cũng không còn quyền năng vô biên như trong truyện dân gian. Cậu bé mãi phải sống trong kiếp cá vàng (Cha, mẹ, con và cá vàng) dù cậu đã nhận ra sai lầm của mình; Chiến tranh thỉnh thoảng vẫn xảy ra, đất đai nhiều chỗ vẫn chỉ toàn sỏi đá (Hai viên ngọc ước) dù Tiên Nhỏ đã biết lỗi… Như vậy, nhân vật luôn phải trả giá cho những hành động không đúng của mình, không một lực lượng siêu nhiên nào có thể giúp được. Với việc xử lý như vậy, tính giáo dục của truyện Nguyên Hương được nâng lên rất nhiều.
Giọng kể trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyên Hương đủ “trẻ” để các em soi bóng thấy mình trong đó nhưng vừa đủ “già” để răn dạy cho bạn đọc nhỏ tuổi nhận thức các vấn đề quan trọng thiết thực của cuộc sống. Điều hòa được giọng kể, ngôn ngữ kể giữa hai cái “tôi” để sao cho truyện không ngô nghê, thô vụng nhưng cũng không già cõi, khô lạnh là một thử thách không nhỏ đối với người cầm bút. Nguyên Hương thường tạo những khoảng trống lửng lơ ở cuối truyện để các em tự mình chấp đôi cánh tưởng tượng, tự mình rút ra bài học riêng. Như vậy, bước vào khu vườn cổ tích của Nguyên Hương, người đọc lắng nghe được giọng điệu hồn nhiên, ngây thơ của trẻ và lắng nghe được cả những suy tư triết lí cần có cho cuộc đời rộng bước của các em khi trưởng thành.
Xuất hiện khi văn học thiếu nhi đã có nhiều thành tựu với nhiều tác phẩm xuất sắc, khi những kiệt tác văn học thiếu nhi thế giới tràn ngập trên thị trường nhưng truyện của Nguyên Hương vẫn có chỗ đứng nhất định trong lòng bạn đọc nhí. Ngoài nghệ thuật kể chuyện đặc sắc, truyện của chị còn hấp dẫn bởi tính giáo dục cao. Truyện Nguyên Hương thu hút các em vì thỏa mãn những vấn đề mà các em đang nghĩ, những giấc mơ mà các em đang ấp ủ. Lật giở từng trang sách, các em sẽ lưu giữ những hình tượng nhân vật giúp các em tìm thấy niềm vui, niềm tin. Hành động của nhân vật mà trẻ yêu thích sẽ tồn tại trong trí nhớ của các em và trở thành tấm gương để các em học tập.
Nguyễn Thị Hương Lài

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét