Tiếng Việt có từ ghép "thì giờ" hay "thời giờ" để nói chung về ngày giờ, thời gian.
"Thì" 時 trong Hán ngữ có nghĩa là giờ, thời xa xưa ở vùng văn hoá Hoá tự chia 1 ngày thành 12 giờ ứng với "thập nhị chi" 十二支 (12 chi): Tí, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Sau này, do kị huý Nguyễn Phúc Thì 阮福時 (Nguyễn Phước Thời) của hoàng đế Tự Đức 嗣德 nên tránh âm thành "thời". Khi tiếp nhận công cụ xác định thời gian chia 1 ngày thành 24 phần bằng nhau của phương Tây, vùng văn hoá Hán tự đổi 1 "thì / thời" 時 hay 1 "giờ" có độ dài tương ứng 1/24 của 1 ngày.
Người Việt xưa dùng các phương pháp xác định giờ (ngày 12 giờ) khác nhau. Có thể dùng "đồng hồ" 銅壺 (bình bằng đồng) là dụng cụ cổ xưa sử dụng mực nước để xem giờ, còn gọi là "lậu hồ" 漏壺 (bình nhỏ giọt) hay "khắc lậu" 刻漏 để xác định giờ, mỗi giờ ứng với một vạch khắc. Hoặc có thể lắng nghe tiếng trống canh (hoặc các dụng cụ phát ra tiếng khác như mõ, chuông...) vào ban đêm. Có 2 nguyên lí thiết kế đồng hồ, lậu hồ, khắc lậu bằng đồng thời cổ xưa. Một là cho nước rỉ ra từ một bình chứa qua lỗ nhỏ, mực nước còn lại so với vạch khắc cho ta biết thời gian. Hai là sử dụng hệ thống các chậu nước nhỏ giọt cho tới cái bình chứa cuối cùng, mực nước dâng lên so với vạch khắc cho ta biết thời gian.
Người Việt có thành ngữ "đêm 5 canh, ngày 6 khắc". Đêm tính từ giờ Tuất đến giờ Dần (tức nay là 19 giờ tối đến 5 giờ sáng), ngày tính từ giờ Mẹo đến giờ Thân (tức nay là 5 giờ sáng đến 17 giờ chiều). Còn giờ Dậu (17 giờ đến 19 giờ) không phải ngày mà cũng không phải đêm.
"Khắc" 刻 vốn nghĩa là dùng dao để khắc, người ta khắc vạch lên cái thẻ dài dùng trong khắc lậu để định giờ. "Canh" 更 có nghĩa ban đầu là thay đổi, luân phiên, từ đó mở rộng ra nghĩa phiên canh gác ban đêm vì người đứng canh sẽ thay phiên nhau. Một đêm như vậy có 5 phiên canh, có hiệu lệnh báo giờ, do đó chuyển nghĩa thành đơn vị đo thời gian. Như vậy, độ dài của canh và khắc trong "đêm 5 canh, ngày 6 khắc" tương đương giờ (ngày 12 giờ).
Có nơi chia ngày đêm thành 100 khắc, tức 1 khắc khoảng 14 phút rưỡi so với ngày nay. Về sau khi đổi qua hệ 24 giờ, mỗi giờ 60 phút của phương Tây, khắc được tinh chỉnh thành 1/96 ngày, tức 15 phút tròn, đây là giá trị 1 "khắc" 刻 vẫn đang được dùng tại Trung Quốc. "Khắc" 刻 trong Hán ngữ được khái quát hoá để gọi chung chung khoảng thời gian ngắn (cũng như "giây" và "phút" chỉ khoảng thời gian ngắn), hoặc mới tức khắc, tức thì, tức thời.
"Giờ" có gốc Hán "thì / thời" 時 và có thể gọi là âm "Việt hoá tiền Hán-Việt", tồn tại trước khi chuyển sang đọc là "thì / thời" 時. Nhưng vì sao Việt hoá mang âm đầu "gi"? Vì nhu cầu vay mượn từ để gọi giờ giấc nên ta có thể suy ra niên đại của việc vay mượn diễn ra rất sớm. "Thì" 時 mang âm đầu trong phiên thiết tiếng Hán là "thường" 常 /d͡ʑ/, phân biệt với âm đầu "thấu" 透 /tʰ/. Ở thời điểm đó, người Việt cổ vẫn dùng cách phát âm tương tự /d͡ʑ/ tiếng Hán trung cổ.
Âm này truyền đến tiếng Việt trung đại là "giờ", một số phương ngữ Bắc Trung bộ nói "giừ". Ta cần kết nối với bài "gi đã là gì?" của chuyên mục "Giải mã chữ quốc ngữ". Ở bài đó, ta đã làm rõ việc người phương Tây dùng tổ hợp "gi" để ghi lại một phụ âm "vòm hoá", chẳng hạn "giơ" của tiếng Việt trung đại sẽ phát âm như /kʲə/, hình dung âm *kyơ*.
Tổ hợp /kʲ/ có thể bị biến âm thành "ch" /c/ và các biến thể âm vị của nó, là điều từng xảy ra trong tiếng Quan thoại (nguồn gốc âm mang pinyin "j") và một số phương ngữ tiếng Triều Tiên / Hàn Quốc. Đây là lí do 1 số phương ngữ Bắc Trung bộ có thêm từ "chừ", gốc là "giừ", đồng nguyên với "giờ". Còn nay tiếng Việt hiện đại phát âm "gi" theo cách khác, tuỳ vùng miền.
Thời cổ xưa, thay vì Việt hoá thành âm "chờ" để gần âm tiếng Hán trung cổ của chữ "thì / thời" 時 (phục dựng: /d͡ʑiə/ nghe gần giống "chừa") đồng âm với từ "chờ" nghĩa là đợi (gốc Hán "đãi" 待 nghĩa là đợi, cũng như chữ "Hợi" 亥 cổ xưa nếu phiên thiết lần nữa sẽ cho ra âm "Hãi" nhưng không dùng), người xưa dùng âm "giờ" (*kyờ*) nghe gần giống.
Trong khi đó, chữ "thị" 市 nghĩa là chợ, cũng phiên thiết mang âm đầu "thường" 常 /d͡ʑ/ (nghe gần giống "ch") và cũng mang vần "chi" 之 (ngày xưa nghe như *iơ* /iə/ phân biệt vần "chi / chia" 支 /ie/ nghe như *iê* và vần "chi / chêi" 脂 /ij/ nghe như *êi*, thời sau chuẩn hoá cả 3 thành vần /i/) như chữ "thì / thời" 時. Nhưng "chợ" là âm Việt hoá tiền Hán-Việt của nó, chứ không dùng âm "giợ" (*kyợ*). Cùng xem âm Việt hoá của 3 dạng vần phiên thiết "chi" 之 - "chi" 支 - "chi" 脂.
1. Vần "chi" 之 /iə/ nghe như *iơ* hoặc *ưa*, đơn hoá thành *i* hoặc *ư* (tuỳ chữ) khi đọc chữ Nho
- "giờ" - "thì" 時
- "chợ" - "thị" 市
- "cờ" (lá cờ) - "kì" 旗
- "cờ" (trò cờ) - "kì" 棋 / 碁
- "thơ" - "thi" 詩
- "tơ" - "ti" 絲
- "hở" (hớn hở) - "hỉ" 喜
- "ngờ" - "nghi" 疑
2. Vần "chi" 支 /ie/ nghe gần như *iê*, *ia*, đơn hoá thành *i* khi đọc chữ Nho, vài chữ dùng *ư*
- "chia" - "chi" 支
- "lìa" - "li" 離
- "bia" (tấm bia) - "bi" 碑
- "bìa" - "bì" 皮
- "tía" (màu tía) - "tử" 紫 (phiên thiết vần "chi" 支, đáng ra âm "tỉ")
- "thìa" - "chìa" (chìa khoá, chìa vôi) - "thi / thì" 匙
- "kia" - "kìa" - "ki / kì" 其
- "nghĩa" 義 (âm phiên thiết: nghị; âm Việt hoá: nghì)
- "địa" 地 (âm phiên thiết: đị)
- "đìa" - "trì" 池 (chung vần kí âm 也 với chữ "địa" 地)
3. Vần "chi" 脂 /ij/ nghe gần như *êi*, *ây*, đơn hoá thành *i* khi đọc chữ Nho, vài chữ dùng *ư*
- "thây" - "thi" 尸 / 屍
- "mày" (lông mày) - "mi" 眉
- "mè" (rui mè) - "mi" 楣
- "chầy" (chầy kíp) - "trì" 遲
- "tây" (riêng tây, niềm tây) - "tư" 私
- "giầy" (bánh giầy) - "từ" 餈 / 糍 / 粢
- "ngậy" (béo ngậy) - "ngấy" (chán ngấy) - "nhị" 膩
Tóm lại, trong từ ghép "thì giờ" hay "thời giờ", thì "thì", "thời", "giờ" đều có cùng gốc Hán 時. Chữ này kí âm bằng chữ "tự" 寺 (chùa) và mang bộ "nhật" 日 (mặt trời, ngày).
--
Năm 1881, nhà triết học người Nhật Inoue Tetsujirō (井上 哲次郎 Inoue Triết-Thứ-Lang) trong công trình "Triết học tự vị" - "Tetsu-gaku ji-i" 哲學字彙 đã biên dịch khái niệm "time" của tiếng Anh thành "thời gian" - "ji-kan" 時間 (じかん) và "space" của tiếng Anh thành "không gian" - "kū-kan" 空間 (くうかん).
- thời 時: giờ
- không 空: hư không, trống không
- gian 間: khoảng.
Từ "thời gian" 時間 với nét nghĩa hiện đại vượt khỏi nghĩa đen trên mặt chữ đã phổ biến rộng ra các quốc gia khác trong vùng văn hoá Hán tự. Tiếng Hàn Quốc đọc là "shi-gan" 시간.
- Ung Chu -

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét