Nhầm lẫn lớn nhất về Đô Lương ở việc hiểu đung về ý nghĩa và thời điểểm xuất hiện tên gọi. Ví như có quan điểm như này: “Năm 1535 (thời nhà Mạc), tướng Mạc Đăng Lượng đã chọn địa bàn Đô Đặng (thuộc xã Đặng Sơn ngày nay) làm nơi xây dựng căn cứ, chiêu tập dân lập ra ba xã Đặng Sơn, Bắc Sơn, Nam Sơn; đồng thời lập đền Tiên Đô ở Đặng Sơn để thờ phụng, ghi nhớ công lao. Cũng trong giai đoạn này, kho lương thực của nhà Mạc đặt tại đây được gọi là “Đô Lương”, ý chỉ “kho lương thực trung ương” của họ Mạc . Về sau, dưới triều Nguyễn (năm 1831), tên Đô Lương chính thức xuất hiện trong hệ thống hành chính khi triều đình thành lập huyện Lương Sơn (phủ Anh Sơn) và tổng Đô Lương trực thuộc huyện này . Tấm bia đá “Đô Lương tổng bi ký” hiện vẫn được bảo tồn, minh chứng cho tên gọi Đô Lương từ thời Nguyễn.” (Xin được giấu nguồn, ai muốn biết cụ thể thì inbox, chứ em ko công khai).
Những nhầm lẫn này không chỉ dừng lại ở vấn đề ngôn ngữ, mà còn bộc lộ sự thiếu hụt trong việc nhận thức về lịch sử và văn hóa của Đô Lương, từ đó dẫn đến những quan niệm sai lệch, làm lu mờ đi giá trị lịch sử và văn hóa vốn có của vùng đất này.
1. Tên gọi “Đô Lương” có từ thời Nguyễn?!
Trước hết, em xin khẳng định chắc nịch, quan điểm trên hoàn toàn không chính xác, bởi văn bia “Đô Lương tổng bi ký” chỉ là 1 bia đá trong nhiều bia đá có ghi tên gọi “Đô Lương”. Trên địa bàn huyện có rất nhiều bia đá khác được lập dưới thời Lê có ghi hai chữ “Đô Lương” thời điểm trước triều Nguyễn. Ví như văn bia chùa Viên Linh được dựng vào năm Tân Dậu niên hiệu Cảnh Hưng (1741) đã có khắc “Đô Lương”. Tuy nhiên, đây cũng chưa phải là thời điểm sớm nhất. (Xin được chia sẻ thêm là 2 văn bia Viên Linh tự bi và Đô Lương tổng bi ký có trong sách Văn bia Phật giáo xứ Nghệ mà em sẽ xuất bản)
Trong cuốn 天南列傳阮景氏驩州記 Thiên Nam Liệt Truyện Nguyễn Cảnh Thị Hoan Châu ký - cuốn gia phả dòng họ Nguyễn Cảnh viết dưới dạng tiểu thuyết chương hồi, do một vị tổ của dòng họ Nguyễn Cảnh tại Đô Lương viết vào những năm cuối thế kỷ 17, có nhắc rất nhiều đến tên gọi địa danh “Đô Lương”, như đoạn viết tại tiết thứ 2:
“Người con trai thứ năm là Nguyễn Huy lớn lên có tài trí dũng lược, lập nhiều công tích, được thăng làm Vạn An vệ tổng tri binh dân sự vụ, hành hạ Nghệ An đạo, tước Hoằng Hưu tử. Cuối đời, ông về ở Nùng Quán cày cấy làm ăn. Hồi đầu ông lấy người con gái ở Hiến Lãng sinh ra Noãn, sau đến ĐÔ LƯƠNG, lấy thêm người con gái nhà họ Thái tên là Tế mới mười ba tuổi (sinh năm Mậu Thìn, 1508), nhân đó làm luôn nhà tại ĐÔ LƯƠNG để ở”.
Hay khi viết về Thái phó Tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Hoan (1521-1576), Hoan Châu ký cũng ghi rõ: “Người con thứ hai tên là Hoan, được phong Tấn quận công (do bà họ Thái ở ĐÔ LƯƠNG sinh). Chúng ta biết rằng, Thái phó Tấn Quốc công sinh năm 1521 và mất năm 1576.
Rồi như lời tâu của Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Thanh với Bình An vương Trịnh Tùng năm 1613: “Chồng của thần là Quảng Phú hầu quê tại ĐÔ LƯƠNG. Nghe nói cạnh đấy có thôn Bụt Đà cầu đường hư hỏng, đi lại khó khăn. Thần xin được theo Phò mã cùng về bản quán bàn định việc bố thí làm điều công ích để rộng cầu mặt con cái”.
Qua 1 vài tư liệu kể trên, chúng ta thấy rằng tên gọi “Đô Lương” ít nhất đã xuất hiện trên văn bản và liên quan tới những nhân vật và sự kiện của thế kỷ 16 và 17 – thời điểm trước khi triều Nguyễn thành lập.
Đặc biệt, trong chính sử, có 1 đoạn ghi rất rõ thời điểm năm Mậu Thân, niên hiệu Cảnh Thụy năm thứ 1 - 1008, Vua Lê Ngọạ Triều thân đi đánh hai châu ĐÔ LƯƠNG và Vị Long; sau đó lại tự làm tướng đi đánh Hoan Châu và châu Thiên Liễu. Như vậy thì rõ ràng tên gọi Đô Lương đã xuất hiện trên văn bản từ đầu thế kỷ 11 – cách thời điểm hiện tại 1017 năm, hoàn toàn không phải xuất hiện dưới thời Nguyễn.
Và qua đây, chúng ta cũng đã đầy đủ căn cứ, để bác bỏ luôn thông tin xuất hiện rất nhiều trên báo chí, với nội dung: “Đô Lương là gọi trệch đi từ chữ “Do Luong” (Đò Lường) theo văn bản chữ không dấu thời Pháp thuộc”.
2. “Đô Lương” không phải là kho lương của nhà Mạc.
“Đô Lương” không chỉ đơn thuần là một địa danh mà còn mang trong mình những giá trị văn hóa, lịch sử sâu sắc. Việc hiểu rõ ý nghĩa và nguồn gốc của tên gọi này là vô cùng quan trọng.
Trong tất cả mọi văn bản, từ văn bản giấy như sắc phong, lệnh chỉ, gia dụ, lệnh dụ,… cho đến văn khắc như văn bia, khánh đá, mộc bản… thì “Đô Lương” đều được ghi bằng 2 chữ Hán là 都梁.
Trước hết, chữ “Đô” có nhiều nghĩa, như:
1. vùng đất trung ương, nơi thiết lập cơ sở của chính phủ, ví dụ: thủ đô 首都, quốc đô 國都, kinh đô 京都;
2. bao gồm, tổng cộng, như: 都為一集cộng chung thành một tập;
3. đẹp đẽ, như: y phục lệ đô 衣服麗都 quần áo đẹp đẽ;
4. bự, nậy, cao, như: Trung hữu đô trụ 中有都柱giữa có cột đồng cao.
5……
Còn chữ Lương lại có nghĩa là rường cột (đống lương) mà không mang nghĩa là lương thực (Trự Nho viết là 糧) như nhiều người lầm tưởng. Thực tế, “ Đô Lương” trong ngữ cảnh này có nghĩa là “rường cột lớn lao”, tức là những trụ cột vững chắc, biểu trưng cho sự kiên cố và vững bền. Điều này cho thấy rằng “Đô Lương” có thể được hiểu như một khu vực có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì các giá trị văn hóa và xã hội của cộng đồng dưới thời phong kiến.
Hơn nữa, từ góc độ lịch sử, triều đại nhà Mạc chỉ có quyền lực thực sự từ Ninh Bình trở ra, trong khi khu vực Thanh Hóa trở vào lại nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Lê Trịnh. Điều này càng củng cố cho luận điểm rằng không thể có một “kho lương thực trung ương” của nhà Mạc tại “Đô Lương” như nhiều quan điểm xưa nay khẳng định. Chính quyền Lê Trịnh đã thiết lập quyền lực và kiểm soát tại khu vực này, khiến cho việc tồn tại của một kho lương thực lớn của nhà Mạc ở đây trở nên không chuẩn xác.
Ngoài ra, những văn bản lịch sử, văn bia, và các tài liệu khác đều ghi nhận “Đô Lương” bằng hai chữ Hán là 都梁 mà không có bất kỳ 1 dị bản nào khác. Điều này không chỉ khẳng định tính chính xác của tên gọi mà còn cho thấy sự nhất quán trong cách ghi chép và truyền tải thông tin qua các thế kỷ. Sự tồn tại của những tài liệu này là minh chứng cho vai trò quan trọng của “Đô Lương” trong bối cảnh lịch sử và văn hóa của Việt Nam.
Chính vì vậy, hiểu rõ tên gọi “Đô Lương” không chỉ giúp chúng ta nhìn nhận đúng đắn về địa danh này mà còn mở ra một cái nhìn sâu sắc hơn về lịch sử và văn hóa, cũng như sự tác động của các thế lực chính trị đương thời. “Đô Lương” không phải là một kho lương thực của triều Mạc, mà là một biểu tượng của sức mạnh, sự ổn định và những giá trị văn hóa bền vững mà cộng đồng đã gìn giữ qua nhiều triều đại.
3. “Đô Lương” – từ xã đến tổng rồi tới huyện.
Có 1 bình luận trên facebook của em ở bài viết trước, nhiều cmt quá, em nhác tím lại, nhưng đại khái rằng: “huyện Đô Lương đặt tên rờ rờ rựng rựng, Bạch Hà, Lương Sơn chỉ là tên làng, rất nhỏ, mà giờ lại đem ra làm tên xã. Không chuẩn”
Em xin thưa rằng, huyện Đô Lương đã làm chính xác. Vì sao vậy?
Nói ra thì zài zòng, chúng ta hãy nhìn cái ảnh mà em up. Ba trự em khoanh đỏ bên phải là 白河總 Bạch Hà tổng; 3 trự phía dưới của ảnh trái là 梁山縣 Lương Sơn huyện. Đó, tổng vs huyện cả đó chơ nỏ phải làng xóm nhỏ nhỏ mô nạ ^^. Những stt trước em đã nói rồi, việc nhập xã hiện nay chính là hình thức tái lập tổng ngày xưa. Nên huyện Đô Lương lấy tên tổng xưa đặt cho xã nay thì có j là sai ạ?!
Còn, “Đô Lương” lại là một địa danh có lịch sử phát triển lâu dài, phản ánh sự thay đổi trong tổ chức hành chính của Việt Nam qua các thời kỳ. Muốn rõ điều này, trc hết, chúng ta cần nhìn nhận từng giai đoạn lịch sử của “Đô Lương”.
Thời Tiền Lê: Đầu tiên, không thể không nhắc đến châu Đô Lương trong thời kỳ Tiền Lê, khi mà đất nước mới giành được độc lập. Tuy nhiên, thông tin về tổ chức hành chính cũng như quan chế trong thời kỳ này rất hạn chế, khiến cho việc nghiên cứu về Đô Lương trong bối cảnh này trở nên khó khăn. Chúng ta chỉ có thể hình dung rằng, Đô Lương đã bắt đầu hình thành như một đơn vị hành chính quan trọng ngay từ những ngày đầu của nền độc lập.
Thời Lê Trịnh: Sang thời kỳ này, Đô Lương được xác định là một “Xã”. Đây là giai đoạn mà chính quyền Lê Trịnh đã thiết lập nhiều đơn vị hành chính để quản lý đất nước hiệu quả hơn. Đô Lương, với vai trò là một xã, không chỉ là nơi sinh sống của người dân mà còn là trung tâm của các hoạt động kinh tế và văn hóa trong khu vực.
Thời Nguyễn: Khi triều Nguyễn lên nắm quyền, hệ thống hành chính được cải cách và mở rộng với việc bổ sung cấp “Tổng”. Đô Lương lúc này lại trở thành một “Tổng”, cho thấy sự phát triển không ngừng của khu vực này. Việc phân chia thành tổng giúp quản lý tốt hơn các đơn vị xã, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội.
Huyện Đô Lương: Đến ngày 19 tháng 4 năm 1963, Đô Lương chính thức được nâng cấp thành “Huyện” sau khi tách ra từ huyện Anh Sơn. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử hành chính của Đô Lương. Với tư cách là một huyện, Đô Lương không chỉ có vai trò quản lý hành chính mà còn là trung tâm phát triển kinh tế và văn hóa của khu vực. Trong suốt thời gian đó cho tới nay, huyện Đô Lương ngày nay đã trở thành một địa phương năng động, với nhiều tiềm năng phát triển và đóng góp vào sự phát triển chung của tỉnh Nghệ An.
Quá trình chuyển đổi từ xã đến tổng và cuối cùng là huyện của Đô Lương, không chỉ phản ánh sự thay đổi trong tổ chức hành chính, mà còn thể hiện sự phát triển của cộng đồng dân cư nơi đây. Mỗi giai đoạn đều mang lại những dấu ấn riêng, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa và lịch sử phong phú của Đô Lương. Sự phát triển này không chỉ là kết quả của những thay đổi trong chính quyền mà còn là nỗ lực của người dân trong việc xây dựng và gìn giữ quê hương, xứ sở.
Ghi chú: Dẫn lại theo facebook tác giả

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét