Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025

SÔNG CÔN GÂY THIỆT HẠI QUA TRẬN LỤT NĂM 1830 (NNC Phan Thành Nghị)

Từ Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng như Gia phả họ Quách ở Tây Sơn, tiến hành khảo sát 2 bộ địa bạ lập cho Bình Định năm 1815 và năm 1839, thấy được Bình Định năm 1830 đúng là lụt to. Lũ lụt làm số ruộng thực canh năm 1815 của người dân, qua đến năm 1839 chưa canh tác được không ít, chưa nói là hoang phế, địa bạ gọi đây là ruộng lưu hoang.

Phủ An Nhơn năm 1839 có 5 tổng là Thời Hòa, Thời Đôn, Thời Tú, Tuy Hà và Vân Dương. Địa phận của 5 tổng bấy giờ chính là địa phận huyện Tuy Viễn thời Gia Long. Cứ mỗi tổng lấy ra 1 làng có diện tích lưu hoang lớn nhất trong tổng, đưa ra làm mẫu khảo sát để thấy sự thiệt hại khắp phủ, khắp tỉnh do lũ lụt năm 1830.

Kết quả khảo sát:
1._ Tổng Thời Hòa
Trinh Tường lưu hoang : 175,0 mẫu, nay thuộc xã Bình Phú
2._ Tổng Thời Đôn
Phú Phong lưu hoang : 218,4 mẫu, nay thuộc xã Tây Sơn
3._ Tổng Thời Tú
Tình Giang lưu hoang : 61,8 mẫu, nay thuộc xã Tuy Phước Bắc
4._ Tổng Vân Dương
Dĩnh Xuyên lưu hoang : 31,4 mẫu, nay thuộc xã Tuy Phước Đông
5._ Tổng Tuy Hà
Quang Hiển lưu hoang : 142,6 mẫu, nay thuộc xã Canh Vinh

Xét thấy ruộng của dân bị lũ lụt năm 1830, đến năm 1839 vẫn chưa canh tác được. Diện tích thiệt hại nặng nhất ở vùng thượng nguồn sông Côn (đại diện là làng Trinh Tường cùng Phú Phong), và thượng nguồn sông Vân Sơn (đại diện là làng Quang Hiển). Dưới hạ bạn là vùng Tuy Phước ngày nay thiệt hại ít hơn vùng thượng nguồn.

Trên vùng thượng nguồn sông Côn, dựa theo thống kê của Địa bạ triều Nguyễn, khảo các làng ven bờ sông Côn ở huyện Tây Sơn cũ, để xét diện tích lưu hoang của tư điền năm 1839:
01) Trinh Tường lưu hoang : 175,0 mẫu, tỷ lệ hoang hóa 45,67%
02) Phú Phong lưu hoang : 218,4 mẫu, tỷ lệ hoang hóa 29,80%
03) Xuân Huề lưu hoang : 172,6 mẫu, tỷ lệ hoang hóa 46,78%
04) An Xuân lưu hoang : 15,1 mẫu, tỷ lệ hoang hóa 23,78%
05) Lai Nghi lưu hoang : 58,8 mẫu, tỷ lệ hoang hóa 23,72%
06) Kiên Mỹ lưu hoang : 64,1 mẫu, tỷ lệ hoang hóa 43,19%
07) Thuận Nghĩa lưu hoang : 19,2 mẫu, tỷ lệ hoang hóa 18,80%
08) Dõng Hòa lưu hoang : 9 mẫu, tỷ lệ hoang hóa 7,97%

Xét thấy làng Phú Phong diện tích hoang hóa nhiều nhất, thứ đến 2 đầu có 2 làng là Trinh Tường cùng Xuân Huề (Xuân Hòa), và đối diện phía bờ Bắc của Phú Phong là làng Kiên Mỹ, diện tích thiệt hại cũng như tỷ lệ hoang hóa của chúng không nhỏ.

Điều gì đã xảy đến cho 4 làng Trinh Tường, Phú Phong, Kiên Mỹ và Xuân Hòa! 4 làng hiện thuộc khu vực sông Côn hợp lưu với phụ lưu của nó là sông Kut (tức sông Đá Hàng), giao thủy ngày nay của 2 sông tại phía ngoài cầu Phú Phong trên QL19, cầu có lý trình km42+487m. Có phải vì hợp lưu của sông đổi dòng, nên bấy giờ làng Thuận Nghĩa bỗng nhiên “bốn bề là sông” mà Gia phả họ Quách ở Tây Sơn đã chép!

Thiệt hại của 4 làng Trinh Tường, Phú Phong, Kiên Mỹ, Xuân Huề, chúng được Địa bạ 1839 minh chứng. Thực địa của làng Phú Phong hiện tồn tại bàu Bà Lặn/bàu Bờ lặng ở phía Nam đường 19, vì đâu mà nó có! Phía Bắc đường 19 còn có vết tích bàu cạn trước năm 1975 trồng rau muống, nó từ đường Bùi Thị Xuân đổ dài xuống đến đường Đống Đa ngày nay.

Hiện trạng năm 1830 có thể dựng lại hợp lưu của sông Côn với sông Đá Hàng thời Nguyễn Nhạc là tại đâu! Và xem ra truyền thuyết vua Thái Đức cho nối 2 nhánh sông lại không phải là vu vơ.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...