Thứ Hai, 24 tháng 2, 2025

ĐÔI ĐIỀU VỀ TỪ MINH THIỆN & "AN NAM HÀNH KÝ" (Dịch giả Châu Hải Đường)

Từ Minh Thiện, người Phồn Dương (nay là huyện Phồn Dương, Giang Tây), không rõ năm sinh năm mất. Theo "Giang Tây thi trưng" của Tăng Áo chép: Từ Minh Thiện tự Chí Hữu, hiệu Phương Cốc. Niên hiệu Chí Nguyên nhà Nguyên, làm Giang Tây hành sảnh Nho học đề cử, được Lý Tư Diễn tiến cử, nên có theo giúp trong sứ đoàn của nhà Nguyên sang An Nam, ông có "Phương Cốc tập" hai quyển.

"Toàn Nguyên thi" còn chép lại 4 bài thơ của Từ Minh Thiện, trong đó hai bài "Tá Lưỡng Sơn sứ Giao, xuân dạ quan kỳ tặng Thế tử" (Phụ tá Lưỡng Sơn đi sứ đất Giao, đêm xuân xem cờ, làm thơ tặng Thế tử), "Tịch thượng khẩu chiếm" (Ứng khẩu trên tiệc) là được làm trong thời gian đi sứ sang An Nam. Trong "Giang Tây thi trưng" quyển 26, nhan đề bài "Tịch thượng khẩu chiếm" được viết là: "An Nam thế tử Trần Nhật Huyên tịch gian sách thi, khẩu chiếm ứng chi." (Thế tử An Nam Trần Nhật Huyên trong buổi tiệc đòi thơ, bèn ứng khẩu sáng tác). 

Trần Diễn trong "Nguyên thi kỷ sự" có chép: “Từ Phương Cốc từng phụng sứ sang Giao Chỉ quốc, vương tử nước ấy là Trần Nhật Huyên nghe nói ông giỏi thơ, bèn nâng chén rượu lập tức đòi ngâm một bài, ông liền ứng khẩu làm. Nhật Huyên bèn nạp khoản phụng cống, thanh danh của ông vang dậy.” Ghi chép này tuy có khoa trương hơi quá, nhưng việc Minh Thiện làm những bài thơ này trong thời gian đi theo sứ đoàn sang An Nam là đáng tin cậy. 

Đặc biệt, việc theo sứ bộ sang Đại Việt lần ấy, đã được Từ Minh Thiện ghi chép lại trong "Thiên Nam hành ký" – một thiên ghi chép đáng quý, có thể giúp ích ít nhiều trong việc nghiên cứu lịch sử, cũng như quan hệ bang giao giữa nhà Nguyên và nhà Trần lúc bấy giờ. Năm 1288, lần thứ 3 kéo quân sang xâm lược nước ta và tiếp tục bị thất bại thảm hại, có lẽ nhà Nguyên đã phải nghĩ đến một cách thức ngoại giao mới với Đại Việt. Nhà Trần mà trực tiếp là hoàng đế Trần Nhân Tông cũng đã có những bước giao thiệp thông qua ngoại giao để vừa bảo vệ toàn vẹn giang sơn, chủ quyền, vừa lấy lại cuộc sống hòa bình cho nhân dân, dân tộc, bằng cách thông qua tấu biểu ngoại giao với lời lẽ khôn khéo, cùng việc cho sứ giả tiến cống phương vật. 

Tuy nhiên, nhiều cuộc khiển sứ của nhà Trần, cũng như sứ giả phương bắc sang nước ta, trong "Đại Việt Sử ký Toàn thư" (sau đây gọi là Toàn thư) không có ghi chép lại đầy đủ. Việc sứ đoàn Nguyễn Nghĩa Toàn của nhà Trần sang sứ nhà Nguyên, cũng như sứ đoàn Lưu Đình Trực, Lý Tư Diễn của nhà Nguyên sang sứ nhà Trần Toàn thư đều không có ghi chép. Trong "Nguyên sử - An Nam truyện" cũng chỉ chép ngắn gọn: (Năm Chí Nguyên thứ 25 – 1288) Nhật Huyên sai sứ sang tạ tội, tiến người vàng thế tội cho mình. Tháng Mười một, lấy bọn Lưu Đình Trực, Lý Tư Diễn, Vạn Nỗ đi sứ sang An Nam, đem chiếu dụ bảo Nhật Huyên sang chầu. 

"Việt Kiệu thư" – quyển V, Biên niên Nguyên thì chép về việc này rõ hơn một chút: “Năm ấy (Chí Nguyên 23, 1286), (Nhật Huyên) sai Đại phu Nguyễn Nghĩa Toàn, Nguyễn Đức Vinh sang cống. Triều đình thấy Thế tử không sang chầu, giữ Nghĩa Toàn lại Kinh sư.” (Năm Chí Nguyên 25, 1288) Tháng Mười một, lấy bọn Lưu Đình Trực, Lý Tư Diễn, Vạn Nô đi sứ sang An Nam, đem chiếu dụ bảo Nhật Huyên sang chầu. Năm Chí Nguyên thứ 26 (1289), Tháng Tư, Nhật Huyên sai bọn Đại phu Đàm Chúng, Trung đại phu Trần Khắc Dụng đến cống phương vật. Năm Chí Nguyên thứ 27 (1290), Trần Nhật Huyên chết, con là Nhật Tốn sai sứ sang cống. (Triều đình) mệnh cho Sơn Bắc Liêu Đông đạo Đề hình Án sát sứ Lưu Đình Trực, Lễ bộ Thị lang Lý Tư Diễn, Binh bộ thị lang Vạn Nô, dẫn sứ giả An Nam là Nguyễn Nghĩa Toàn về nước dụ chỉ." 

Tuy nhiên, đọc Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện, chúng ta sẽ thấy việc đưa bọn Nguyễn Nghĩa Toàn về nước là ngay trong lần sang sứ tháng Mười một năm Chí Nguyên thứ 25 (1288) của sứ đoàn Lưu Đình Trực, chứ không phải là năm thứ 27 (1290), đoạn này có lẽ "Việt Kiệu thư" đã chép thừa. "Thiên Nam hành ký" cũng ghi chép lại một số tấu biểu của nhà Trần, chỉ dụ của nhà Nguyên, cũng như hành trình thời gian, và các giao tế tiếp đón của nhà Trần với sứ đoàn nhà Nguyên khi ấy, trong đó có những chi tiết như vua Trần chỉ “đứng vái chào” và gặp mặt sứ giả thế nào .v.v. Đó có thể nói là những điểm bổ sung thêm vào những chỗ còn chưa ghi chép tới của các bộ chính sử hay tư liệu sử khác. 

Một điểm đặc sắc khác là, các đồ cống phẩm của nước ta, tuy không phải lần nào cũng giống nhau, song sử liệu Việt Nam cũng như Trung Quốc thường ghi chép khá chung chung, không cụ thể, có thể nói Thiên Nam hành ký là một tác phẩm hiếm hoi ghi lại đầy đủ danh mục, số lượng cũng như trọng lượng các loại lễ vật tiến công lên hoàng đế cũng như hoàng hậu nhà Nguyên trong lần tiến cống năm Chí Nguyên thứ 26 (tức năm Trùng Hưng thứ 5, đời Trần (1289). 

Qua danh mục những đồ vật tiến cống, người đọc hiện nay có thể thấy được sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở một góc độ nào đó. Ví dụ: trong các đồ cống phẩm lần này, chúng ta có thể thấy có các loại vải của nước Đồ Bà (Java), và Tây dương, điều ấy cho thấy sự phát triển của giao thương quốc tế dưới đời Trần. Hay sự xuất hiện của trang phục Hà phi đính vàng trong số cống phẩm, cũng sẽ giúp ích ít nhiều cho các bạn nghiên cứu về cổ trang, hay lịch sử trang phục, nó cho thấy Hà phi được dùng dưới đời Trần, và kỹ mỹ thuật trong việc chế tác cũng đã đạt được một trình độ tương đối cao. 

Còn sự xuất hiện của bàn cờ tướng và bộ quân cờ tướng bằng ngà voi, cũng cho thấy sự thịnh hành của môn thể thao này dưới đời Trần. Đặc biệt khi ta biết rằng Từ Minh Thiện còn có bài thơ Tá Lưỡng Sơn sứ Giao, xuân dạ quan kỳ tặng Thế tử (Phụ tá Lưỡng sơn đi sứ đất Giao, đêm xuân xem cờ, làm thơ tặng Thế tử) ở trên đã nói. "Thiên Nam hành ký" của Từ Minh Thiện vốn được Đào Tông Nghi đời Nguyên thu lục trong bộ Thuyết phu. Bản dịch lần này được chúng tôi tham khảo, đối chiếu, và dịch từ hai văn bản: văn bản thứ nhất là bản "Thiên Nam hành ký", được tập hợp in ảnh ấn trong bộ "Trung Quốc dã sử tập thành tục biên" – quyển 6, do Ủy ban biên soạn Trung Quốc dã sử tập thành tục biên, và Tứ Xuyên đại học đồ thư quán biên soạn, Ba Thục thư xã ấn hành năm 2000, khả năng là văn bản sớm hơn, nên những chỗ chúng tôi chú thích “Nguyên chép là ..” tức là văn bản này. 

Văn bản hai là bản "Thiên Nam hành ký" in trong quyển 56, bộ "Thuyết phu" của Đào Tông Nghi, thuộc "Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư" san định đời Thanh (gọi là bản Tứ khố). Cả hai bản hầu hết thống nhất, tuy nhiên cũng có một vài từ ngữ khác biệt, và đều có sai sót ít nhiều, chúng tôi đã cân nhắc từ cả hai bản để có một bản dịch tối ưu nhất. 

Song tuy đã cố gắng, nhưng vì trình độ còn nhiều hạn chế, cũng có đôi chỗ chúng tôi chưa giải quyết được hết, hoặc tạm dịch để độc giả biết. Những chỗ như thế, chúng tôi đều có chú thích cụ thể, rất mong được các bậc thạc học bổ chính thêm để chúng ta có một tư liệu tốt hơn cho mọi người./.
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...