
Tây Nguyên không phải nàng thơ của muôn đời thi sĩ như một Hà Nội mùa thu vàng đầy lá me bay hay như Huế ảo mộng với bao đền đài, lăng tẩm. Tuy vậy, bất cứ ai đến vùng đất này đều đắm say trước vẻ đẹp riêng của nó. Mỗi vùng đất, mỗi vùng văn hóa đều có những nét đặc sắc, hấp dẫn độc đáo mà chỉ những người gắn bó với nó mới cảm nhận đầy đủ.
Đã có bao nhà thơ bị cuốn hút bởi nơi đây và để lại cho đời những thi phẩm tuyệt vời. Chúng ta có một Thu Bồn nặng nợ với Tây Nguyên từ những ngày đạn bom ác liệt, một Ngọc Anh tỏa sáng với “Bóng cây Kơ-nia” sừng sững được Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc, một Văn Công Hùng thích dạo chơi, ca hát trên những thảo nguyên đầy nắng… và có một Nguyễn Trọng Tạo – nhà thơ xứ Nghệ nhưng dành nhiều tình cảm cho vùng đất này.
Đời thơ Nguyễn Trọng Tạo là cả một quá trình tiếp thu vốn văn hóa, văn học của nhiều vùng đất và sự trải nghiệm của cuộc đời phiêu bạt. Sinh ra ở một làng quê nghèo thuần nông, mười lăm năm “lưu lạc” ở Huế và hiện tại đang sinh sống và làm việc ở mảnh đất “ngàn năm văn vật” – Hà Nội, Nguyễn Trọng Tạo đã thâu tóm vào mình những gì đẹp đẽ, lắng sâu nhất trong truyền thống văn học dân tộc. Ông “ham chơi”, thích rong ruổi dọc miền đất nước. Nhà thơ yêu quý tất cả những nơi mình đã đi, đã đến, trân trọng những gì đẹp đẽ mà mình đã tiếp thu được từ nền văn học dân tộc và thể hiện trong thơ mình một cách tự nhiên, chân thật nhất. Nguyễn Trọng Tạo viết khá nhiều về Tây Nguyên. Không biết cơ duyên nào đã đem nhà thơ đến với mảnh đất này, chỉ biết người thi sĩ ấy luôn dành một tình cảm đặc biệt với cảnh và tình nơi đây.
1. Cảnh
Tây Nguyên - mảnh đất hai mùa nắng mưa bao đời bạt ngàn nắng gió, mang trong nó vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Đến với Tây Nguyên, Nguyễn Trọng Tạo đã thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp hoang dại của núi rừng, sự hùng vĩ của những dòng thác ngày đêm rì rầm tuôn chảy và những tượng mồ kì bí:
Đàn bà khoe Âm, đàn ông khoe Dương
Hài nhi đàn bà ôm mặt buồn thương
Đây vợ địu con đây chồng săn bắn
Chim cú chim cu gật gù hoang vắng
(Tượng mồ)
Tượng mồ không chỉ đơn thuần là những bức tượng được nghệ nhân dân gian đẽo gọt mà còn chứa đựng cả một thế giới tâm linh đầy bí ẩn. Mỗi pho tượng đã được thổi hồn của con người, đất trời Tây Nguyên nên sinh động, lạ kì. Nhìn những tượng mồ dãi dầu mưa nắng, chống chọi với những bào mòn khắc nghiệt của thời gian, nhà thơ chạnh lòng cảm khái:
Chỉ còn tượng mồ phủ đầy lá dại
Chỉ còn thời gian mưa nắng dãi dầu
Chỉ còn Êđê Bana Giarai
Tượng mồ tượng mồ rữa mục hồn ai
Tây Nguyên còn là nơi sở hữu di sản văn hóa – không gian văn hóa cồng chiêng. Hòa mình vào không gian của tiếng chiêng, tiếng trống, con người có dịp thả hồn cộng cảm cùng vạn vật:
Đêm cộng cảm sáo đàn cồng chiêng trống cái
Lục lạc rung dây chuỗi tiếng hú dài
(Đêm cộng cảm)
Đến với vùng đất còn lưu giữ nhiều nét văn hóa đặc trưng của các cộng đồng dân tộc, Nguyễn Trong Tạo như choáng ngợp. Là người luôn trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, ông viết về di sản văn hóa Tây Nguyên bằng những vần thơ hào sảng.
Tây Nguyên không chỉ có những cảnh tượng hùng vĩ của vùng đất nắng gió mà còn đầy thơ mộng với một Đà Lạt – thành phố trong sương. Đà Lạt níu chân bao người đặt chân đến:
Hoa vũ hội thân thể hoa ngày nắng lạnh
Những con đường những triền đồi những căn phòng bừng khởi lõa thể hoa
(Đà Lạt và hoa)
Đà Lạt trong thơ Nguyễn Trong Tạo không thơ mộng cũng không mang vẻ đẹp của người thiếu nữ xinh đẹp nơi núi rừng Tây Nguyên mà ẩn hiện qua những kỉ niệm tình yêu của nhà thơ:
Em cười nói từ thuở nào thác đổ
Langbiang. Nghiêng. Thung lũng tình yêu.
(Mùa thu áo ấm)
Khác với vẻ đẹp thơ mộng xứ Huế - “cây chiều trút lá mong manh áo / sương khói qua cầu ướt mi cong” (Huế 2), Tây Nguyên quyến rủ, mạnh mẽ và đầy mê lực:
Rơi vào miệng núi lửa bao giờ mà anh không hay
Toàn thân ngập chìm hun húc
Ngỡ bên kia cũng đầy trời đầy nước
Nước ừng ực anh nước đẩy tung anh
(Cảm giác biển hồ hay bài thơ bên miệng núi lửa)
Thơ chưng cất từ tâm hồn và cảm xúc nhà thơ. Không thực sự yêu mến, đắm say cảnh đẹp nơi đây thì làm sao thi sĩ có thể viết nên những vần thơ đầy xúc cảm như vậy. Biển hồ đã hút hồn thi sĩ để nhà thơ hoàn toàn đắm chìm trong nó:
Rồi chết lịm trong vỗ về mơn trớn
Mười ngón dài thon của gió chiều
2. Tình
Đến với vùng đất thân quen nhưng cũng đầy bí ẩn, thi sĩ không ngại ngần thổ lộ lòng mình với cảnh và người nơi đây. Trong hành trình viễn du, phiêu bạt, không ít lần Nguyễn Trọng Tạo đắm say trước một làn tóc rối hay một cặp mắt đa tình. Đối diện với những cô gái Tây Nguyên xinh đẹp, phóng khoáng làm sao mà không nhớ, không thương. Bài thơ Rượu cần diễn tả rất hay cái tình nồng nàn, say đắm của một chàng trai dành cho cô gái nơi núi rừng.
Một can cho má em hồng
hai can anh đã vội trồng cây si
ba can đừng bỏ anh đi
anh buồn. Ghè rượu có khi lây buồn...
(Rượu cần)
Người con gái Tây Nguyên đẹp nhất là khi ngồi bên ghè rượu với ánh lửa bập bùng nơi góc nhà sàn. Lối nói lấp lửng, ỡm ờ của chàng trai trở nên đáng yêu và có duyên vô cùng. Cái tình lộ dần cùng sự tăng dần của số can mà anh uống, để rồi cuối cùng:
Chín can…rượu chẳng còn đâu
còn em hóa rượu. Cúi đầu, anh say...
Say rượu, say tình hay say thơ ta chẳng rõ, mà có lẽ cũng chẳng cần phân rõ. Lúc này em và rượu tuy hai mà là một - em hóa rượu còn đâu. Phải chăng ngay từ đầu, chẳng cần hơi rượu, anh đã “trồng cây si” nhưng vì nhút nhát hay lẽ gì đó mà đến lúc này anh mới cúi đầu thổ lộ cùng em. Lối nói vòng vo của ca dao tạo ra một hiệu ứng tuyệt vời cho bài thơ.
Tình yêu đâu chỉ có những rung động, ngượng ngùng trong buổi đầu hò hẹn, đâu chỉ có những đắm say, nồng cháy lúc bên nhau… nó còn có những khổ đau, nuối tiếc khi vô tình để “lỡ” mất:
Rồi xa lắc. Bỏ một trời nhung nhớ
Ơi mùa thu áo ấm đã mặc chung
Rồi biền biệt. Hoa vàng như hơi thở
Mimoza. Giọt nắng có theo cùng?...
(Mùa thu áo ấm)
Đà Lạt đẹp nhưng gợi buồn. Buồn vì dáng vẻ thơ mộng, bình yên ngàn đời của nó và buồn vì gắn với một tình yêu đã trở thành dĩ vãng. Là người gặp nhiều bất hạnh trong hạnh phúc riêng tư, nỗi buồn, cô đơn ngập tràn trong thơ Nguyễn Trọng Tạo. Nhưng có lẽ chỉ khi ở nơi đây – một Đà Lạt mộng mơ, cái buồn kia mới dâng lên rợn ngợp trong lòng. Thành phố hoa mang đến cho con người sự tĩnh tại, an nhiên trong tâm hồn, có lẽ vì thế mà khi rời xa, bước chân trở nên ngập ngừng, không nỡ:
Rồi từ biệt thành phố hoa xinh nhỏ
Nghe thông reo lời cầu chú an lành
Anh tưởng mất cả rừng hoa chưa hái
Xòe tay mình e ấp đóa hồng xanh
(Đà Lạt và hoa)
Mỗi vùng đất đều có những vẻ đẹp, sự hấp hẫn đặc trưng mà khi đến rồi đi sẽ để lại trong lòng người bao kỉ niệm. Nguyễn Trong Tạo viết không nhiều về Tây Nguyên và đây cũng không phải là phần thơ hay nhất của ông nhưng những bài thơ viết về nơi này của thi sĩ đã góp phần đem đến cho người đọc một hình ảnh mới, một tình cảm mới dành cho đất và người Tây Nguyên.
Nguyễn Thị Hương Lài
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét