Ở huyện Gia Bình, thuộc nam phần tỉnh Bắc Ninh có một ngọn núi duy nhất của cả vùng: núi Thiên Thai. Còn có tên khác là núi Đông Cứu. Chính xác hơn thì, đây là một dãy núi gồm chín ngọn nhấp nhô liền nhau. Truyền thuyết dân gian vùng này kể rằng, có một đàn rồng từ trên thiên giới bay xuống trời Nam tìm nơi làm ổ. Nhưng rồng chỉ bay về đêm, rạng sáng phải hoá đá mà ngừng lại đâu đó.
Khi đàn rồng theo mẹ trong đêm bay từ trời xuống dạo quanh non sông cẩm tú của nước Nam, rạng đông hạ mình xuống cửa bể Hạ Long tự nguyện làm thành luỹ muôn đời che chắn cho nước Việt. Thì một con rồng mải chơi không theo kịp bầy về biển, sáng ngày ra đã buộc phải hạ mình xuống cạnh dòng sông Thiên Đức, thành dãy núi Thiên Thai chín ngọn vươn mình về phía biển.
Nên núi Thiên Thai luôn là ngọn núi thiêng của dân quanh vùng. Tục lệ nơi đây, khi chôn cất người chết, họ đều để cho người thân của mình nhìn về phía núi, như một niềm ước vọng mọi người sau khi chết đi, sẽ được sống kiếp thần tiên, ngao du thanh thản ở cõi thiên thai cực lạc…
Thời Lý- Trần, nơi đây đã từng là một trung tâm Phật giáo sầm uất. Trên đỉnh núi có chùa Tĩnh Lự là nơi các vị vua chúa, vương hầu công tử về đọc kinh phật tìm sự thanh thản sau những sự vụ căng thẳng chốn cung đình. Đây cũng chính là ngôi chùa được Đại Việt Sử Ký toàn thư ghi nhận cho cuộc vi hành về núi Yên Tử lần đầu tiên của Trần Nhân Tông khi ngài còn đang là một thái tử trẻ tuổi.
Thật tiếc, vật đổi sao rời, cổ tự đã chìm lấp trong cỏ cây cát bụi, đá núi hết. Vườn hồng đào nổi tiếng thủa xưa của chùa Tĩnh Lự chỉ còn thấp thoáng trong lời kể của các bậc cao niên. Mùa xuân đến, có lên đỉnh Thiên Thai ngắm dòng sông Thiên Đức ngàn đời vẫn chảy xuôi, người ta đành chỉ biết hoài niệm quá vãng chưa xa của cha ông mà thôi…
Nhưng thật may, dưới chân núi Thiên Thai nay vẫn còn sót một cổ vật vô cùng đặc sắc: Bức tượng rồng đá- đã được xếp là bảo vật quốc gia. Đây là bức tượng một con rồng đá (hay mãng xà?) bằng đá sa thạch, có vẩy, mắt đang mở to dữ dội, miệng ngoạm sâu vào thân mình và những móng vuốt sắc của nó dường như cũng đang muốn xé tung thân thể ra! Đặc biệt, một bên tai được chạm thông nhưng một bên tai người nghệ sĩ lại để cho bít đặc! “Miệng cắn thân, chân xé mình, tai thông tai điếc”! Một pho tượng “linh thú” rất đặc sắc, sống động và đầy ẩn ý.
Theo dân địa phương kể lại, nơi phát lộ bức tượng dưới chân núi Thiên Thai chính là chỗ ngôi nhà xưa của Thái sư Lê Văn Thịnh (triều Lý), ở làng Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, sau khi ông mất đã “biến gia vi tự”, thành ngôi đền thờ ông. Quy mô từng khá lớn. Những năm tháng biến loạn của đất nước cũng đã khiến cho ngôi đền đổ nát dần đi như ngôi chùa cổ Tĩnh Lự trên núi. Tưởng như ngôi đền sẽ mất dấu và đi vào quên lãng. Rất may, đến những năm 1990 nhân dân quanh đó đi khơi mương dẫn nước dưới chân núi, đã tìm thấy. Và đưa về cạnh đền thờ Thái sư giữ gìn cẩn thận. Ngắm bức tượng rồng đá và suy ngẫm về cuộc đời vị Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh, những người có mối quan tâm với lịch sử dân tộc không thể không có những nỗi niềm ưu tư.
Lê Văn Thịnh sinh năm 1038 tại làng Bảo Tháp, xã Đông Cứu bên chân núi Thiên Thai. Mất ngày 24 tháng Chạp năm 1096 tại làng Đình Tổ cách đó chừng gần hai mươi ki lô mét. Sinh thời ông nổi tiếng học giỏi nhất vùng. Tại kỳ thi “Minh kinh bác học”, chọn người hiền tài giúp nước lần đầu tiên của nước Đại Việt, do triều Lý Nhân Tông mở ra năm 1075, ông đỗ đầu. Nên người đời thường gọi ông là “Trạng nguyên”. Cuộc đời làm quan của ông có hai sự tích nổi bật, đều được sử cũ ghi chép: năm 1084 Lê Văn Thịnh cầm đầu phái đoàn của Triều đình nhà Lý sang đàm phán với nhà Tống.
Tại cuộc đàm phá này, chỉ bằng những lý lẽ xác đáng và hùng hồn, ông đã khiến cho nhà Tống phải trả lại đất đai tại 6 huyện 3 động vùng châu Quảng Nguyên (Cao Bằng ngày nay), mà trước đó họ đã chiếm của nước ta. Đây thật sự là kỳ tích ngoại giao không những trong lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thời phong kiến mà ngay cả đến thời hiện đại cũng vậy, chưa từng có: chỉ bằng lý lẽ, lập luận chính xác, không phải động đến binh đao mà Lê Văn Thịnh đã đòi được cương thổ về cho nước nhà. Một chiến tích ngoại giao đúng là vô tiền khoáng hậu. Chỉ có thể bình như vậy mà thôi!
Dĩ nhiên trong cuộc đời làm quan dưới triều Lý của mình, Lê Văn Thịnh đã có nhiều đóng góp khác nữa cho nước nhà. Nên ông mới được phong là “Thái sư”. (thày dạy của nhà vua). Thế nhưng tại sao Lê Văn Thịnh lại vướng vào vụ án “hoá hổ giết vua ở hồ Dâm Đàm” tháng 11 năm 1095, như trong Đại Việt Sử Ký toàn thư đã chép?
Ngày nay chúng ta là những con người hiện đại, có tư duy logic và con mắt đánh giá khoa học biện chứng, nhìn lại sự việc thì thấy rõ ràng đó là việc hoang đường, vô lý. Thứ nhất, người không thể nào hoá ra hổ được. Thứ hai, Lê Văn Thịnh vốn là thày dạy của vua, rất được trọng vọng, vậy ông giết vua để làm gì? Bởi ông đủ thông minh để hiểu, làm vua là câu chuyện “thiên mệnh”, chứ không đơn thuần là số mệnh một cá nhân! Và thứ ba, nếu quả thực ông định giết vua thì, tội ấy đối với tất cả các triều đại phong kiến đều “tru di tam tộc”, chứ không phải chỉ đày đi Thao Giang! Mà chỉ đến năm sau (1096) ông đã được ân xá và chết trên đường về quê rồi!
Tất cả những suy luận trên đều đưa đến một kết luận: “Trạng nguyên Lê Văn Thịnh bị oan. Ông chính là nạn nhân của một cuộc đấu đá cung đình nào đó. Như nhiều nhà sử học nhận định, rất có thể Lê Văn Thịnh là nạn nhân của cuộc đấu giữa hai phe phái theo hai đường lối trị quốc lúc đó: một phe theo Phật giáo làm nền tảng, một phe lấy Nho giáo làm căn bản! Lê Văn Thịnh đại diện cho Nho giáo, nên đã bị trừng phạt, bởi phe Phật giáo khi đó đang cầm quyền trong triều Lý. Nhưng có lẽ ông vua nổi tiếng thông thái và nhân từ của triều Lý, đức ngài Lý Nhân Tông biết thầy dạy của mình bị oan, nên đã ân xá sớm. Chỉ tiếc vì tuổi cao sức yếu, Lê Văn Thịnh đã chết trên đường về quê. Nhưng vong linh ông cũng được mát mẻ: dân làng Đình Tổ khi ông yếu mệt ghé vào nghỉ đã chăm sóc chu đáo, nấu cháo nướng cá cho ăn. Rồi khi ông chết đã chôn cất và thờ ông làm thành hoàng làng từ bấy đến nay. Nay lăng mộ Lê Văn Thịnh vẫn còn ở làng Đình Tổ, Thuận Thành cách quê hương Bảo Tháp cũng không xa.
Nhưng dù những mù mờ của lịch sử theo thời gian sẽ dần được vén lên, nhưng cuộc đời của những người con đã góp công sức cho đất nước thì luôn được người dân ngưỡng mộ, thờ cúng, kính trọng, xót thương. Bức tượng rồng đá tạc thời hậu Lê “miệng cắn thân, chân xé mình” với một bên tai thông một bên tai điếc “đặc” của một người nghệ sĩ vô danh nào đó tạc, đã gửi gắm tất cả niềm tâm sự bi phẫn, những nỗi oan khuất của vị trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh lừng danh văn hay chữ tốt, một lòng trung trinh với non sông. Đó chính là lời minh giải sống động, hùng hồn của nhân dân muôn đời dành cho ông.
Giờ đây, đền thờ Lê Văn Thịnh đã được tu bổ khang trang. Bức tượng rồng đá danh bất hư truyền đã được lưu giữ cẩn thận. Hàng ngày, người dân và du khách thập phương vẫn đến nhang khói thường xuyên. Đặc biệt học sinh các trường học trong vùng và cả nước rất hay đến hành hương, bái lễ. Tôi dám chắc trong ngàn ngàn những người trẻ đến ngắm bức tượng rồng đá bất hủ kia, sẽ có rất rất nhiều người suy tư đau đáu về thân phận con người xưa nay trên đất Việt. Và từ những suy tư đó, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu tổ quốc sẽ được nhân lên nhiều lần nữa, hơn mọi bài giảng trong những cuốn sách giáo khoa khô khan.
Vậy thì các bạn trẻ, mùa xuân này tại sao không hành hương về núi Thiên Thai, ngắm sông Thiên Đức và cùng nhau chiêm nghiệm bên bức tượng rồng đá linh thiêng…

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét