- tinh 星: sao
- tú 宿: cụm sao.
Thiên văn học cổ xưa tại vùng văn hoá Hán tự xác định hệ thống "nhị thập bát tú" 二十八宿 là 28 chòm sao: Vị 胃, Tinh 星, Tất 畢, Thất 室, Vĩ 尾, Nguy 危, Chuỷ 觜, Tâm 心, Giác 角, Dực 翼, Đẩu 斗, Mão 昴, Khuê 奎, Nữ 女, Cơ 箕, Tỉnh 井, Sâm 參, Lâu 婁, Hư 虛, Quỷ 鬼, Liễu 柳, Đê 氐, Trương 張, Chẩn 軫, Ngưu 牛, Bích 壁, Cang 亢, Phòng 房.
Trong mỗi "tú" 宿 có nhiều ngôi sao. "Tú" 宿 còn có nghĩa là đêm, đây là 2 nét nghĩa danh từ phái sinh từ "túc" 宿 có cùng cách viết, nghĩa là nghỉ qua đêm, trọ qua đêm, chỗ nghỉ ngơi, chỗ trú ngụ, như trong "kí túc xá", "tá túc".
"Tinh tú" 星宿 là từ gọi chung chung các ngôi sao trên trời. Chúng ta nhắc lại về 2 danh từ đơn vị của sao là "vì" và "ngôi". Người Trung Quốc gọi chòm sao (phương Tây) bằng chữ "toạ" 座 (âm Việt hoá: toà). "Toạ" 座 nghĩa là chỗ ngồi, nó có liên quan "toạ" 坐 nghĩa là ngồi, chuyển nghĩa để nói ở chỗ, toạ lạc. Chữ "toạ" 座 được viết bằng cách thêm bộ "nghiễm" 广 vào chữ "toạ" 坐.
Tương tự, người Việt phái sinh danh từ "ngôi" từ động từ "ngồi". "Ngôi" nghĩa là "chỗ ngồi" của người có chức vị như các bậc quân chủ. Nó là một vị trí, nên ta cũng có "ngôi vị".
Vì nhà cửa "ngồi" (toạ lạc) trên mặt đất không di chuyển, người Hán dùng danh từ "toạ" 座 để làm danh từ đơn vị cho các toà nhà, còn người Việt thì Việt hoá thành "toà" trong khuôn khổ thanh điệu "huyền - ngã - nặng". Tương tự, ta cũng có "ngôi" làm danh từ đơn vị như "ngôi nhà", "ngôi trường".
Vì các vì sao cũng có vị trí "ngồi" (toạ lạc) trên bầu trời mà con người nhìn lên có thể phân biệt được, người Trung Quốc dùng danh từ "toạ" 座 để gọi chòm sao hiện đại. Các chòm sao này giữ vị trí tương đối của chúng trên bầu trời.
Trong khi đó, người Việt xưa chú tâm vào từng vì sao riêng lẻ, nên "ngôi sao" trong tiếng Việt dùng để gọi 1 vì sao chứ không phải 1 chòm sao. Vì sao gọi là "vì sao"? "Vì" là âm Việt hoá của "vị" 位 nghĩa là ngôi vị, như trong "trị vì" (ở ngôi vua cai trị nước), "vì sao" (ngôi sao).
- Ung Chu -

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét