SGK Ngữ văn được biên soạn theo chương trình mới không chỉ thể hiện sự tích hợp giữa các phân môn, tích hợp với các môn học khác mà còn thể hiện sự tích hợp theo hướng củng cố và nâng cao những bộ phận kiến thức đã học để hình thành tri thức thức mới.
Khi bắt đầu đi học, HS được tiếp xúc với bảng chữ cái, các quy tắc kết hợp tiếng Việt, các yêu cầu cơ bản khi sử dụng tiếng Việt... Những kiến thức ấy được hình thành và tích lũy dần trong tâm trí các em, chúng sẽ là cơ sở quan trọng để dạy học hợp phần Lý thuyết chung về ngôn ngữ và tiếng Việt.
1. Ngữ âm
HS THPT nhìn chung đã nắm bắt được các quy tắc ngữ âm tiếng Việt và sử dụng chúng một cách hợp lý trong giao tiếp hằng ngày nhưng đa phần là những kiến thức thiếu tính hệ thống. Tuy nhiên, phải thấy rằng, đó là nền tảng để GV dạy những bài Lý thuyết tiếng Việt có liên quan đến phương diện ngữ âm. Và đây cũng là cơ hội để GV ôn luyện lại kiến thức ngữ âm cho HS một cách có hệ thống.
Bài Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt (Ngữ văn 10, tập 2) đưa ra những yêu cầu cơ bản để sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực và đạt hiệu quả giao tiếp cao. Phương diện đầu tiên mà HS cần phải lưu ý là phương diện ngữ âm và chữ viết. Nếu không có những kiến thức cơ bản về ngữ âm thì HS làm sao có thể phát hiện ra những lỗi vi phạm chuẩn mực và rút ra các quy tắc để sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực. Những kiến thức ngữ âm này, HS đã dần được hình thành qua thời gian học ở bậc tiểu học, THCS và quan trọng hơn là nhờ quá trình giao tiếp thực tế hằng ngày. Dựa vào những kiến thức đã có và thói quen sử dụng ngôn ngữ, GV có thể nhắc lại mô hình cấu tạo âm tiết tiếng Việt:
THANH ĐIỆU
ÂM ĐẦU - VẦN
ÂM ĐỆM - ÂM CHÍNH - ÂM CUỐI
Dựa vào mô hình này, HS dễ dàng phát hiện ra các lỗi sai cơ bản về mặt ngữ âm: sai âm đầu, âm cuối hay thanh điệu... và từ đó hướng tới sử dụng đúng chuẩn mực.
2. Từ ngữ
Ở bậc tiểu học, HS đã được tiếp xúc với những kiến thức về từ vựng, bắt đầu từ những bài học mở rộng vốn từ theo các chủ đề quen thuộc với các em như Gia đình, Nhà trường, Quê hương, Đất nước, Nhân dân, Bác Hồ... Lên THCS, những kiến thức về từ vựng, ngữ nghĩa được đào sâu hơn trên cơ sở kế thừa những kiến thức mà HS đã được tiếp thu ở bậc tiểu học.Và Đến bậc THPT, kiến thức về từ vựng tiếp tục được trau dồi chủ yếu ở phương diện thực hành, luyện tập trên cơ sở những kiến thức lý thuyết đã được tiếp thu ở lớp dưới.
Dựa vào những kiến thức đã có, GV dễ dàng định hướng cho HS phát hiện ra các lỗi sai như sai về cấu tạo từ, sai về kết hợp từ… Tại sao không thể dùng từ Truyền tụng trong câu Những học sinh trong trường sẽ hiểu sai các vấn đề mà thầy giáo truyền tụng [2;65] mà phải thay bằng truyền đạt hay truyền thụ? Bằng trực cảm ngôn ngữ, HS có thể nhận ra lỗi sai của câu và chọn được từ thay thế phù hợp nhưng các em thường không thể giải thích được lí do một cách cụ thể và thuyết phục. GV phải giới thiệu nghĩa chính xác của từ (dựa theo từ điển) để giúp HS nắm được cốt lỗi của vấn đề. Truyền tụng : (từ Hán Việt) có nghĩa là truyền miệng rộng rãi, mang sắc thái ca ngợi; truyền thụ: truyền lại tri thức, kinh nghiệm cho người khác, truyền đạt : làm cho người khác nắm được để chấp hành.
3. Ngữ pháp
Nếu ở lớp 1, lớp 2, HS chỉ mới làm quen với những kiến thức về ngữ âm, từ vựng thì đến lớp 3, các em đã được cung cấp một số kiến thức đơn giản về ngữ pháp. Đó là những kiến thức về câu, các thành phần câu, từ loại, dấu câu, các kiểu câu chia theo mục đích nói hoặc theo cấu tạo ngữ pháp. Về cơ bản, kết thúc bậc học THCS, HS đã nắm tương đối đầy đủ những kiến thức nền tảng về ngữ pháp tiếng Việt và có thể sử dụng tốt các kiến thức ấy trong giao tiếp, trong học tập. Ngoài việc được học ở nhà trường, kiến thức về ngữ pháp cũng dần được hình thành và rèn luyện trong quá trình giao tiếp hàng ngày. Không nắm chắc cách cấu tạo của cụm từ, cấu tạo câu, liên kết câu… thì không thể sử dụng ngôn ngữ để tư duy, để giao tiếp đạt hiệu quả cao. Khi cung cấp những kiến thức khái quát nhất, khoa học nhất cho HS về hệ thống ngôn ngữ thì SGK Ngữ văn THPT cũng dành một dung lượng khá lớn để cung cấp những tri thức liên quan đến phương diện ngữ pháp cho HS.
Khi giới thiệu về đặc điểm loại hình của tiếng Việt, có ba đặc điểm trọng tâm cần cung cấp cho HS và cả ba đều liên quan đến những kiến thức ngữ pháp:
- Tiếng là đơn vị cơ sở của ngữ pháp.
- Từ không biến đổi hình thái.
- Ý nghĩa ngữ pháp được biểu hiện bằng trật tự từ và hư từ.
Ở mỗi đặc điểm GV đều phải giải thích, làm rõ, cho ví dụ minh họa… Tiếng là gì? Tại sao tiếng là đơn vị cơ sở của ngữ pháp? Cơ sở nào cho thấy từ tiếng Việt không biến đổi hình thái? Hư từ là gì? Trật tự từ là gì? Tại sao nói: Ý nghĩa ngữ pháp được biểu hiện bằng trật tự từ và hư từ?...Không tích hợp với những kiến thức ngữ pháp mà HS đã có thì GV không thể giảng giải ba đơn vị kiến thức này trong khuôn khổ thời gian theo quy định. GV cần phải biết bộ phận nào là kiến thức mới, phải phân tích sâu; bộ phận kiến thức nào HS đã nắm chắc chỉ cần gợi nhắc và tích hợp.
4. Phong cách – tu từ học
Trong hợp phần Lý thuyết chung về ngôn ngữ và tiếng Việt có một bộ phận kiến thức không nhỏ liên quan đến tu từ học và phong cách học. Khi dạy những kiến thức đó, GV ít nhiều phải tích hợp với những hiểu biết liên quan về lĩnh vực này mà HS đã có sẵn: So sánh, Nhân hóa, Ẩn dụ, Hoán dụ (Lớp 6); Điệp ngữ, Chơi chữ, Liệt kê (Lớp 7); Nói quá, Nói giảm, nói tránh (Lớp 8); Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (Lớp 10), Phong cách ngôn ngữ báo chí, Phong cách ngôn ngữ chính luận (Lớp 11), Phong cách ngôn ngữ khoa học và Phong cách ngôn ngữ hành chính (Lớp 12).
Mỗi phong cách chức năng có một lớp từ riêng, có những từ chỉ được sử dụng ở phong cách này mà không thể sử dụng ở phong cách khác. Đó là lý do tạo nên lỗi sai về phong cách trong các ví dụ sau:
- Trong một biên bản về một tai nạn giao thông:
Hoàng hôn ngày 25 – 10, lúc 17h30 tại km 19 quốc lộ 1A đã xảy ra một vụ tai nạn giao thông.
- Trong một bài văn nghị luận:
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã nêu cao một tư tưởng nhân đạo hết sức là cao đẹp.[2;66]
Tuy chưa được học hết sáu phong cách chức năng thuộc hợp phần Phong cách học trong chương trình THPT (chỉ mới được tiếp xúc với Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt) nhưng với những kiến thức về phong cách học đã được trang bị ở lớp 9 cũng như những kinh nghiệm khi sử dụng ngôn ngữ hằng ngày, HS khi học bài Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt sẽ nhanh chóng nhận ra sự bất hợp lí trong các ví dụ trên. Hoàng hôn là từ hay dùng trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, không được dùng trong văn bản hành chính; Hết sức là mang tính chất khẩu ngữ, không thích hợp dùng trong một văn bản nghị luận. Nhiệm vụ của GV là phải dẫn dắt sao cho HS tích hợp được kiến thức đã có để vận dụng vào nội dung bài học mà các em đang học.
Nhìn chung, những kiến thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách học…được giảng dạy cho HS một cách có hệ thống và khoa học nhằm cung cấp những kiến thức nền tảng, tạo điều kiện cho HS thực hành, ứng dụng trong giao tiếp hằng ngày. Những kiến thức đó là cơ sở quan trọng để giảng dạy Tiếng Việt ở THPT nói chung và hợp phần Lý thuyết chung về ngôn ngữ và tiếng Việt nói riêng. Nếu biết tích hợp hợp lí thì GV có thể dạy những bài được đánh giá là khó và khô này một cách có hiệu quả.
Trong dạy học Tiếng Việt ở THPT nói chung và dạy học hợp phần Lý thuyết chung về ngôn ngữ và tiếng Việt nói riêng, quan điểm tích hợp được thể hiện trên cả hai hướng là tích hợp ngang và tích hợp dọc. Mỗi hướng tích hợp có một đặc điểm và tầm quan trọng riêng. Nếu tích hợp ngang giúp HS có một cái nhìn sâu sắc, toàn diện về vấn đề thì tích hợp dọc lại giúp các em tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống, logic. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, hai hướng tích hợp này thường không tách biệt mà luôn đi liền với nhau trong quá trình dạy học một bài nào đó. Hiếm khi thực hiện một bài học nào mà GV chỉ sử dụng duy nhất hướng tích hợp ngang hay tích hợp dọc. Hai hướng tích hợp này có mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau cùng làm nổi bật nội dung của bài, đồng thời giúp HS hoạt động tích cực hơn, liên tục vận dụng, củng cố kiến thức đã học.
Nguyễn Thị Hương Lài

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét