Thứ Tư, 10 tháng 4, 2024

Tích hợp liên môn trong dạy học tiếng Việt (ThS. Nguyễn Thị Hương Lài)


Tích hợp liên bộ môn (tích hợp ngang) là kiểu tích hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều phân môn, bộ môn và lĩnh vực khác nhau để soi chiếu, làm sáng tỏ phần nội dung kiến thức và kĩ năng đang dạy.

Ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Làm văn có sự khác nhau cơ bản về tính chất nội dung tri thức. Nhưng đứng trên phương diện tổng thể, không thể phủ nhận mối liên hệ mật thiết và sự tương tác giữa ba phân môn trong việc hình thành kiến thức và kĩ năng cho HS. Ngoài sự gắn bó giữa các phân môn trong cùng một môn học, các bài học trong môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng còn có sự liên hệ với những bộ phận kiến thức thuộc các môn học khác: Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ, Toán, Lý, Hóa, Sinh… nhất là những môn khoa học xã hội và nhân văn.

Vì lí do đó, dạy học hợp phần Lý thuyết chung về ngôn ngữ và tiếng Việt, cần tích hợp với kiến thức của hai phân môn Văn học, Làm văn, và cả những môn học khác với những bộ phận kiến thức liên quan để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

1. Tích hợp với Văn học

Nếu không có những tri thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt thì khó có thể phân tích, bình giảng thành công một tác phẩm văn học. Ngược lại, không có năng lực đọc – hiểu, lĩnh hội ngôn từ nghệ thuật thì cũng không thể có được khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa, hiệu quả. Do đó, dạy học Tiếng Việt không thể tách rời dạy Đọc văn.

Các bài học trong hợp phần Lý thuyết chung về ngôn ngữ và tiếng Việt cung cấp những kiến thức lý thuyết khái quát về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng. Việc giảng dạy những nội dung kiến thức này sẽ được hổ trợ đắc lực bỡi những kiến thức Văn học. Tác phẩm văn học chính là nơi chưng cất vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc, là nơi mà tiếng nói dân tộc trở nên đẹp đẽ nhất, rực rỡ nhất và bộc lộ hết bản chất của mình. Vì vậy, sẽ rất hiệu quả nếu dùng văn bản văn học làm ngữ liệu trực tiếp cho việc dạy tiếng Việt.

GV có thể lấy một đoạn văn ngắn trong các tác phẩm như Làng (Kim Lân), Lão Hạc (Nam Cao), Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long)… vừa học ở THCS hay là những bài ca dao mà các em vừa được tìm hiểu ở các tiết học trong chương trình Ngữ văn 10, tập 1 làm ngữ liệu cho việc phân tích những đặc điểm ngôn ngữ viết ở bài Đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (Ngữ văn 10, tập 1). Lấy ngữ liệu từ văn bản đã học sẽ gợi nhắc cho HS về văn bản ấy đồng thời giảm bớt thời gian và công sức cho thao tác phân tích ngữ liệu.

Mặt khác, những tác phẩm trong phân môn Văn học cũng là nơi kiểm chứng hiệu quả nhất cho những lý thuyết ngôn ngữ mà HS đã được tiếp thu. Để sử dụng tiếng Việt hay và đạt hiệu quả giao tiếp cao khi nói và viết, chẳng những cần sử dụng tiếng Việt đúng theo các chuẩn mực của, mà còn cần sử dụng một cách sáng tạo, có sự chuyển đổi linh hoạt theo các phương thức và quy tác chung, theo các phép tu từ để cho lời nói, câu văn có tính nghệ thuật và đạt hiệu quả giao tiếp cao [2;68]. HS hoàn toàn có thể tìm thấy cơ sở thực tiễn của nhận định này qua các tác phẩm văn học. Văn bản văn học chính là một mảnh đất phì nhiêu, màu mỡ để HS gặt lấy những giá trị tu từ, giá trị phong cách của ngôn ngữ…

2. Tích hợp với Làm văn

Mục đích cuối cùng của việc dạy và học Tiếng Việt là giúp HS có thể sử dụng tiếng Việt một cách thành thạo, tạo lập các loại văn bản (nói, viết) đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hằng ngày. Như vậy, Tiếng Việt được xem như là một phân môn cung cấp những phương tiện, những cơ sở cho việc dạy học Làm văn. Ngược lại, phân môn Làm văn cũng có những tác động nhất định, hổ trợ cho việc dạy học Tiếng Việt.

Làm văn rèn luyện cho HS tư duy logic, khoa học, sự chính xác, chặt chẽ trong lập luận và trình bày vấn đề. Do vậy, nó sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc dạy và học bộ phận kiến thức đầy tính khoa học trong phân môn Tiếng Việt. Hơn nữa, thông qua việc tạo lập các loại văn bản, những tri thức tiếng Việt mà HS tiếp thu trong hợp phần Lý thuyết chung về ngôn ngữ và tiếng Việt sẽ được đưa vào ứng dụng thực tế và bộ phận kiến thức đó sẽ được các em hiểu sâu sắc hơn. Chỉ trong quá trình sử dụng, HS mới thực sự thấy được sự khác nhau giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, mới nắm vững được những yêu cầu để sử dụng tiếng Việt đúng và hay, mới nhận thức được đặc điểm loại hình của tiếng mẹ đẻ, sự giàu đẹp của ngôn ngữ dân tộc và trên cơ sở đó mới có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

GV có thể đưa ra các bài tập mang tính tích hợp tri thức Tiếng Việt và Làm văn để HS luyện tập. Chẳng hạn như cho HS viết một đoạn văn ngắn và chỉ ra hiệu quả của hư từ và trật tự từ trong đoạn văn ấy khi dạy Đặc điểm loại hình tiếng Việt (Ngữ văn 11, tập 2); hay yêu cầu HS phân tích và sửa chữa các lỗi về chính tả, về từ vựng, ngữ pháp, về cách diễn đạt, kết cấu của bài làm (nếu có) trong bài làm văn gần nhất mà HS vừa thực hiện (bài viết số 4) khi dạy bài Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt (Ngữ văn 10, tập 2).

3. Tích hợp với các môn gần gũi (Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ…)

Ngôn ngữ nảy sinh và phát triển gắn liền với lịch sử phát sinh, phát triển của một dân tộc, một xã hội. Dạy học Tiếng Việt, do đó, không thể không vận dụng kiến thức về lịch sử của đất nước Việt Nam để lí giải về đặc điểm và sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc. Khi dạy Khái quát lịch sử tiếng Việt (Ngữ văn 10, tập 2), không tích hợp với kiến thức lịch sử, GV khó lòng lý giải vì sao tiếng Việt lại có quan hệ gần gũi nhất với tiếng Hán, khó giải thích được vì lí do nào mà sau khi giành được độc lập, tự chủ (thế kỉ X) nhưng nhà nước phong kiến vẫn tiếp tục đẩy mạnh việc dạy, học và sáng tác bằng chữ Hán.

Cũng trong bài Khái quát lịch sử tiếng Việt, GV có thể vận dụng những kiến thức địa lí nền tảng để giải thích về nguồn gốc của tiếng Việt - tiếng Việt thuộc họ ngôn ngữ Nam Á. Thầy cô có thể kết hợp với bản đồ để chỉ rõ nơi phân bố của họ ngôn ngữ này một cách trực quan, sinh động.

Những kiến thức này HS đã được tìm hiểu kĩ ở nội dung môn Lịch sử, Địa lý nên khi dạy học, GV chỉ cần gợi nhắc chứ không cần và không nên đi quá sâu, từ đó dành thời gian nhiều hơn để hình thành kiến thức mới. Vận dụng kiến thức Sử - Địa để dạy Tiếng Việt không chỉ giúp nội dung các bài học Tiếng Việt trở nên sinh động, sáng tỏ mà còn góp phần ôn tập, củng cố kiến thức về Lịch sử, Địa lý – những kiến thức vốn rất quan trọng nhưng HS lâu nay lại không mấy quan tâm.

Kiến thức về ngoại ngữ cũng rất quan trọng trong dạy học hợp phần Lý thuyết chung về ngôn ngữ và tiếng Việt. Cụm bài này không chỉ nghiên cứu về tiếng Việt nói riêng mà còn cung cấp những kiến thức về ngôn ngữ nói chung. Đặt trong thế đối sánh giữa tiếng Việt và tiếng nước ngoài, kiến thức về ngôn ngữ của HS sẽ được mở rộng, tri thức về tiếng Việt cũng trở nên sâu sắc hơn. Hiểu biết về ngoại ngữ, trước hết là tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh … rất cần thiết khi dạy Đặc điểm loại hình tiếng Việt (Ngữ văn 11, tập 2) hay Khái quát lịch sử tiếng Việt (Ngữ văn 10, tập 2).

Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Tiếng Việt nói chung và hợp phần Lý thuyết chung về ngôn ngữ và tiếng Việt nói riêng là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, không phải GV nào cũng ý thức được điều này nên chưa vận dụng hợp lý để tăng cường hiệu quả dạy học.

Nguyễn Thị Hương Lài

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...